Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2019

Công pháp quốc tế không theo “phe” nào trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo giữa VN và TQ

Công pháp quốc tế không theo “phe” nào trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo giữa VN và TQ

14-11-2019
“Công pháp quốc tế” được thành hình trên nền tảng những kết ước, tức là “sự đồng thuận” giữa các quốc gia. Không có sự “đồng thuận” giữa các quốc gia thì không có “Công pháp quốc tế”.
Hệ thống luật pháp trong Công pháp quốc tế vì vậy bao gồm các công ước nền tảng, được hầu hết các quốc gia “đồng thuận”, như Hiến chương LHQ, hay các công ước quốc tế khác như Công ước Vienne về hiệu lực các công ước hay về việc kế thừa quốc gia, Công ước quốc tế về luật Biển (UNCLOS 1982) v.v…
Dựa trên các kết ước nền tảng một số các định chế pháp lý quốc tế cũng được thành hình. Hiến chương LHQ là nền tảng cho sự thành lập của Tòa công lý quốc tế (ICJ). Trong khi Công ước quốc tế về Luật Biển (UNCLOS 1982) phát sinh ra Tòa án quốc tế về luật biển (ITLOS).
Tranh chấp giữa VN và TQ về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo… Yêu sách của bên nào cũng dựa trên cái “lý” của bên đó. Dư luận quốc tế sẽ ủng hộ bên mà họ thấy “có lý” hơn.
Diễn giải một sự kiện lịch sử hay pháp lý theo cái “lý” của nó, không hề là thái độ thân bên này hay bên kia mà đó là thái độ khoa học cần thiết, trước hết của người trí thức, sau đó là thái độ phải có của các học giả nghiên cứu về chủ quyền biển đảo.
Tranh chấp về lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa giữa VN và TQ, ngoài cách giải quyết bằng “cái lý của kẻ mạnh”, hai bên có thể “đồng thuận” để giải quyết tranh chấp bằng một phương tiện “pháp lý”, như Tòa Công lý quốc tế.
Vấn đề là “cái lý” cũng tạo nên sức mạnh.
“Cái lý” của TQ là sự “đồng thuận” của nhà nước VNDCCH về chủ quyền HS và TS thuộc về TQ. Công hàm (hay văn thư, văn kiện, ý kiến v.v…) của ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958 là “bằng chứng” về sự “đồng thuận” này.
Cái lý của VN là trong suốt chiều dài lịch sử của quốc gia tên gọi VN, trong bất kỳ thời điểm nào cũng hiện hữu một nhà nước VN làm chủ, quản lý và khai thác hai quần đảo HS và TS. Trong thời kỳ VNDCCH “nhìn nhận” chủ quyền HS và TS thuộc TQ thì có một nhà nước VN khác, đó là Quốc gia Việt Nam và VNCH liên tục làm chủ, quản lý và khai thác hai quần đảo này.
Cái “lý”, cái mạnh của TQ dựa trên sự “đồng thuận” của hai “quốc gia”, nếu VN có quan điểm VNDCCH là một “quốc gia”. Văn kiện 1958 trở thành một “vấn đề thuộc phạm vi công pháp quốc tế”, có hiệu lực ràng buộc.
Cái lý, cái mạnh của VN, là VNDCCH chưa phải là một “quốc gia” đúng nghĩa. VNDCCH cũng như VNCH đều là các “quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel”, cả hai cùng thuộc về một “quốc gia duy nhứt” là Việt Nam (khẳng định qua hai hiệp định quốc tế Genève 1954 và Paris 1973). “Quốc gia chưa hoàn tất” không phải, hay chưa phải là “quốc gia”. Công hàm 1958 vì vậy không thuộc phạm vi “công pháp quốc tế”. Sự “đồng thuận” giữa VN và TQ chưa cấu thành “luật” (quốc tế).
Ý kiến trên đây của tôi đưa ra từ hơn thập niên đến nay vẫn còn là “giả thuyết”, vì nhà nước VN hiện nay vẫn chưa có thủ tục “kế thừa” di sản của VNCH một cách hợp lý, hợp pháp.
Tức là, VN vẫn chưa “có lý” trong việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở HS và TS.
Nói hết “cái lý”, bằng những bằng chứng pháp lý và lịch sử, không phải là “Tàu” hay “Hán nô”. Những kẻ không dám nhìn thẳng vào sự thật, không dám đương đầu với “công lý”, với thái độ đà điểu và các phương thức “chụp mũ”, liệu đó là phương cách hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.