Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

Nhà thờ Bùi Chu và đóng góp của Công giáo cho xã hội VN

Nhà thờ Bùi Chu và đóng góp của Công giáo cho xã hội VN


bùi chuBản quyền hình ảnhTHINH NGUYEN
Image captionNgười thợ mộc làng Hai Giáp đang điêu khắc kèo chuẩn bị cho Nhà thờ Bùi Chu mới

Báo chí chính thống, mạng xã hội và dư luận Việt Nam nói chung đang quan tâm rất nhiều đến Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Bùi Chu ở Nam Định. 
Một bản tin ngày 17/4 trên trang web của Giáo phận cho biết ngôi thánh đường 134 tuổi sẽ phải hạ giải vào ngày 13/05 này. Như bản tin này viết, quyết định hạ giải nhà thờ là một chuyện không dễ dàng đối với Giáo phận Bùi Chu vì "nhà thờ Chính Toà cổ kính, gắn chặt với những thăng trầm của đời sống đức tin giáo phận suốt trên 100 năm."
Trả lời Báo Tiền Phong hôm 4/5, Đức Giám mục Giáo phận Bùi Chu Thomas Vũ Ðình Hiệu cho biết "nhà thờ đã xuống cấp nghiêm trọng". 
Ngài cũng nhấn mạnh: "Việc tụ họp hàng nghìn giáo dân để dâng lễ trong khi đó nguy cơ sụp đổ, mất an toàn rất dễ xảy ra. Chính vì thế việc chúng tôi đưa lên hàng đầu vẫn là đảm bảo an toàn tiếp đó là mục đích thờ phượng, sau đó mới tính đến các giá trị khác như kiến trúc, di sản."

'Nhà thờ Bùi Chu: Công trình đặc sắc'

Nhưng vì coi đó là một công trình kiến trúc đặc sắc, là một di sản văn hóa, tinh thần quý, đáng trân trọng, nên được bảo tồn, trong mấy ngày qua nhiều nhân sỹ, trí thức đã gửi thư đến Chính phủ Việt Nam, Tòa thánh Vatican hay Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) xin can thiệp để duy trì, bảo tồn nó.
Chẳng hạn, một số kiến trúc sư, nhà bảo tồn di sản đã gửi đơn tới Thủ tướng, Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) và Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định, đề nghị xem xét can thiệp giữ lại ngôi thánh đường. Đơn thư ấy viết ngôi nhà thờ được xây dựng từ năm 1885 "là di sản kiến trúc nghệ thuật và văn hóa, được cha ông từ đời trước dày công tạo dựng một tác phẩm kiến trúc độc đáo không nơi nào ở Việt Nam có được, thuộc hàng di sản văn hóa quốc gia".

bui chuBản quyền hình ảnhGPBUICHU.ORG

Nhóm Bảo vệ di sản Việt Nam (Save Heritage VietNam) cũng gửi thỉnh nguyện thư đến Đức Giáo hoàng Francis, xin ngài giải cứu nhà thờ. Trong thư, nhóm cho rằng "không thể mô tả toàn diện vẻ đẹp với lối kiến trúc pha trộn Đông Dương bản địa và Ba Rốc (Tây Ban Nha) và trên hết là các giá trị phi vật thể trong lịch sử của ngôi thánh đường này". 
Trước sự quan tâm của dư luận nói chung và của các kiến trúc sư, nhà bảo tồn văn hóa, Bộ VH-TT-DL cũng đã vào cuộc. Hôm 7/5, một thứ trưởng của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch cũng đã dẫn đầu đoàn công tác của bộ này đi khảo sát thực tế tại nhà thờ Bùi Chu và làm việc với chủ tịch UBND tỉnh Nam Định.
Từ trước tới giờ ở Việt Nam hiếm khi, nếu không muốn nói là chưa bao giờ, có một sự quan tâm, phản ứng tích cực, rộng rãi như vậy về một công trình kiến trúc - hay một hoạt động, đóng góp nào đó - của Giáo hội Công giáo ở Việt Nam.
Vì không phải là lĩnh vực chuyên môn, tôi không dám bàn đến chuyện nên hạ giải để xây dựng lại Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu hay đại trùng tu để bảo tồn ngôi thánh đường cổ kính này. 
Nhưng là một người Công giáo, tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy vui vui về phản ứng đó vì xem ra những đóng góp của Giáo hội - ít nhất về kiến trúc - đối với đất nước Việt Nam đang được ghi nhận, coi trọng.
Ngoài việc mang đức tin hay một nền văn minh (tình thương) đến Việt Nam, Kitô giáo cũng đem đến cho đất nước này nhiều thứ giá trị khác.

Những kiến trúc độc đáo

Nhà thơ Bùi Chu được bắt đầu xây dựng năm 1884 dưới thời Đức Giám mục Wenceslao Onate Thuận, một người Tây Ban Nha.
Ngoài Nhà thờ Bùi Chu, còn có nhiều công trình kiến trúc Công giáo có giá trị khác được khởi công xây dựng vào khoảng thời gian đó - như Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (năm 1887) và Nhà thờ Chính tòa (hay còn gọi là nhà thờ đá) Phát Diệm ở Ninh Bình (năm 1892). 

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhà thờ Đức Bà Sài Gòn được xây dựng vào năm 1887

Dù ít được biết đến, ở Yên Thành, Nghệ An có nhà thờ đá Bảo Nham. Nhà thờ đá duy nhất ở Nghệ An và cũng là một công trình kiến trúc kiểu Gothic độc đáo này được cha Adolphe Klinglé, một linh mục người Pháp, còn được biết với cái tên Cố Thông, khởi công xây dựng năm 1888.
Nhưng những nhà thờ cổ kính - hay các công trình kiến trúc độc đáo mang đậm phong cách châu Âu hay kết hợp văn hóa Đông Tây rất có giá trị - chỉ là bề nổi và một phần nhỏ mà Kitô giáo đã và đang mang đến cho Việt Nam. 

Ngôn ngữ

Một đóng góp rất ý nghĩa, to lớn khác của người Công giáo - mà đến giờ nhiều người ở Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ vẫn không biết - là chữ quốc ngữ. 
Nếu không có cha Alexandre de Rhodes và các giáo sỹ phương Tây khác, chắc nhiều người Việt đã, đang và sẽ phải mù chữ vì chữ Hán hay chữ Nôm rất khó học. Và nếu không có Tiếng Việt, một ngôn ngữ riêng cho chính mình, chắc chắn Việt Nam còn lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc và như vậy vấn đề thoát Trung đối với Việt Nam đã khó lại càng khó.
Nhưng, phần lớn vì hiềm khích hay nghi kỵ, vai trò, đóng góp của Giáo hội tại Việt Nam thường bị xem nhẹ, lãng quên.
Có những giai đoạn, đạo Công giáo bị coi là đạo của người Tây, là tà giáo, tả đạo và tất cả những gì liên quan đến Giáo hội đều bị coi là ngoại lai và bị khinh bỉ, loại bỏ. 
Trong ba thế kỷ (từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX), đặc biệt dưới thời vua Minh Mạng (1820-1841), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Ðức (1848-1883), nhiều người Công giáo đã bị bắt bớ, giam cầm, giết hại tàn nhẫn. 
Năm 1988, Đức Giáo hoàng - và nay là Thánh - John Paul II, phong Thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam, trong đó có 96 vị là người Việt Nam, 10 vị thuộc Hội Thừa sai Paris, Pháp và 11 vị thuộc dòng Ða minh Tây Ban Nha. Trong số 96 người Việt, có đến 32 vị thuộc tỉnh Nam Định.
Dù giờ không còn bị bắt bớ, bách hại như trước, người Công giáo và những cống hiến của họ cũng chưa được hoàn toàn ghi nhận, coi trọng.
Tại một buổi tọa đàm ở Hà Nội Đầu tháng Tư vừa rồi, Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, đại học Liège, Vương quốc Bỉ, đã đưa ra một số đề xuất nhằm vinh danh linh mục Alexandre de Rhodes và chữ quốc ngữ - như chọn ngày 5/11 (ngày mất của cha Alexandre de Rhodes) làm ngày "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" hay xây dựng một không gian để bảo tồn chữ quốc ngữ. 
Không biết những đề xuất, ý nguyện ấy có được lắng nghe, thực hiện hay không. Nhưng đáng lẽ ra những việc làm như vậy phải được Chính phủ hay cơ quan, tổ chức nhà nước của Việt Nam tiến hành từ lâu. Nhưng vì nghi kỵ, những đóng góp to lớn của cha Alexandre de Rhodes vẫn chưa được công nhận. 

Giáo dục

Một thế mạnh, ưu tiên và cũng là lĩnh vực khác Giáo hội được mời gọi dấn thân là giáo dục - không chỉ về đức tin, nhân bản, luân lý mà còn về nhiều lĩnh vực khác nhằm thăng tiến con người, phát triển xã hội, đất nước. 
Cũng vì vậy, trước đây ở Việt Nam, ngoài các nhà trẻ, có đến cả ngàn trường Công giáo đủ mọi cấp (từ tiểu học đến đại học), thuộc đủ loại, đủ ngành (như từ trường y, trường dạy nghề đến trường dành cho người khiếm thị khiếm thính, trường miễn phí cho sinh viên, học sinh nghèo), và tiếp nhận học sinh, sinh viên từ mọi thành phần trong xã hội, không phân biệt tôn giáo.
Chẳng hạn, một tổng kết về tình hình Giáo hội Việt Nam năm 1962-1963 cho thấy lúc đó Giáo hội có đến 93 trường trung học (với hơn 60 ngàn học sinh) và 1122 trường tiểu học (với gần 235 ngàn học sinh).
Theo một thống kê khác, trước 1975 ở miền Nam có đến 145 trường trung học và 1060 trường tiểu học Công giáo. Ngoài ra, còn có những đại học Công giáo, như Giáo hoàng Học viện ở Đà Lạt, Viện Đại học Minh Đức, Đại học Thành Nhân và Đại học La San ở Sài Gòn.
Nhưng sau 1954 ở miền Bắc và sau 1975 tại miền Nam các trường Công giáo lần lượt đều phải đóng cửa. Hầu hết trường học, cơ sở giáo dục bị tịch thu và Giáo hội không còn được tham gia vào lĩnh vực giáo dục.
Thậm chí, sau này, khi chính quyền Việt Nam không còn 'độc quyền' giáo dục và 'xã hội hóa' lĩnh vực này, cho phép 'tư nhân, thậm chí người nước ngoài, có quyền mở trường tư thục' - như Thư Chung về Giáo dục Kitô Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam năm 2007 nêu - Giáo hội Công giáo vẫn phải 'đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt Nam'.
Mãi tới năm 2016, một Học viện Công giáo mới được chính thức mở cửa. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1975, một trường Công giáo ở cấp trung học hay đại học được thành lập và công khai hoạt động.
Vì luôn muốn thông phần vào việc mở mang và phát huy nền giáo dục, không ngạc nhiên tại những quốc gia tự do, dân chủ, Giáo hội Công giáo luôn tham gia rất tích cực vào lĩnh vực này.
Các nước châu Á - như Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Philippines - đều có nhiều trường đại học Công giáo. Nhiều trường - như Catholic University of Korea ở Nam Hàn, Fu Jen Catholic University ở Đài Loan hay De la Salle University ở Philippines - được xếp hạng cao tại những quốc gia đó.
Nếu Giáo hội được tự do tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực giáo dục ở miền Bắc sau năm 1954 hay ở miền Nam sau 1975, chắc chắn giờ ở Việt Nam cũng có một số đại học Công giáo có uy tín như tại những quốc gia châu Á trên.
Với việc dư luận nói chung và các kiến trúc sư, nhà bảo tồn văn hóa đánh giá cao Nhà thờ Bùi Chu, lên tiếng xin cứu giải, bảo tồn nó và cũng vì vậy, chính quyền Việt Nam đã vào cuộc và tới xem xét, khảo sát, đánh giá, hy vọng rằng xã hội, chính quyền Việt Nam sẽ có một cái nhìn khác và tích cực hơn về Giáo hội Công giáo, về những đóng góp, vai trò của Giáo hội trong đời sống xã hội, trong việc phát triển đất nước.
Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một cây bút người Công giáo hiện đang sinh sống và làm việc tại Birmingham, Anh Quốc.

Tin liên quan

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2019

Giáo đường Do Thái được người Hồi giáo coi sóc ở Ấn Độ

Giáo đường Do Thái được người Hồi giáo coi sóc ở Ấn Độ

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Trong suốt hơn 100 năm qua, các giáo đường Do Thái ở Kolkata, Ấn Độ, đã được người Hồi giáo coi sóc, phản ánh tình bằng hữu, hoà hợp tôn giáo.

Sự ra đời của cộng đồng 'Baghdadis'

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Trong gần 140 năm, từ 1772 đến 1911, Kolkata là thủ đô của Ấn Độ thuộc Anh - một thành phố thương mại nhộn nhịp bên bờ sông Hugli ở miền trung Tây Bengal. 
Vị trí chiến lược của nó, cách Vịnh Bengal khoảng 150km về phía thượng nguồn, không chỉ mang lại hoạt động ngoại thương nhộn nhịp mà còn thu hút cả nhiều cộng đồng nước ngoài tới sinh sống ở thành phố thịnh vượng này, từ người Hoa cho đến người Armenia, đến người Hy Lạp. 
Trong số đó, có người Do Thái đến từ Trung Đông.
Được biết đến với cái tên 'người Baghdadis', hay 'người Do Thái Baghdad', gọi theo nguồn gốc của họ, vốn là những nơi mà nay là Iraq, Syria và những nơi khác nói tiếng Ả Rập, dân nhập cư Do Thái bắt đầu định cư ở Kolkata vào năm 1798, sau khi một thương nhân có tên là Shalom Cohen tới đây để tìm cách làm giàu. 
Cùng với sự thành công của Cohen trong việc buôn bán kim cương, lụa, thuốc nhuộm chàm, thuốc phiện và bông, dân số Do Thái ở Kolkata cũng tăng lên nhanh chóng. Đến đầu thập niên 1900, đã có hàng ngàn người Do Thái đã sống hòa thuận bên cạnh người Ấn giáo và Hồi giáo.

Dần biến mất

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Sau Đại chiến Thế giới lần thứ hai, có tới 5.000 người Do Thái cư trú ở Kolkata. 
Trong thời kỳ hoàng kim của cộng đồng này, hồi thập niên 1940, Kolkata là nơi có năm giáo đường Do Thái cùng nhiều cơ sở kinh doanh, các tờ báo và trường học của người Do Thái. 
Ngày nay, những gì từng là cộng đồng Do Thái giáo lớn nhất Ấn Độ đã giảm xuống chỉ còn chưa tới 24 người, bởi nhiều người Do Thái Baghdad đã di cư sang Israel, Mỹ, Anh, Canada và Úc.
Tuy nhiên, trong khi dân số Do Thái ở Ấn Độ ngày càng già đi, ít người đi, thì cộng đồng còn lại vẫn tiếp tục truyền thống đa văn hóa tồn tại trong ba thế hệ trước: ba toà nhà thờ cúng còn lại của họ được duy trì, chăm sóc bởi những người đàn ông Hồi giáo.

Đa tôn giáo

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Leo lên cầu thang bằng đá cẩm thạch và đẩy qua cửa sổ kính màu của Giáo đường Do Thái giáo Beth El trong thành phố Kolkata, được xây dựng vào năm 1856, du khách có thể bắt gặp một cảnh tượng hiếm có: một nhóm bốn người đàn ông Hồi giáo mặc áo trắng đang đánh bóng ban công gỗ, quét sàn nhà bằng đá cẩm thạch để đảm bảo rằng Ngôi sao David và cỗ chân nến menorah bảy nhánh trang trí mặt tiền màu cát của tòa nhà được sạch sẽ.
Một số người, chẳng hạn như Siraj Khan, người Hồi giáo thuộc thế hệ thứ ba của một gia đình đã chăm nom bảo dưỡng giáo đường Do Thái này từ suốt hơn 120 năm qua, đã lớn lên cùng với vài thành viên còn lại của Beth El. 
Theo AM Cohen, tổng thư ký của Cộng đồng Do Thái tại thành phố Kolkata, Khan và những người Hồi giáo khác chăm sóc các giáo đường Do Thái trong thành phố được coi là một phần của đại gia đình cộng đồng Do Thái nơi đây.

Mối liên hệ tôn giáo

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Chỉ cách Beth El 300m, một trong những giáo đường Do Thái còn lại ở Kolkata là Magen David, một tòa nhà gạch đỏ kiểu Ý thời Phục Hưng, cũng được duy trì bởi bốn người đàn ông Hồi giáo từ bốn gia đình khác nhau. Đó là các gia đình đã trông nom ngôi đền qua nhiều thế hệ. 
Giống như tại Beth El, sau khi mở khóa cửa và bật đèn bàn thờ chiếu sáng dòng chữ Hebrew thể hiện Mười Điều Răn, những người coi sóc giáo đường Do Thái này thường tập trung tại khu vực sân, trải tấm thảm cầu nguyện, hướng về phía Mecca và phủ phục xuống lễ lạy Đấng Allah.
Theo Jael Silliman, một trong những người Do Thái cuối cùng còn ở Kolkata và là tác giả của kho lưu trữ kỹ thuật số Nhớ lại Người Do Thái ở Calcutta, nơi lưu giữ những ký ức và di sản của cộng đồng Do Thái ở thành phố, thì luôn có sự quen thuộc về văn hóa giữa người Hồi giáo và người Do Thái ở Kolkata, bởi những người nhập cư Do Thái đầu tiên vào thành phố đã nói thứ tiếng Ả Rập - Do Thái, và mặc trang phục Ả Rập.
Bên ngoài Kolkata, hai tôn giáo này còn có Đại chiến Thế giới lần thứ hai, nhiều người Do Thái châu Âu đã chạy trốn khỏi Đức Quốc xã và tìm được nơi ẩn náu an toàn ở Kolkata. Giống như những lớp người Trung Đông gốc Do Thái đi trước, những người tị nạn châu Âu mới đến này sớm nhận thấy rằng họ có nhiều điểm tương đồng với người Hồi giáo, những người tạo nên nhóm sắc tộc thiểu số đông nhất ở Kolkata - từ sự tương đồng giữa thức ăn kosher của người Do Thái và thức ăn halal của người Hồi giáo với âm nhạc và những điệu nhảy của hai bên.

Tình yêu mến gắn bó đặc biệt

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
"Chúa Trời ở khắp nơi nơi, tại nhà thờ Hồi giáo, đền thờ, nhà thờ Thiên chúa hay giáo đường Do Thái. Làm việc trong giáo đường kỳ quặc này cũng chính là phụng sự Chúa Trời, và tôi hết lòng tận tâm," ông Khan (trong ảnh) nói. Ông nội và cha của ông từng coi sóc Giáo đường Do Thái Beth El, nay đến lượt ông và anh trai đảm nhiệm công việc đó.
"Gọi Ngài dưới cái tên nào, hay Ngài được thể hiện dưới hình thức nào, điều đó không gây nên sự khác biệt gì khi được thể hiện bằng ngôn ngữ của tình yêu và lòng tốt. Và tình yêu mến gắn bó đặc biệt này là những gì tôi cảm nhận được đối với giáo đường Do Thái này."
'Nồi đun chảy'
Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Tây Bengal là nơi tập trung người Hồi giáo đông thứ ba tại Ấn Độ, và thủ phủ Kolkata của bang này luôn là nơi dung chứa sự khoan dung tôn giáo. Trong khi phần lớn trong tổng số dân 4,5 triệu người là người theo Ấn giáo, nhưng người Hồi giáo, Cơ đốc giáo, Do Thái giáo, Phật giáo và đạo Sikh từ khắp nơi trên thế giới từ lâu nay đã cùng sống hài hoà bên nhau trong 'Thành phố Hân hoan' này.
Ngày nay, chuyện người Ấn giáo tham gia cùng người Hồi giáo ăn mừng lễ Eid-Al-Adha, tức 'Lễ Hiến sinh' - một trong những ngày lễ Hồi giáo linh thiêng nhất, không phải là chuyện hiếm. Trường nữ sinh Do Thái, được thành lập tại Kolkata năm 1881 nay chủ yếu học sinh là người Hồi giáo. Và hàng năm trong lễ kỷ niệm Durga Puja thiêng liêng của Ấn giáo và lễ Giáng sinh của Kitô giáo, một biển người Bengal, bất kể tôn giáo, thường xuyên đổ xuống đường nhảy múa, ăn mừng.

Tàn lụi

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Theo AM Cohen, có một vài yếu tố dẫn đến việc dân số Do Thái ở Kolkata biến mất sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.
Đầu tiên, việc Ấn Độ giành độc lập từ Anh vào năm 1947 báo hiệu một thời gian bất định cho người Do Thái ở Ấn Độ. Các ngân hàng, công ty bị quốc hữu hóa; nhiều chủ sở hữu người Do Thái lo sợ tài sản của họ có thể bị chính phủ Ấn Độ tịch thu nên đã quyết định rời sang Anh hoặc Mỹ.
Ngoài ra, việc thành lập nhà nước Israel năm 1948 đã thúc đẩy người Do Thái ở Ấn Độ và từ khắp nơi trên thế giới di cư tới đất nước mới.

Tương lai bất định

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Ngày nay, dân số người Do Thái ở Kolkata đang ngày càng giảm dần phải đối mặt với một tương lai rất không chắc chắn. 
Tuy cả hai giáo đường Beth El và Magen David hiện được công nhận là tòa nhà di sản được Cơ quan Khảo sát Khảo cổ Ấn Độ bảo vệ, nhưng chúng, cùng với giáo đường Do Thái cổ nhất trong thành phố là Neveh Shalom - đã không thực hiện các buổi lễ cầu nguyện thứ Bảy một cách thường xuyên kể từ cuối những năm 1980 tới nay. Lý do là bởi có quá ít tín đồ tham dự. 
Theo quy định về giáo đoàn Do Thái giáo thì cần có 10 người đàn ông trưởng thành hiện diện để thực hiện nghi lễ cầu nguyện nơi công cộng, và hiện không có đủ số lượng đó tới các giáo đường.
Vào những năm 1940, Ian Zachariah, thủ quỹ của Quỹ Emunah của Người Do Thái tại Calcutta (Emunah Calcutta Jewish Trust), nhớ rằng những chiếc ghế gỗ tại các giáo đường Do Thái ở thành phố Kolkata đã từng phục vụ hàng trăm tín đồ trong các ngày lễ thiêng Rosh Hashanah ('ngày đầu năm') và Yom Kippur ('lễ chuộc tội'). 
Ngày nay, ba giáo đường này chỉ được mở theo một cuộc hẹn đặc biệt hoặc bằng cách yêu cầu một trong những người Hồi giáo coi sóc nơi đó, những người được Quỹ Emunah của Người Do Thái tại Calcutta trả tiền để làm nhiệm vụ dọn dẹp, cho vào.
Trong số khoảng 24 người Do Thái còn đang sống ở Kolkata, hầu hết đều đã trên 50 tuổi, đa phần đều lớn tuổi hơn những người anh em Hồi giáo làm công việc coi sóc các giáo đường.

Cảm hứng Ấn Độ

Kalpana PradhanBản quyền hình ảnhKALPANA PRADHAN
Khi bạo lực và căng thẳng chính trị chống lại người Do Thái và Hồi giáo tiếp tục thu hút sự chú ý trên khắp thế giới, thì việc có những người Hồi giáo ở Kolkata coi sóc các giáo đường Do Thái một cách tận tâm là một lời nhắc nhở rằng hai cộng đồng này có nhiều điểm chung và và là điều nêu bật tầm quan trọng của việc yêu thương láng giềng.
Dân số Do Thái ở Kolkata có thể sớm biến mất, nhưng chừng nào còn ai đó chăm sóc các giáo đường Do Thái nơi đó, mở cửa dọn dẹp và cho du khách vào trong, thì một phần di sản của họ sẽ còn tồn tại, nhờ sự tận tâm của các huynh đệ Hồi giáo.
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Chủ đề liên quan

Tin liên quan