Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Vua Trần Nhân Tông và Cuộc chiến chống Nguyên – Mông

 

Vua Trần Nhân Tông và Cuộc chiến chống Nguyên – Mông

Nguyệt Quỳnh

24-9-2020

Đầy sách giường song chếch bóng đèn

Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm 

Tiếng chày thức dậy đâu không biết 

Hoa mộc trên cành trăng mới lên

Đêm khuya, ánh trăng luồn qua song cửa nơi chiếc giường tre đầy sách, có tiếng rơi nhẹ của sương thu trên lá cây trước sân nhà, có tiếng chày nện vải từ một ngôi làng dệt vải nào xa xăm, … bài thơ đã vẽ nên một khung cảnh của một đêm trăng thanh bình.

Người đọc có lẽ đoán rằng tác giả là một văn nhân, một nhà thơ hay một thiền sư. Nhưng tác giả, vua Trần Nhân Tông, cũng chính là một nhà quân sự lỗi lạc, một vị minh quân đã dẫn dắt Đại Việt qua hai cuộc chiến tranh chống lại đế quốc Nguyên Mông năm 1285 và năm 1288.

Là vị vua thứ ba của nhà Trần, thái tử Trần Khâm, con trưởng của vua Thánh Tông và thái hậu Nguyên Thánh sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Nguyên Phong thứ 8, năm 1258. Khi còn trẻ, nhà vua học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển, ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc.

Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh ra, lớn lên trong một đất nước thái bình. Năm vua ra đời cũng chính là thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược của đế chế Nguyên Mông lần đầu tiên trên đất nước ta.

Hai mươi năm tiếp theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao của Đại Việt để vừa bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa mang lại nền hòa bình cho người dân có cơ hội sinh sống, vừa chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Chuyện kể rằng, vào một ngày xuân trước cuộc chiến tranh năm 1285, vua Trần Nhân Tông đến thăm lăng mộ của ông nội. Cảm cái hào khí của cuộc chiến thắng quân Mông Cổ những năm Nguyên Phong xưa, ngài đề mấy câu thơ bằng chữ Hán, tạm dịch như sau:

Hùm gấu nghiêm nghìn cửa 

Áo mão bảy phẩm đầy 

Lính bạc đầu còn đó 

Nguyên Phong mãi kể say

Nhà vua là người khoan từ, hòa nhã, không thích chiến tranh nhưng nhà vua cũng là một nhà quân sự tài ba. Sử chép rằng sau chiến thắng quân Nguyên, nhà vua quyết định thân chinh đi đánh dẹp Ai Lao. Triều thần ngăn lại, tâu rằng:

– Giặc Nguyên vừa rút lui, vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh?

Vua đáp:

– Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, vì sau khi giặc rút lui thì ba vùng (Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp) tất cho rằng quân ngựa và của cải ta đã bị tan mất. Sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên phải đem đại quân đi để thị uy.

Quần thần đều cho là phải nói:

– Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần nghĩ kịp được.

Trong cuộc xâm lăng lần thứ hai của quân Nguyên, trước thế giặc quá mạnh, mặt trận Nội Bàn do chính Hưng Đạo Vương chỉ huy tan vỡ. Nhà vua đã nhịn đói cả ngày giong thuyền đến gặp Hưng Đạo Vương để bàn chuyện.

Không biết Hưng Đạo Vương và nhà vua đã bàn luận gì trong cuộc hội kiến chớp nhoáng ở Hải Đông. Nhưng sau cuộc gặp đó Đại Việt Sử Ký toàn thư đã ghi: “Hưng Đạo Vương vâng lệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm, chọn người mạnh khỏe làm quân tiên phong vượt biển vào nam. Thế quân đã hơi nổi. Các quân nghe thế, không quân nào là không đến tụ họp”.

Trước khi rời đi, nhà vua làm thơ đề ở cuối thuyền rằng:

Cối Kê việc cũ ông nên nhớ

Hoan Ái vẫn còn mười vạn quân

Hai câu thơ cho thấy vua Trần Nhân Tông viết để nhắn gửi Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh thời bấy giờ. Về “việc cũ Cối Kê”, tức việc Câu Tiễn nước Việt xưa bị Phù Sai nước Ngô đánh bại, nhưng cuối cùng qua gian khổ, nhịn nhục, đã vùng lên tiêu diệt Phù Sai để chiến thắng. Nhà vua còn động viên các tướng lĩnh bằng cách báo cho họ biết rằng lực lượng ta vẫn còn 10 vạn quân tại Hoan Ái sẵn sàng bổ sung vào chiến đấu. Xem qua việc này chứng tỏ nhà vua đi sát và nắm vững tình hình chiến trận, cũng như tinh thần của quân sĩ.

Trong cuộc đời mình, vua Trần Nhân Tông đã từng sống qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nên hơn ai hết đã hiểu thế nào là những nỗi khổ do chiến tranh đem lại cho phía ta cũng như phía địch. Việc nhà vua cởi áo ngự bào, phủ lên thủ cấp của tên tướng giặc Toa Đô mới bị quân ta chém đầu trong trận Tây Kết, do chính nhà vua trực tiếp chỉ huy, là một hành động nhân bản cao thượng.

Ngay khi khói lửa của cuộc chiến tranh năm 1288 đang còn vướng vất trên các chiến trường Thăng Long, Bạch Đằng; lúc tiếp phái bộ Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn do Hốt Tất Liệt gửi qua để đòi lại các tướng tá giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn, … do ta bắt được. Nhà vua đã bộc lộ nỗi tha thiết đối với hòa bình trong bài thơ tiễn đưa phái bộ này:

Khí hòa góc đất đều lan tới

Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn.

Đây là nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với hòa bình. Thật cũng lạ, một con người đã từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến tranh và đã có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với hòa bình.

Để lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông, hãy xem cách vua Trần Nhân Tông điều hành đất nước cùng Thượng hoàng Thánh Tông trong suốt thời gian này:

Trong khi tiến hành khẩn trương các hoạt động quân sự, thì công tác vận động toàn dân tham gia kháng chiến đã được thực hiện song song. Nhà vua cho mở hội nghị ở Bình Than triệu tập các vương hầu khanh tướng để bàn kế sách, thống nhất một lòng trong triều đình quyết tâm đánh đuổi Nguyên Mông. Đầu năm 1285, nhà vua lại cùng Thượng hoàng triệu tập các bô lão trong cả nước về đãi tiệc tại thềm điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Để trả lời câu hỏi của vua về việc nên hòa hay chiến, các vị bô lão đã muôn người như một đồng thanh đáp lại “quyết chiến”.

Hội nghị Diên Hồng là một cuộc vận động tư tưởng lớn, nhằm phổ biến rộng rãi chủ trương nhất định kháng chiến của vua Trần Nhân Tông và triều đình cùng quân đội tới toàn dân.

Ý gởi từ muôn dân, lệnh trao từ chín bệ

Thì nắm đầu giặc như chơi, cướp giáo giặc cũng dễ

…”Nuốt sao Ngưu” chẳng phải việc hoang đường

(Vũ Hoàng Chương)

Khoan thứ cho dân, lấy dân làm gốc là chủ trương của vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Thánh Tông. Trong giai đoạn chiến tranh với quân Nguyên Mông, dân ta đã được răn dạy: “Phàm các quận huyện trong nước, nếu như có giặc ngoài đến, thì phải tử chiến. Hoặc nếu sức địch không lại thì cho phép trốn vào trong núi đầm. Không được đầu hàng”. Tuy vậy, do thế giặc quá mạnh vẫn có người vì quá khiếp sợ đã ra đầu hàng giặc, trong đó có cả hoàng thân của vua là bọn Trần Kiện.

Sau ngày chiến thắng nhà vua đã thưởng công cho binh sĩ và trị tội những kẻ đầu hàng giặc. Tuy nhiên, giống như cách xử sự của ông nội mình là Trần Thái Tông đối với Hoàng Cự Đà trong cuộc chiến tranh năm 1258, vua Trần Nhân Tông vẫn cảm thấy trách nhiệm của mình đối với sự đầu hàng của một số tôn thất và dân chúng khi quân Nguyên xâm lược nước ta vào năm 1285. Chắc chắn vì cảm thức này, mà vua đã cho tiến hành 2 cuộc đại xá chỉ cách nhau trong vòng mấy tháng.

Khi quân Nguyên thua chạy, quân ta đã bắt được một hòm các tờ biểu xin đầu hàng giặc. Thượng hoàng Thánh Tông mở lòng nhân từ ra lệnh đốt tất cả những tờ biểu này để yên lòng những kẻ đã lỡ lầm đầu hàng giặc. Qua hai cuộc đại xá của nhà vua, chúng ta thấy đây là những bước đi nhằm ổn định lòng dân, đồng thời cũng xóa đi những mặc cảm tội lỗi của những kẻ phản bội đầu hàng. Ranh giới phân cách trong dân tộc và sự chia rẽ tâm lý giữa những người cùng chung huyết thống đã được xoá nhòa.

Bạn đọc thân mến, khi một nửa thế giới đang rung chuyển vì vó ngựa của quân Mông Cổ, khi đất nước Trung Quốc khổng lồ đã lọt hẳn vào tay đội quân hung hãn này thì đất nước ta, cái mảnh đất nhỏ bé nằm tiếp giáp phía nam Trung Quốc làm thế nào để có thể trường tồn, nếu không có sự dẫn dắt anh minh và sự quyết tâm hy sinh sắt đá từ Vua chí dân. Xin được gởi đến bạn đọc chi tiết trận chiến chống quân Nguyên Mông vào kỳ tới và xin mời bạn theo dõi video tại đây:

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 29)

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 29)

Hồ Bạch Thảo
7-4-2020
29. Vua Lý Thần Tông [1128-1138]
Niên Hiệu: Thiên Thuận:1128-1132, Thiên Chương Bảo Tự:1133-1137
Vua Lý Nhân Tông lên ngôi đã lâu, nhưng không có con trai nối dõi; ngài bèn nuôi con của 5 người thuộc dòng tôn thất làm con nuôi, rồi chọn Lý Dương Hoán con người em ruột là Sùng hiền hầu làm Thái tử; năm 1117 nhà Vua ban chiếu thư như sau:
Năm Hội Tường Đại Khánh thứ 8 [1117] ‘Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối dõi, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi con trai của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người nào giỏi thì lập làm thái tử.’ 
Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán mới lên 2 tuổi, mà thông minh lanh lợi, vua rất yêu và bèn lập làm hoàng thái tử.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Vì vua nối dõi là nhân vật được chọn từ những người con nuôi, nên dễ bị tranh giành; bởi vậy khi Thái tử Dương Hoán nhận mệnh trước linh cửu, buổi lễ đăng quang được triều đình bố trí rất cẩn mật:
“Năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ 1 [1127-1128]Hoàng thái tử lên ngôi trước linh cữu. Hạ lệnh cho Vũ vệ Lê Bá Ngọc truyền bảo quân hầu và các quan văn võ lui ra ngoài cửa Đại Hưng, sai các người giữ thành đóng cửa canh phòng cẩn mật, không cho ai ra vào. Lại sai cấm quân cầm binh khí đứng ở dưới điện Thiên An, rồi cho lệnh mở cửa nách bên hữu, gọi các quan vào long trì sai Bá Ngọc truyền bảo các vương hầu và các quan văn võ rằng: 
‘Không may tiên đế lìa bỏ bầy tôi, ngôi trời không thể bỏ không lâu ngày. Ta còn ít tuổi, cố gượng nối ngôi, các khanh nên bền mãi một lòng, giúp đỡ nhà vua, không những để không phụ lòng tiên đế chú ý trông mong mà còn để con cháu các khanh đời đời hưởng lộc vị’.
Các quan đều lạy mừng và thương khóc.”
Vua lên ngôi đổi niên hiệu là Thiên Thuận; ban chiếu thư đại xá cho cả nước, trả tự do cho những người bị làm lao công; tôn vinh mẹ nuôi làm Hoàng thái hậu; chủ trương ngụ binh ư nông [dùng quân lính từ nông dân], cho các quân được thay phiên về nhà làm ruộng:
Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1, năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], đổi niên hiệu, đại xá. Tôn mẹ nuôi là Trần Anh phu nhân làm Hoàng Thái hậu. Xuống chiếu rằng: 
‘Phàm dân có ruộng đất bị sung công cùng là bị tội phải làm điền nhi (1) thì đều được tha cả. Các tăng đạo và dân phải làm lộ ông (1) cũng được miễn. Cho sáu quân thay phiên nhau về làm ruộng, theo chế độ xưa”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Bấy giờ nhà Vua mới 12 tuổi, nên hàng ngày đến điện Kinh Diên tiếp tục học tập:
Ngày Canh Tý năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], vua bắt đầu ngự kinh diên nghe giảng học”.
Triều đình sai Sứ thông báo cho Trung Quốc và Chiêm Thành biết việc Vua Nhân Tông mới mất và nhà Vua nối ngôi. Bấy giờ nước Tống sau khi bị nước Kim đánh, nên phải rút quân về phía nam sông Trường Giang, đóng đô tại Lâm An, tỉnh Chiết Giang:
Ngày Quý Mão năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], sai người ở Hoà Trại cáo phó với nhà Tống và báo việc lên ngôi. Khi ấy Tống Cao Tông lánh người Kim qua sông Trường Giang đóng đô ở phủ Lâm An”.
Ngày Giáp Thìn năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], xuống chiếu cho Đô phi kỵ mang di chiếu của Nhân Tông và việc vua lên ngôi sang báo cho Chiêm Thành. Phát vàng và lụa trong kho ban cho các quan theo thứ bậc khác nhau”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Vào cuối tháng này, Chân Lạp mang 2 vạn quân đến cướp phá tại Nghệ An, Thái phó Lý Công Bình tuân mệnh cầm quân đi đánh:
“Ngày Giáp Dần năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], hơn 2 vạn người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An. Xuống chiếu cho Nhập nội thái phó Lý Công Bình đem các quan chức đô cùng người châu Nghệ An đi đánh”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3
Chín ngày sau Lý Công Bình đánh bại quân Chân Lạp, bắt được viên chỉ huy:
Ngày Quý Hợi tháng 2 năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], Lý Công Bình đánh bại người Chân Lạp ở bến Ba Đầu, bắt được chủ tướng và quân lính”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Đây là chiến thắng thần tốc, đáng lẽ phải ban chiếu biểu dương cho chủ tướng và quân sĩ; nhưng bấy giờ vua còn trẻ, nghe lời xui theo thói mê tín, nên đã làm một việc sai trái tệ hại; không đoái tưởng đến công lao của các tướng sĩ, đích thân đến các chùa và đạo quán, tạ ơn Phật, Đạo, giúp cho thắng trận:
Thư báo thắng trận của Lý Công Bình đến kinh sư.
Ngày Mậu Thìn năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], vua ngự đến hai cung Thái thanh, Cảnh Linh và các chùa quán trong thành để lễ tạ ơn Phật và Đạo đã giúp ngầm cho Công bình đánh được người Chân Lạp”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Về điều sai này, Sử thần Lê Văn Hưu có lời phê xác đáng như sau:
Lê Văn Hưu nói: Phàm việc trù tính ở trong màn trướng, quyết định được chiến thắng ở ngoài nghìn dặm, đều là công của người tướng giỏi cầm quân làm nên thắng lợi.
Thái phó Lý Công Bình phá được quân Chân Lạp cướp châu Nghệ An, sai người báo tin thắng trận. Thần Tông đáng lẽ phải cáo thắng trận ở Thái Miếu, xét công ở triều đường để thưởng cho bọn Công Bình về công đánh giặc. Nay lại quy công cho Phật và Đạo, đi các chùa quán để lạy tạ, như thế không phải là cách để ủy lạo kẻ có công, cổ lệ chí khí của quân sĩ”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3
Cũng may mà quỹ tín dụng về tinh thần chống xâm lăng phạt Tống bình Chiêm thời quá khứ còn lưu lại ; nên nữa năm sau Chân Lạp mang binh thuyền ngược dòng sông Lam đến đánh phá làng Đỗ Gia, thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay; lại bị quân ta đánh bại. Tiếp đến, Chân Lạp gửi quốc thư xin sai Sứ sang nước ấy bàn thảo, nhưng nhà Vua không trả lời:
Tháng 8 năm Thiên Thuận thứ 1 [1128], Người Chân Lạp vào cướp hương Đỗ Gia ở châu Nghệ An, có đến hơn 700 chiếc thuyền. Xuống chiếu sai bọn Nguyễn Hà Viêm ở Thanh Hoá và Dương Ổ ở châu ấy đem quân đánh, phá được”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Châu Nghệ An đệ tâu một phong quốc thư của nước Chân Lạp, xin sai người sang sứ nước ấy. Vua không trả lời”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Cũng vì tệ trạng mê tín dị đoan, hai lần nhà Vua ban tước Đại liêu ban và một lần thăng chức cho những người bắt được hươu trắng:
Mùa xuân, tháng giêng, năm Thiên Thuậnthứ 2 [1129], nhập nội điện trung là Lý An Dậu dâng hươu trắng. Cho An Dậu tước Đại liêu ban”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3
Tháng hai, năm Thiên Thuận thứ 2 [1129] Thân vương ban Lý Lộc tâu ở núi Tản Viên có hươu trắng. Vua sai Thái úy Dương Anh Nhĩ đi bắt được. Cho Lộc tước Đại liêu ban”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3
Tháng 3, Lý Tử Khắc dâng tâu rằng, rừng ở Giang Để có hươu trắng. Vua sai Thái úy Lưu Khánh Đàm đi bắt được. Thăng Tử Khắc làm Khu mật sứ, xếp vào hàng tước minh tự, được đội mũ bảy cầu”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3
Sử thần Lê Văn Hưu trách Vua và những bầy tôi xu nịnh dâng thú lạ như sau:
Lê Văn Hưu nói: Phàm người xưa gọi là điềm lành, là nói việc được người hiền
và được mùa, ngoài ra không có gì đáng gọi là điềm lành cả. Huống chi chim quý thú lạ không nuôi ở quốc đô cũng là lời khuyên răn của tiên vương để lại. Thần Tông nhân Nguyễn Lộc và Nguyễn Tử Khắc [Văn Hưu thuộc đời Trần, kiêng gọi họ Lý, chỉ gọi là họ Nguyễn] dâng hươu trắng, cho là vật điềm lành, cho Lộc tước đại liêu ban, cho Tử Khắc tước minh tự, thì cả người thưởng và người nhận thưởng đều sai cả. Tải sao vậy? Thần Tông vì dâng thú mà cho quan tước, thế là lạm thưởng. Lộc và Khắc không có công mà nhận thưởng, thế là dối vua”.
Về việc hôn nhân, nhà vua ban những chiếu thư quá bất công, không đoái hoài đến hạnh phúc của dân chúng; như việc cấm những người làm mướn không được lấy con gái dân thường; hoặc nặng nề hơn, bắt con gái các quan phải chờ sau khi vua chọn vào cung, mới được lấy chồng:
Ngày Giáp Tuất tháng giêng năm Thiên Thuận thứ nhất [1128], xuống chiếu cấm gia nô và tạo lệ của các quan không được lấy con gái lương dân”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Ngày Canh Tuất tháng giêng năm Thiên Thuận thứ 3 [1130], xuống chiếu cho con gái các quan không được lấy chồng trước, đợi sau khi chọn sung vào hậu cung, người nào không trúng tuyển mới được lấy chồng”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Sử thần Lê Văn Hưu có lời phê bình về chiếu mệnh trên như sau:
Lê Văn Hưu nói: Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung
phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất, thánh nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ thất phu thất phụ không được có nơi có chốn.
Cho nên Kinh Thi tả sự ấy trong thơ “Đào yêu” và thơ “Siếu hữu mai” để khen việc lấy chồng kịp thì và chê việc để lỡ thì vậy. Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng cho riêng mình, đâu phải lòng làm cha mẹ của dân? Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Về mặt ngoại giao, Sứ thần Chiêm Thành đến cống, Vua đích thân đánh cầu tại điện Long Trì cho Sứ thần xem. Bấy giờ tại nước ta và Trung Quốc thịnh hành trò chơi đánh cầu; tại Trung Quốc tay đánh cầu nỗi tiếng tên Cao Cầu, nhân vật chính trong truyện Thủy Hử, được Vua Tống Huy Tông [1101-1125] sủng ái. Ngoài ra nhà Vua còn sai Sứ sang đáp lễ nước Tống, vì 2 tháng trước đó [tháng 10] Vua Tống sai Sứ sang phong Vua tước Giao Chỉ Quận vương (2):
Tháng 12 năm Thiên Thuận thứ 3 [1130], vua đánh cầu ở Long Trì, cho sứ nước Chiêm Thành vào hầu xem. Mở hội khánh thành chùa Quảng Nghiêm Tư Thánh. Tha cho những người có tội. Sai Viên ngoại lang là Lý Phụng Ân và Lệnh thư gia là Doãn Anh Khái sang nước Tống đáp lễ”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Theo sử Trung Quốc, Tục Tư Trị Thông Giám(3), vào năm sau thời Tống Cao Tông [1131], nước Đại Việt xin đến cống, nhưng bị nhà Tống từ chối. Lúc bấy giờ Tống bị nước Kim tại phương bắc uy hiếp, mới dời đô về Lâm An tỉnh Chiết Giang, có lẽ tình hình chưa ỗn nên kiếm cớ khước từ. Văn bản Tục Tư Trị Thông Giám xưng tên Vua Thần Tông một cách sai lầm; đáng lý phải gọi là Dương Hoán, lại dùng tên Càn Đức tức Vua Nhân Tông:
Tục Tư Trị Thông Giám quyển 108, Tống Cao Tông năm Kiến Viêm thứ 4 [1131]. Ngày Canh Ngọ tháng chạp [2/1/1131], Giao Chỉ quận vương Lý Càn Đức xin vào cống, chiếu ban khước từ”.
(催十二月,庚午,交趾郡王李乾德请入贡,诏却之。主)
Tình hình tại phương nam lúc bấy giờ, vì ân uy chưa đủ, nên hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp vẫn chưa hoàn toàn thần phục; năm 1132 cả hai nước đến cướp phá Nghệ An, năm 1134 hai nước lại sai Sứ đến triều cống; đến năm 1137 Chân Lạp lại mang quân sang cướp phá, khiến tướng Lý Công Bình lại một lần nữa ra quân đánh bại:
Ngày Nhâm Tý tháng 8, năm Thiên Thuận năm thứ 5 [1132]. Chân Lạp và Chiêm Thành đến cướp châu Nghệ AnXuống chiếu cho Thái uý Dương Anh Nhĩ đem người ở phủ Thanh Hóa và châu Nghệ An đi đánh quân Chân Lạp và Chiêm Thành, phá tan”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Ngày Giáp Dần, tháng 2 năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 2 [1134], hai nước Chân Lạp và Chiêm Thành sang cống”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Ngày Đinh Tỵ, mùa xuân, tháng giêng năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 [1137], châu Nghệ An chạy trạm tâu việc tướng nước Chân Lạp là Phá Tô Lăng cướp châu ấy. Xuống chiếu cho thái uý Lý Công Bình đem quân đi đánh. Tháng 2, châu Nghệ An động đất, nước sông đỏ như máu. Công Bình sai Nội nhân hỏa đầu Đặng Khánh Hương về Kinh sư đem việc ấy tâu lên. Rồi Công Bình đánh bại người Chân Lạp”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Đến cuối đời, Vua Thần Tông ban mệnh chọn con nối dõi, cũng gây di lụy cho đời sau. Trước đó vua chọn Hoàng tử Thiên Lộc con vợ thứ lên ngôi; vì thấy Thiên Tộ con Hoàng hậu họ Lê, tuy thuộc dòng đích nhưng còn trẻ thơ mới lên 3, sợ không gánh vác được việc nước. Nhưng trước khi nhà Vua mất, 3 phu nhân đến kêu xin, nên lại đổi ý chọn Thiên Tộ làm Vua, lên ngôi miếu hiệu là Anh Tông. Vì vua còn thơ dại, bà mẹ là Hoàng hậu họ Lê được phong làm Hoàng thái hậu tư thông với quyền thần Đỗ Anh Vũ, gây nên mối loạn trong cung cấm:
Năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 6 [1138], (từ tháng 10 về sau là niên hiệu của Anh Tông, Thiệu Minh năm thứ 1). Lập Hoàng trưởng tử Thiên Tộ làm Hoàng thái tử. Trước vua đã lập Thiên Lộc làm con nối. Đến đây ốm, ba phu nhân là Cảm Thánh, Nhật Phụng và Phụng Thánh muốn đổi lập thái tử khác, mới sai người đem của đút cho Tham tri chính sự Từ Văn Thông, nói rằng nếu có vâng mệnh thảo di chiếu thì chớ bỏ lời của ba phu nhân. Văn Thông nhận lời. Đến khi vua ốm nặng, sai soạn thảo di chiếu, Văn Thông tuy vâng mệnh vua, nhưng nhớ lời dặn của ba phu nhân, cứ cầm bút mà không viết. một lát ba phu nhân đến, khóc lóc nghẹn ngào nói với vua rằng:
 “Bọn thiếp nghe rằng đời xưa lập con nối ngôi thì lập con đích chứ không lập con thứ. Thiên Lộc là con của người thiếp được vua yêu, nếu cho nối ngôi thì người mẹ tất sẽ tiếm lấn, sinh lòng ghen ghét làm hại, như thế thì mẹ con bọn thiếp tránh sao khỏi nạn? “. 
Vua vì thế xuống chiếu rằng:
“Hoàng tử Thiên Tộ tuy tuổi còn thơ ấu, nhưng là con đích, thiên hạ đều biết, nên cho nối nghiệp của trẫm, còn thái tử Thiên Lộc thì phong làm Minh Đạo Vương”.
Ngày 26, vua đăng ở điện Vĩnh Quang, quàn ở thềm phía tây điện ấy. Các quan dâng tôn hiệu là Quảng Nhân Sùng Hiếu Văn Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thần Tông.
Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, Hoàng thái tử Thiên Tộ lên ngôi ở trước linh cữu, bấy giờ mới lên ba tuổi, đổi niên hiệu là Thiệu Minh năm thứ 1. Đại xá cho thiên hạ. Tôn mẹ là Cảm Thánh phu nhân họ Lê làm Hoàng thái hậu”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Triều đình sai Sứ sang Trung Quốc cáo phó, nhà Tống truy phong Vua Thần Tông tước Nam bình vương:
Năm thứ 8 [1138] Dương Hoán mất, cho Chuyển vận phó sứ Chu Phất làm Điếu tế sứ, tặng Dương Hoán Khai phủ nghi đồng tam ty, truy phong Nam bình vương”. Tống Sử, quyển 488, Giao Chỉ.
(八年,陽煥卒,以轉運副使朱芾充弔祭使,贈陽煥開府儀同三司,追封南平王。)
____
Chú thích:
1. Lộ ông: Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử Tiêu Ánchú thích Điền Nhi, và Lộ Ông là những người phải làm đồ dịch [bị đày và làm lao công].
2. Tống Sử ghi vào năm 1132, xin chép thêm để tham khảo; Tống Sử, quyển 488, Giao Chỉ, chép “Năm Thiệu Hưng thứ 2 [1132] Càn Đức mất; truy tặng Thuỵ Trung, phong Nam Việt vương; con là Dương Hoán [Lý Thuần Tông] kế vị, được trao chức Tĩnh hải quân tiết dộ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu thái uý, phong Giao Chỉ Quận vương, ban Suy thành thuận hoá công thần”.
(紹興二年,乾德卒。贈侍中,追封南越王。子陽煥嗣,授靜海軍節度使、特進、檢校太尉,封交趾郡王,賜推誠順化功臣)
3. Tục Tư Trị Thông Giám ((續資治通鑑), soạn giả Tất Nguyên.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

Lê Văn Sinh: LỊCH SỬ & HUYỀN THOẠI

Lê Văn Sinh: LỊCH SỬ & HUYỀN THOẠI


LỊCH SỬ & HUYỀN THOẠI

1. Huyền thoại Hùng Vương.

Người Việt - trong các gia đình hạt nhân, các gia tộc đến dân tộc - có tục thờ cúng tổ tiên, từ quá khứ xa xưa đến tận ngày nay. Tuy nhiên, có sự khác biệt căn bản là các bậc tiên tổ của gia đình và dòng họ là những người thật thì tổ tiên của tộc Việt là một nhóm các nhân vật huyền thoại. Đó là thánh Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 Vua Hùng. Đền thờ các đức thánh tổ của người Việt được dân chúng dựng lên tại nhiều địa phương nhằm thỏa mãn nhu cầu thờ tự của họ.


2. Lich sử hóa huyền thoại.

Hùng Vương là nhân vật huyền thoại, nhưng có lúc được lịch sử hóa. Người ta cố gắng chứng minh có một thời đại như thế trong lịch sử Việt Nam (1).

Sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc (1263 - 1342) viết năm 1307 (2) không có chữ nào nói về các Vua Hùng.


Truyền thuyết Hùng Vương được ghi chép lần đầu tiên trong sách Lĩnh Nam Chích Quái thời Hậu Trần. Đến thế kỷ XV, Ngô Sĩ Liên (1400 - 1499) đưa truyền thuyết này vào bộ quốc sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Sử quan họ Ngô không đặt truyền thuyết này vào phần bản kỷ. Điều đó nói lên rằng, Ngô Sĩ Liên đã tuân thủ nghiêm ngặt truyền thống viết sử biên niên.

Những năm 60 và 70 của thế kỷ trước, giới sử gia miền Bắc dấy lên câu chuyện Hùng Vương dựng nước. Có lẽ việc lịch sử hóa huyền thoại được bắt nguồn từ cảm hứng từ câu nói của Hồ Chí Minh : " Các Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước " và trong bối cảnh một cuộc đấu tranh sinh tử nhằm thống nhất đất nước?

3. Khôi phục các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo.

Có thể là người Việt thời Hậu Lê và sớm hơn đã thờ cúng các Vua Hùng. Nhưng được ghi thành lệ luật bởi chính quyền thì phải đến năm Khải Định thứ 2 (1917) mới định ngày 10 tháng 3 (AL) là quốc giỗ; nghi thức tế lễ vào năm tròn do nhà nước làm chủ tế, các năm còn lại do địa phương tỉnh Phú Thọ chủ tế. Điều này nói lên ý thức dân tộc mạnh mẽ của người Việt Nam trước người láng giềng khổng lồ phía Bắc.

Năm 1946, Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng chủ tế trong ngày quốc giỗ. Ông dâng lên các Vua Hùng tấm bản đồ Việt Nam và thanh gươm quý, như một lời thề kháng chiến kiến quốc của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Sau năm 1954, ở miền Bắc và sau năm 1975 trên cả nước, chính quyền thực thi đồng thời ba cuộc cách mạng (3) nhằm xây đựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Các nghi lễ thờ cúng tại nhà thờ họ, đình làng, các đền, phủ, chùa, miếu bị cấm đoán ngặt nghèo. Chỉ còn thờ cúng gia tiên trong mỗi gia đình là chính quyền không thể với tay tới. Trong bối cảnh đó, lễ hội tại đền Hùng không ai ngó ngàng đến, âu cũng là lẽ thường.

Dưới tác động của Đổi Mới, vào những năm cuối thập niên 80 và trong suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, một phong trào khôi phục sinh hoạt họ mạc, khôi phục đình làng và hội làng bùng lên mạnh mẽ. Ban đầu, chính quyền tại các làng xã không tham dự, sau đó vài năm, chủ tịch xã đứng vai chủ tế.

Năm 2000, nhà nước tổ chức long trọng lễ hội giỗ tổ Hùng Vương. Ông Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh làm chủ tế. Sự kiện này gửi đi thông điệp giới lãnh đạo đất nước đã quay lại với chủ nghĩa dân tộc sau sự tan vỡ của Liên Xô và các quốc gia cộng sản đông Âu. Cùng với sự bùng phát của các loại lễ hội của Phật giáo, các hội làng thờ cúng thành hoàng, các lễ hội của các đền, phủ, cùng các loại phương thuật phù thủy, bói toán trong đời sống tinh thần của con người cho thấy xã hội Viêt Nam từ một hệ tư tưởng vô thần trở lại đời sống tâm linh truyền thống vốn có trong lịch sử.

Năm 2001, Chính phủ ra Nghị định 82 lấy ngày 10 tháng 3 (AL) là ngày quốc giỗ; những năm tròn do Bộ Văn hóa chủ trì, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc Hội dự, năm còn lại do tỉnh chủ trì, lãnh đạo Bộ Văn hóa dự.

Năm 2007, Quốc Hội sửa Luật Lao động, ấn định ngày 10 tháng 3 là ngày nghỉ lễ.

4. Năm nay, do ảnh hưởng dịch Covid - 19, mọi sinh hoạt kinh tế, văn hóa, giáo dục, v.v bị ảnh hưởng nặng nề. Trong bối cảnh đó ngày quốc giỗ không thể tổ chức như đã thành lệ hơn hai chục năm qua.

Xin có mấy dòng vắn tắt về huyền thoại Hùng Vương. Theo truyền thống hiếu đễ và kính trọng tiên tổ, tôi xin thắp nén hương thành kính dâng lên các Vua Hùng của đất Việt.

----------
Ghi chú.
1.Hùng Vương Dựng Nước ( nhiều tập). NXBKHXH, Hà Nội, 1970.
2.Lê Tắc hoàn thành cơ bản sách An Nam Chí Lược năm 1307, nhưng ông còn tu chỉnh, bổ khuyết sách này đến năm 1335.
3. Ba cuộc cách mạng :
- Cách mạng quan hệ sản xuất,
- Cách mang khoa học kỹ thuật,
- Cách mạng tư tưởng, văn hóa.

1 nhận xét :

  1. Lịch sử Việt Nam không có chính sử. Vì 1000 năm Bắc thuộc người Hán đã cố tình xóa hết những gì thuộc về chính sử của dân tộc Việt. Người Việt phải neo vào huyền sử để giữ bản sắc riêng của mình. Ví mình là con rồng cháu tiên, cùng sinh ra từ mẹ Âu Cơ nên mới có chữ ĐỒNG BÀO. Từ ngàn năm nay vẫn tin như thế. Ngàn năm sau con cháu ta vẫn sẽ tin. Cho dù mẹ Âu cơ chỉ sinh ra 100 người con trai, không có con gái. Nhưng người Việt bãn sinh sôi trên dải đất hình chữ S cả trăm triệu đồng bào rùi. MUÔN NĂM VIỆT NAM!
    Trả lời

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2020

Việt Nam từng có nhiều thủ đô qua các triều đại và chính quyền

Việt Nam từng có nhiều thủ đô qua các triều đại và chính quyền

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionJakarta trước kia có tên là Batavia và từng là thủ đô của Đông Ấn thuộc Hà Lan trong thời thuộc địa, cũng là trung tâm hoạt động để Công ty Đông Ấn Hà Lan vươn ra hoạt động trên toàn Á châu
Quyết định chuyển thủ đô từ Jakarta sang hẳn một hòn đảo khác của chính quyền Indonesia hiện nay làm sống lại câu chuyện 'dời đô'.
BBC News có bài 'Changing places: Why countries decide to move their capitals' mà bản tiếng Việt có thể đọc ở đây.
Kênh CNN thì có video nói 'Indonesia xây thủ đô mới vì Jakarta đang chìm dần xuống biển', nhấn mạnh lý do địa chất và môi trường. 
Nikkei Asian Review có bài nói không chỉ Indonesia mà Philippines cũng đang tính chuyển các cơ quan chính quyền sang New Clark City vì Manila đã quá tải.
Người ta cũng nhắc lại một chuyện hy hữu: dời đô sang hẳn một lục địa khác.
Đó là trường hợp Bồ Đào Nha vào năm 1808, khi triều đình chuyển sang đóng đô 13 năm ở thuộc địa Brazil ở Nam Mỹ vì chính quốc tại châu Âu bị Pháp đe dọa. 
Trung Quốc đã có nhiều thủ đô trải từ phía Tây sang Đông Bắc, xuống phía Nam qua lịch sử chia cắt, kình chống nhau của các tập đoàn quyền lực.
Dời đô có nhiều lý do: chiến tranh, cách mạng, môi trường, phân chia lãnh thổ, nhu cầu xây mới, tách trung tâm hành chính khỏi đô thị thương mại...
Ngoài Pháp và Anh, nhiều quốc gia đông dân ở châu Âu đều đã có ít nhất một lần dời đô.
Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionPetrograd (nay trở lại tên cũ là St Petersburg) từng là thủ đô của Nga trước khi Lenin quyết định chọn Moscow làm địa chỉ thay thế hồi 1918
Nổi tiếng hơn cả có quyết định của Lenin đưa thủ đô năm 1918 của nước Nga cộng sản từ Petrograd về Moscow.
Sau Chiến tranh Lạnh, Bonn, thủ đô Tây Đức bị "bỏ rơi"; nước Đức thống nhất đưa thủ đô về lại Berlin để có vị trí trung tâm hơn.
Một điều có thể nhiều người chưa biết là một quốc gia có thể "chứa đựng" tới ba thủ đô.
Đó là trường hợp nước Ý, với Rome là thủ đô nước cộng hòa Italia, San Marino là thủ đô của cộng hòa cùng tên chỉ có 32 nghìn dân, và Vatican City, thủ đô của Vương triều Vatican. 

Các thủ đô của Việt Nam

Hiện thủ đô Việt Nam là Hà Nội nhưng nước này, cụ thể hơn là các triều đại khác nhau và các chính phủ khác nhau đã đặt thủ đô của mình ở những điểm rất xa nhau.
Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThành cổ Hà Nội trong thời khoảng thập niên 1880, tranh vẽ trong L'Illustration, Journal Universel
Ngay trong thế kỷ 20, ba thành phố Hà NộiHuế và Sài Gòn đều từng là thủ đô.
Năm 1945, đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim đã chọn Huế (Thuận Hóa) làm thủ đô. 
Cùng năm, sau Cách mạng tháng Tám, chính phủ Hồ Chí Minh lấy Hà Nội làm thủ đô.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chính phủ VNDCCH đóng tại An Toàn Khu Việt Bắc, trải ra ở nhiều huyện thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên... ngày nay.
Một địa điểm toàn lán bằng gỗ, tre nứa ở Định Hóađược giới thiệu với khách nước ngoài thuộc phe cộng sản là 'Dinh Chủ tịch ở An Toàn Khu', nhưng hiển nhiên đó không phải trung tâm chính quyền VNDCCH.
Ông Hồ Chí Minh cũng từng ở một nhà sàn tại Vai Cày, Đại Từ, Thái Nguyên, theo các tài liệu Hà Nội công bố sau này. 
Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại từ 1949 lại chọn Sài Gòn làm thủ đô.
Thành phố này tiếp tục là thủ đô của VNCH (1955-1975).
Trong quá khứ, một cuộc phân tranh khác, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, kéo dài hàng trăm năm, đã tạo ra hai kinh đô: Thăng Long và Phú Xuân.
Ngay ở Đàng Ngoài, không phải lúc nào triều đại 'chính thống' như nhà Lê cũng trụ được ở Thăng Long.
Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionDấu tích Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa
Tranh chấp Lê - Mạc đẩy nhà Lê sang Lào, rồi về bám trụ ở Tây Đô, Thanh Hóa.
Nhà Mạc (1527-1593) làm chủ lãnh thổ từ Ninh Bình trở ra, đóng đô ở Đông Kinh (Hà Nội) cho đến khi thua trận (1593).
Sau đó, vua quan nhà Mạc rút lên vùng núi, đóng lực lượng chính ở Cao Bằng.
Khó nói thành nhà Mạc ở Nà Lự (Cao Bình - Cao Bằng) là một thủ đô đúng nghĩa nhưng ba đời vua Mạc cũng ở đó 83 năm, và họ còn kiểm soát các thành quách nay còn phế tích ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. 
Điều chắc chắn là việc giành lại Thăng Long đã phục hồi nhà Lê, cho triều đại này tồn tại thêm hai thế kỷ nữa.
Có những người Việt Nam tin vào vị thế đặc biệt 'rồng bay' của Thăng Long, thủ đô của các triều đại rực rỡ Lý, Trần, sau khi Lý Công Uẩn dời đô từ vùng rừng núi Hoa Lư năm 1010.
Nhưng với dòng người Nam Tiến, ở phía gần cực Nam, Gia Định đã vươn lên trong những thế kỷ sau, thành một trung tâm chính trị, kinh tế lớn.
Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionSài Gòn được chọn làm thủ đô của Quốc gia Việt Nam từ năm 1949
Trước đó, trong giai đoạn tranh giành quyền bính và xung đột đẫm máu, có lúc thành Đồ Bàn là thủ đô của nhà Tây Sơn. 
Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc - nhà Tây Sơn) cho xây thành Hoàng Đế tại nơi này, cách Quy Nhơn ngày nay chừng 27 km. 
Tính cả Champa thì ngoài kinh đô Đồ Bàn còn có những địa danh khác đã là thủ đô của người Chăm khác như Bal Canar ở Phan Rang, và sau ở Phan Rí.
Họ phải dời đô nhiều lần trước sức tấn công của Đại Việt.
Ngược lại, các thế lực Việt phía Nam có lúc vươn mạnh ra hướng Bắc. 
Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHuế được các vua triều Nguyễn chọn làm kinh đô
Nguyễn Huệ khi lên làm Quang Trung Hoàng đế đóng đô ở Phú Xuân, kinh đô của các chúa Nguyễn.
Sau đó Quang Trung quyết định dời đô ra Nghệ An, cho xây Phượng Hoàng Trung Đô nhưng công trình chưa thành thì ông mất.
Điều đáng chú ý là dù nhà Tây Sơn thời Nguyễn Huệ đóng đô ở Phú Xuân, cố đô Thăng Long vẫn là 'thủ đô ngoại giao' của Việt Nam để đón sứ thần nhà Thanh.

Hà Nội hụt

Vẫn liên quan đến chiến tranh, nhưng là cuộc chiến Nam - Bắc trong thế kỷ 20, Hà Nội cùng suýt bị di dời lên miền trung du.
Một kế hoạch mở rộng Hà Nội lên Xuân Hòa đã có từ 1969 để tránh bom Mỹ. 
Vì thế, Xuân Hòa có tên là thủ đô Hà Nội hụt.
Bộ trưởng Kiến trúc thời đó, ông Bùi Quang Tạo được giao nhiệm vụ tiến hành kế hoạch xây rộng Xuân Hòa, cách Hà Nội trên 30 km.
Người ta còn lo rằng Hà Nội nằm thấp hơn lòng sông Hồng, sợ đê sông Hồng trúng bom sẽ gây ngập lụt cả thủ đô Hà Nội, nên chọn Xuân Hòa.
Địa điểm mới ở nơi có nền đất cao, khí hậu trung du mát tốt hơn vùng Hà Nội nóng ẩm. 
Căn cứ vào sử liệu thì vùng trung du còn là điểm có kinh đô Phong Châu thời Hai Bà Trưng.
Trên thực tế, một số cơ quan trung ương VNDCCH đã đóng trụ sở ở Xuân Hòa, và sau 1975, đô thị này vẫn được xây cất tiếp và chỉ dừng lại những năm 1980.
Dù dự án Xuân Hoà bị bỏ, vấn đề lụt lội, và gần đây là ách tắc giao thông tiếp tục đang thách thức chính quyền Hà Nội, nhiều năm sau chiến tranh.
Nhìn lại lịch sử, các thủ đô và trung tâm hành chính, chính trị của người Việt qua các triều đại đúng là đã trả dài từ Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên xuống Hà Nội, Ninh Bình, vào Thanh Hoá, Nghệ An, Huế, Bình Định, Phan Rang, Sài Gòn, phản ánh các chuyển biến lịch sử nước này.

Chủ đề liên quan

Tin liên quan