Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Văn Khê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Văn Khê. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2020

Trần Văn Khê: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THỨC ĂN VIỆT VÀ TÀU

Trần Văn Khê: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THỨC ĂN VIỆT VÀ TÀU


SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THỨC ĂN VIỆT VÀ TÀU

Giáo sư Trần Văn Khê

Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi: Người Việt Nam ăn uống thế nào? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng?

Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. Trong câu chuyện, một vài bạn trong báo Tuổi Trẻ thấy nhận xét sơ bộ của tôi có phần nào lý thú, nghe vui tai, nên nhờ tôi ghi ra thành văn bản. Nể lời các bạn, tôi xin gởi đến các bạn đọc vài mẩu chuyện có thật về cách ăn và nấu ăn của người Việt chúng ta, và xin các tay nghề nấu ăn trong nước đừng cười tôi dốt hay nói chữ, dám múa búa trước cửa Lỗ Ban, đánh trống trước cửa nhà Sấm.

Trong một buổi tiệc, một anh bạn Pháp hỏi tôi: “Chẳng biết người Pháp và người Việt Nam ăn uống khác nhau như thế nào?” Tôi rất ngại so sánh… tôi trả lời… vì so sánh là biết rõ rành mạch cả hai yếu tố để so sánh. Thỉnh thoảng, tôi có ăn uống theo người Pháp nhưng làm sao biết cách ăn của người Pháp bằng người Pháp chính cống như anh. Tôi thì có thể nói qua cách ăn uống của người Việt chúng tôi. Để cho anh dễ nhớ, tôi chỉ đưa ra ba cách nấu ăn của người Việt, rồi anh xem người Pháp có ăn như vậy chăng?

☆ Người Việt chúng tôi ăn toàn diện, ăn khoa học, ăn dân chủ.

1. Ăn toàn diện:

Chúng tôi không chỉ ăn bằng miệng, nếm bằng lưỡi, mà bằng ngũ quan.

Trước hết ăn bằng con mắt, và do đó có nhiều món đem dọn lên, nhiều màu sắc chen nhau như món gỏi sứa của chúng tôi chẳng hạn: Có giá màu trắng, các loại rau thơm màu xanh, ớt màu đỏ, tép màu hồng, thịt luộc và sứa màu sữa đục, đậu phộng rang màu vàng nâu, v.v… Có khi lại tạo ra hình con rồng, con phụng, trong những món ăn nấu đãi đám hỏi, đám cưới.

Sau khi nhìn cái đẹp của món ăn, chúng tôi thưởng thức bằng mũi, mùi thơm của các loại rau thơm như húng quế, ngò, hoặc các mùi đặc biệt của nước mắm, của cà cuống.

Răng và nướu đụng chạm với cái mềm của bún, cái dai của thịt luộc và sứa, cái giòn của đậu phộng rang để cho xúc cảm tham gia vào việc thưởng thức món ăn sau thị giác và khứu giác.

Rồi lỗ tai nghe tiếng lốc cốc của đậu phộng rang, hay tiếng rào rào của bánh phồng tôm, hay tiếng bánh tráng nướng nghe rôm rốp. Sau cùng lưỡi mới nếm những vị khác nhau, hòa hợp trong món ăn: lạt, chua, mặn, ngọt, chát, the, cay, v.v…

Chúng tôi ăn uống bằng năm giác quan, về cái ăn như thế gọi là ăn toàn diện.

2. Ăn khoa học:

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở Nhật Bổn thường hay sắp các thức ăn theo “âm” và “dương”. Nói một cách tổng quát thì những món nào mặn thuộc về dương, còn chua và ngọt thuộc về âm.

Người Việt thường trộn mặn với ngọt làm nước mắm, kho thịt, kho cá, rang tép, ướp thịt nướng, luôn luôn có pha một chút đường; mà ăn ngọt quá như chè, ăn dưa hấu hay uống nước dừa xiêm thì cho một chút muối cho âm dương tương xứng.

Người Tây khi ăn bưởi thật chua lại cho thêm đường, đã âm lại thêm âm thì âm thịnh dương suy, không đúng theo khoa học ăn uống.

Người Việt phần đông không nghiên cứu về thức ăn, nhưng theo truyền thống của cha ông để lại thành ra ăn uống rất khoa học.

Người Việt chẳng những để ý đến quân bình âm dương giữa các thức ăn mà còn để ý đến quân bình âm dương giữa người ăn và thức ăn. Khi có người bị cảm, người nấu cháo hỏi: Cảm lạnh (bị mắc mưa, đêm ra ngoài bị cảm sương) thì nấu cháo gừng vì cảm lạnh (âm) vào người phải đem gừng (dương) vào chế ngự. Nếu cảm nắng (bị mặt trời làm cho sốt) thì dương đã vào người phải nấu cháo hành (âm).

Lại nghĩ đến âm dương giữa người ăn và môi trường; mùa hè thời tiết có dương nhiều nên khi ăn có canh chua (âm) hoặc hải sâm (âm); mùa Đông thời tiết có âm nhiều nên ăn thịt nướng. Ta có câu: Mùa Hè ăn cá sông, mùa Đông ăn cá biển.

Quân bình trong âm dương còn thể hiện qua điếu thuốc lào. Thuốc lá phơi và đóm lửa (dương) hít một hơi cho khói qua nước lã trong bình (âm) để hơi khói thuốc vào cơ thể, nguồn hút có cả dương và âm, không kể nước đã lọc bớt chất nicotine có hại cho buồng phổi.

Chẳng những cân đối về âm dương mà còn hàn nhiệt nữa: Thịt vịt hay thịt cá trê (hàn) thì chấm với nước mắm gừng (nhiệt). Cách ăn của người Việt Nam khoa học, vì phù hợp với nguyên tắc âm dương tương xứng hàn nhiệt điều hòa. Ngoài ra, trong một món ăn thường đã có chất bột, chất thịt, chất rau làm cho sự tiêu hóa được dễ dàng.

3. Ăn dân chủ:

Trên bàn dọn bao nhiêu thức ăn, nhưng chúng tôi có thể ăn những món chúng tôi thích, hoặc phù hợp với vấn đề bảo vệ sức khỏe của chúng tôi. Ăn ít hay ăn nhiều thì tùy theo sức chứa bao tử của chúng tôi, chớ không phải ăn những món không ăn được, hay là ăn không nổi. Như vậy, cách của người Việt Nam rất dân chủ.

Anh bạn người Pháp thích chí cười to: “Ăn toàn diện, chúng tôi chưa nghĩ đến là về thính giác, ăn mà nghe tiếng động là vô phép nên ăn bớt ngon. Ăn khoa học, thì chúng tôi chỉ nghĩ đến calori mà không biết âm dương và hàn nhiệt. Còn ăn dân chủ, thì hoàn toàn thiếu sót, vì đến nhà chúng tôi có một thực đơn mà mỗi người một đĩa, ăn không hết sợ vô phép nên nhiều khi không ngon lắm hoặc quá no cũng phải cố gắng ăn cho hết. Tôi xin hoàn toàn hoan nghinh cách ăn của người Việt Nam.”


☆ Về cách ăn uống Việt Nam lại có thêm:

1. Ăn cộng đồng:

Thức ăn đầy bàn mà có một nồi cơm, một tô nước mắm để mọi người cùng xới cơm và chan nước mắm ở một nơi.

2. Ăn lễ phép:

Con lớn lên đã theo học ăn, học nói, học gói, học mở. Học ăn là trước nhứt, khi ăn phải coi nồi, ngồi coi hướng.

3. Ăn tế nhị:

Ăn ớt từ cách cắn trái ớt, có khi phải ăn ớt xắt từng khoanh, ớt bằm, ớt làm tương. Nước chấm, nhứt là ở miền Trung rất tinh tế, ăn món chi phải có nước chấm đặc biệt món nớ: bánh bèo, bánh lá, bánh khoái đều có nước chấm khác.

4. Ăn đa vị:

Một miếng nem nướng đã có vị thịt, riềng, muối, tỏi, hành cuốn vào bánh tráng lạt lạt, có chút bún, rau thơm, ớt (cay), chuối sống (chát), khế (chua), tương (ngọt, mặn, cay) có pha hột điều hay đậu phộng xay (béo). Ăn có năm vị chánh: Ngọt, mặn, chua, cay, béo; có cả ngũ sắc đen (tương), đỏ (ớt), xanh (rau), vàng (khế chín), trắng (bánh tráng, bún). Ăn một miếng mà thấy 5 màu, lưỡi nếm 5 vị và có khi hơn thế nữa.

Một lần khác, một anh bạn của tôi khai trương một tiệm ăn lớn tại Paris. Anh có mời đài phát thanh và báo chí đến để cho biết rằng tiệm của anh có cả thức ăn Trung Quốc và Việt Nam.

Các phóng viên muốn biết Việt Nam và Trung Quốc nấu ăn có khác nhau như thế nào. Hai đầu bếp Việt Nam và Trung Quốc được mời ra để báo chí hỏi thì hai người đều khẳng định là cách nấu ăn rất khác, nhưng phải xuống bếp coi mới thấy.

Nhà bếp nhỏ không chứa được mấy chục phóng viên, và ai cũng ngại hôi dầu hôi mỡ, nên ông chủ tiệm nhờ tôi tìm câu trả lời cho các nhà báo. Tuy không phải là một chuyên gia về nghệ thuật nấu bếp, nhưng tôi cũng phải tìm câu trả lời thế nào để cho các nhà báo bằng lòng. Tôi mới nói rằng, tôi không đi vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra ba điểm khác nhau trong cơ bản.

1. Người Việt Nam thường dùng bột gạo, trong khi người Trung Quốc thích dùng bột mì. Cho nên, Việt Nam có phở, hủ tiếu, bún thang, bún bò, bún riêu; mà người Trung Quốc thì chuyên về mì nước, mì khô, mì sợi nhỏ, mì sợi lớn, mì vịt tiềm. Người Việt làm bánh đùm, bánh xếp, bánh cuốn, bánh hỏi; người Trung Quốc thì bánh bao. Chả giò người Việt Nam cuốn bằng bánh tráng bột gạo; còn người Trung Quốc thì cuốn tép trong bánh bằng bột mì.

2. Nước chấm cơ bản của người Việt nam là nước mắm làm bằng cá; còn nước chấm của người Trung Quốc là xì dầu làm bằng đậu nành.

3. Người Việt thì thường pha mặn ngọt; người Trung Quốc thích chua ngọt.

Chỉ nói đại khái như vậy mà các phóng viên đã hài lòng; về viết bài tường thuật nêu lên những điểm khác nhau ấy. Ông Giám Đốc Tạp Chí Đông Nam Á, sau lời nhận xét đó, cho phóng viên đến phỏng vấn tôi thêm và hỏi tôi có biết yếu tố nào khác đáng kể khi nói về cách nấu ăn của người Việt khác người Trung Quốc ở chỗ nào. Tôi trả lời cho phóng viên trong 40 phút.

Hôm nay tôi chỉ tóm tắt cho các bạn những điểm chính sau đây:

1. Về rau: Người Việt tuy có ăn rau luộc, hay xào; nhưng thích ăn rau sống, rau thơm, mà người Trung Quốc không ưa ăn rau sống, cải sống, giá sống.

2. Về cá: Người Trung Quốc biết kho, chưng, chiên như người Việt Nam. Nhưng người Trung Quốc không làm mắm như người Việt. Có rất nhiều cách làm mắm và ăn mắm: Mắm thái, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm, v.v… Các nước Đông Nam Á cũng có làm mắm nhưng không có nước nào biết làm nhiều loại mắm như người Việt.

3. Về thịt: Người Trung Quốc biết quay, kho, luộc xào, hầm như người Việt, mà không biết làm nem, bì và các loại chả như chả lụa, chả quế, v.v…

4. Người Trung Quốc ít có phối hợp nhiều vị trong một món ăn như người Việt. Khi chúng ta ăn một món ăn như nem nướng thì có biết bao nhiêu vị: Lạt lạt của bánh tráng, bún; mát mát ngọt ngọt của dưa leo, và đặc biệt của giá sống trộn với khế chua, chuối chát, ớt cay, đậu phộng cà bùi bùi, có tương mặn và ngọt. Người Việt trong nghệ thuật nấu ăn rất thích lối đa vị và tất cả các vị ấy bổ sung cho nhau, tạo ra một vị tổng hợp rất phong phú.

Cái ăn chiếm phần khá quan trọng trong đời sống của chúng ta. Khi dạy dỗ một trẻ em thì phải cho nó học ăn, học nói, học gói, học mở để biết ăn, nói với người ta.

Ra đường phải biết “ăn bận” hay “ăn mặc” cho phải cách phải thế. Đối với mọi người, không nên “ăn thua” làm chi cho bận lòng.

Làm việc gì phải cẩn thận “ăn cây nào, rào cây nấy”.

Trong việc tiêu tiền phải biết “liệu cơm, gắp mắm” và dẫu cho nghèo đi nữa “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

Không nên ham ăn quá độ vì “no mất ngon, giận mất khôn”.

Ra làm ăn phải quyết tâm đừng “cà lơ xích xụi” chạy theo “ăn cò” người khác. Phải biết “ăn chịu” với người làm việc nghiêm túc thì công việc khỏi bị “ăn trớt”.

Không nên “ăn gian, ăn lận” hay bỏ lỡ cơ hội thì “ăn năn” cũng muộn.

Trong cuộc sống nên tìm việc làm hữu ích cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước đừng để mang tiếng “ăn hại” “ăn bám” người khác.

Khi đàn chơi phải biết lên dây đàn cho “ăn” với giọng ca, hòa đàn cũng phải “ăn” với nhau, “ăn ý”, “ăn rơ” thì mới hay.

Các bạn thấy chăng? Cái “ăn” cũng khá quan trọng nên mới lọt vào một số từ ngữ của tiếng nói Việt Nam. Tuy chúng ta không như người Trung Quốc “dĩ thực vi tiên”, nhưng phải có ăn mới làm nên việc, vì “có thực mới vực được đạo.”

Nguồn: Giáo Sư Trần Văn Khê Blog.





2 nhận xét :

  1. Người VN được Ăn , Học ở sứ “ giẫy chết “ họ hiểu và nhìn ẩm thực ra là một thứ nghệ thuật tạo nhã ... nó khác xa các GS , TS ... của sứ thiên đường XHCN thì “ ăn của dân không trừ thứ gì “ ( lời bà phó chủ tịch nước CHXHCNVN ) vì họ còn bận Ăn Học Mác Lê , đạo đức tư tưởng Bác ... đâu có có học ông cha , bố mẹ “ miếng ăn là miếng nhục “ . Nhìn các đại án của “ loài sâu bọ “ như bộ 4T , bộ Công Thương càng ngày càng béo... đến mức tởm lợm , thật buồn cho đất mẹ VN 
    Trả lời
  2. Rất đúng, rất hay. Nhưng cũng nên tỏ 1 chút khiêm nhường bằng cách khen ngợi ẩm thực Âu Tây ít dùng gia vị hơn (mùi vị tươi hơn); vệ sinh hơn ( ăn riêng, ít gắp chung). Phải nói ẩm thực VN còn phong phú kinh khủng và hương vị tuyệt vời. 

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Tính dân tộc trong âm nhạc (I)

Tính dân tộc trong âm nhạc (I)

Trần Văn KhêJun 24 5:40 PM



Tính dân tộc trong âm nhạc



Thử tìm hiểu xem
“dân tộc” là gì?
 


Trần Văn Khê



Tôi đã có dịp định nghĩa sơ bộ những từ “dân tộc” và “hiện đại” trong bài tôi viết về Giải thưởng Hoàng Mai Lưu năm 1990 vừa qua.
Hôm nay, tôi xin mạn phép bàn thêm về từ “dân tộc”.
Dân tộc ở đây có nghĩa là tính dân tộc.
Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, và trong bản in lần thứ hai, năm 1977, do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý và bổ sung, đã định nghĩa “tính dân tộc” là “Tính chất đặc biệt của từng dân tộc, thường biểu hiện ở văn hoá”. Trong cuộc hội nghị bàn về tính dân tộc trong âm nhạc vào năm 1972, nhiều nhạc sĩ và lãnh đạo văn hoá đã tham luận, và một tập kỷ yếu được xuất bản lần đầu ngày 25 tháng 10 năm 1972, gồm có 20 bài do 17 tác giả viết, sách dầy 232 trang, với cái tựa đề Về tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam, tái bản ngày 15.8.76, dầy 249 trang. Trong đó, anh Hà Huy Giáp có dịp định nghĩa “tính dân tộc” một cách đầy đủ hơn:
“Khi ta nói đến tính dân tộc, tức là ta nói đến những đặc điểm, tính độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức của nghệ thuật do sinh hoạt vật chất và tinh thần và những truyền thống riêng biệt của dân tộc tạo nên, và có một sức sống rất bền bỉ, lâu dài trong đời sống văn hoá và nghệ thuật” (sách đã dẫn, tr. 7). 
Khi người phụ nữ Việt Nam mặc áo dài của ta, khác với áo kimono của Nhật, áo sari của Ấn Độ, áo xẻ từ đùi tới chân như áo Thượng Hải, chúng ta cho rằng áo dài của ta có tính chất dân tộc. Ai thấy áo dài cũng biết ngay là áo đó của dân tộc Việt Nam.
Khi chúng ta ăn thịt kho, cá kho bằng nước dừa xiêm, có bỏ nước màu, khác hẳn với thịt heo xào chua ngọt và cá chưng tương của người Trung Quốc, thì thịt kho, cá kho đã mang tính “dân tộc” Việt Nam. Nói chi đến cách gói nem chua, thì dân tộc Trung Quốc, Nhật Bổn, Triều Tiên, Thái Lan nhất định không biết làm món ấy. Nem chua rất đậm màu dân tộc Việt Nam.
Trong lĩnh vực âm nhạc, xét về mặt nội dung và hình thức, từ phương tiện và phong cách biểu diễn âm nhạc, đến việc xây dựng dàn nhạc, phối hợp âm thanh, đồng ca, hoà nhạc, sáng tạo dân ca cổ nhạc, sử dụng ngôn ngữ âm nhạc (thang âm, điệu thức tiết tấu) thì “dân tộc tính” là những nét đặc biệt trong cách tạo, cách dùng nhạc khí, cách lên dây, cách phối hợp nhạc khí thành dàn nhạc, cách luyến láy, thành hơi, thành điệu, cách rao hay dạo mở đầu, cách thêm chữ chuyền, chữchạy, cách nhấn nhá, rung, mổ thành chữ già, chữ non, cách đàn hát theo nhịp nội nhịp ngoại, cách đánh trống, gõ nhịp, và biểu diễn theo nguyên tắc chân, phương, hoa, lá, cách lấy hơi, bắt giọng, hát cho tròn vành  chữ, ém hơi nhả chữ, ngân dài, ngân ngắn theo cách đổ hột, đổ con kiến, hát lề lối, hát hàng hoa... Trong khí nhạc và thanh nhạc có rất nhiều cách đàn, cách hát mà cha ông chúng ta đã thể nghiệm, áp dụng và lưu  truyền cho chúng ta. Người trong nghề thì biết rõ phong cách đàn hát đã đành, người không ở trong nghề, khi nghe quen tai cũng nhận ra được thế nào là dân tộc, thế nào là lai căng, lạc điệu.
Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi vào chi tiết, chỉ muốn, ngang qua vài dẫn chứng, tìm ra những đặc điểm của “tính dân tộc” trong âm nhạc Việt Nam. Các bạn đọc nào muốn có thêm đầy đủ chi tiết xin tìm xem quyển Tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam mà chúng tôi đã dẫn ở trên. 
Thử xem qua các nhạc khí Việt Nam, cây đàn nào có nhiều tính dân tộc? 
Cây đàn bầu (hay đàn độc huyền), cây đàn đáy, cây đàn nguyệt (hay cây đàn kìm), cái sênh tiền là những nhạc khí rất “dân tộc” của Việt Nam. Vì sao? 
1. Những nhạc khí ấy chỉ có mặt trong nước Việt Nam mà thôi. Không có một nước nào khác trên thế giới có những nhạc cụ ấy kể cả những nước châu Á lân cận, láng giềng của chúng ta.
Đàn một dây cũng có thể gặp được nhiều nơi. Trung Quốc có đàn i xian qin, cũng như Nhựt Bổn có đàn ichi gen kin, cả hai đều viết bằng chữ Hán nhứt huyền cầm. Đàn một dây tơ, không dùng bồi âm (harmoniques), không có cần đàn, tay mặt khảy dây bằng móng tay hoặc móng ngà tsumecủa người Nhựt, giọng cao thấp do tay trái nhấn làm cho phần dây rung ngắn, dài, phát ra âm cao, thấp. 
Ấn Độ có đàn gopi yantra, một dây mà giọng cao thấp chỉ do sự dùng thẳng của dây, mà cũng không có dùng bồi âm. 
Người Khmer có đàn sadev (đọc xa điêu), một dây có bầu áp vào người, khảy bằng những ngón của bàn tay mặt, dây bấm bằng các ngón tay trái, không có dùng đặc biệt bồi âm. 
Người châu Phi có nhiều đàn một dây, mà toàn là đàn có cung kéo chớ không phải đàn có dây khảy. 
Người đàn bầu Việt Nam tạo ra bồi âm bằng cách kích thích sợi dây đúng ngay các nút dao động, và độ cao của các bồi âm lại thay đổi theo bàn tay trái ấn trên cần đàn, làm cho sức căng của dây thay đổi như trên dây đàn bầu. Đàn bầu Việt Nam, có những nét độc đáo đó, từ đời trước truyền đến đời sau, đã mang “tính dân tộc Việt Nam”.
Đàn đáy cũng vậy. Tuy đàn có 3 dây, mà không giống cây san xian (tamhuyền) của Trung Quốc, hay đàn shamisen của Nhựt, sandze của Mông Cổ, setar của Ba Tư, vì thùng đàn của Trung Quốc và Mông Cổ bịt bằng da trăn, thùng đàn shamisen bằng da mèo phía mặt và da chó phía lưng, thùng đàn đáy bằng gỗ, hình thang hoặc hình vuông dài chớ không phải bầu dục như đàn setar. Cần đàn đáy rất dài và đàn có 10 phím chớ không trơn tru như các đàn 3 dây của Trung Quốc, Nhựt Bổn,  Mông Cổ, hay buộc dây như đàn setar. Trên thế giới, không có cây đàn nào trong hình dáng và cách biểu diễn, giống như đàn đáy cả. Đàn đáy có “tính dân tộc” Việt Nam. 
Đàn nguyệt Việt Nam không giống yue qin của Trung Quốc, mặc dầu chữ yue qin phiên âm ra tiếng Việt là nguyệt cầm, vì đàn yue qin cần rất ngắn, như đàn đoản, phím không cao, đàn có chữ chuyền, thiếu chữ nhấn. Đàn chapey của người Khmer, thì cần quá dài, phím gắn không theo thang âm Việt Nam mà theo thang âm 7 cung đồng đều của dân tộc Thái và Khmer. Đàn nguyệt có tính dân tộc Việt Nam.
Sênh tiền Việt Nam rất độc đáo vì có 3 thanh gỗ, có gắn tiền điếu trên 1 thanh, nên ngoài tiếng gỗ chạm vào nhau còn có tiếng đồng kêu xệch xoạt, do những đồng tiền điếu nhảy theo động tác của tay gõ nhịp, lại có thanh khắc răng cưa để cọ quẹt nên tuy là một nhạc khí mà có 3 chức năng: phách gõ, phách rung và cọ quẹt. Trong lối nhạc nan kuan cổ nhạc triều đình Trung Quốc có phách gõ và cọ quẹt mà không có đồng tiền nhảy theo phách rung. Sênh tiền Việt Nam có tính dân tộc Việt Nam.
Không phải yếu tố chỉ có ở nước Việt Nam mới định được dân tộc tính.
2. Ngoài ra, có những truyền thuyết trong dân gian chứng tỏ rằng nhạc khí đó được dân tộc Việt Nam sáng tạo.
Khuôn khổ của bài này không cho phép chúng tôi thuật lại cả truyền thuyết vợ Trương Viên, hiếu đạo với mẹ chồng được tiên cho cây đàn 1 dây, mà theo tương truyền là cây đàn bầu, cây đàn mầu nhiệm, để hành khất nuôi mẹ chồng trong lúc chạy giặc và sau nhờ cây đàn ấy mà vợ chồng sum hiệp. 
Cây đàn đáy, theo tương truyền, cũng do tiên cho Đinh Dự (hay Đinh Lễ) miếng gỗ ngô đồng và dạy cách đóng đàn. Nhờ đàn ấy, Đinh Dự trị cho Bạch Hoa tiểu thơ khỏi bịnh câm và nên duyên cầm sắt với nàng. 
Một nhạc khí muốn mang tính dân tộc, phải có ba điểm quan trọng sau đây:
3. Đông đảo người Việt chấp nhận như là một nhạc khí của dân tộc Việt Nam vì nhạc khí đó phù hợp với tâm hồn Việt Nam, với quan điểm thẩm mỹ của người Việt. 
4. Nhạc khí đó đã được lưu truyền từ đời này đến đời kia, mãi đến ngày nay, và như thế đã chịu thử thách của thời gian. Tính dân tộc phải là một cái gì trường cửu, chớ không phải nhứt thời như một thời trang, ưa chuộng đó, rồi bỏ đi sau một thời gian rất ngắn. 
5. Nhạc khí đó phải nói được tiếng nói của âm nhạc Việt Nam .
Yếu tố này vô cùng quan trọng. Và nhờ nó, mà chúng ta có thể chấp nhận những nhạc khí dầu không phải do dân tộc ta chế ra, không phải chỉ ở Việt Nam mới có, mà từ một nước khác du nhập vào. Khi nói được tiếng nói âm nhạc Việt Nam, rõ ràng, không ngọng nghịu, thì nhạc khí đó trở thành nhạc khí dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, có rất nhiều trường hợp giao lưu văn hoá. Nhiều nhạc khí từ các nước lân cận, hay từ Trung Quốc, Ấn Độ, ngang qua Lâm Ấp, Chiêm Thành, đã được du nhập vào nước Việt, và sau bao nhiêu đời đã trở thành cây đàn dân tộc Việt Nam. Như cây đàn tranh, đàn cò (đàn nhị), đàn tỳ bà do các nhạc khí từ Trung Quốc mang sang (đàn zheng, đàn er hu, đàn pipa) nay đã được coi như đàn dân tộc. Tuy không do người Việt chế tạo, tuy không có truyền thuyết chi trong dân gian về các nhạc khí ấy, nhưng ba điều kiện sau cùng đã có đủ. Và quan trọng nhất là các nhạc khí ấy nói được tiếng nói âm nhạc của dân tộc Việt Nam. 
Trong các nước khác, chúng ta cũng thấy nhiều thí dụ như vậy (...) 
Có người nói rằng: cây đàn piano, mà được dân tộc Việt Nam dùng, sau một thời gian cũng sẽ thành nhạc khí dân tộc Việt Nam. Đàn piano làm sao nói được tiếng nói âm nhạc theo phong cách Việt Nam để thành nhạc khí dân tộc Việt Nam?
Cây đàn ghita (lục huyền cầm), cây đàn violon (vĩ cầm), nhất là cây đàn ghita phím lõm thì có thể được coi như là nhạc khí Việt Nam, vì các đàn ấy nói được tiếng nói âm nhạc của dân tộc Việt Nam, xự non xang già cống non... luyến, láy, vuốt rung nhẹ, tăng mạnh, hưởng, nhấn, chầy, được cả. Chớ đàn piano, không thể đàn xự non, xang già, cống non, khi hoà theo câu hò mái nhì, không thể nhấn chữ xang dằn và nhấn sâu một chút và rung nhẹ, khi đàn một câu Vọng cổ. Đàn piano đàn đệm câu hò mái nhì hay bài Vọng cổ, nghe như người nói ngọng, thì không thể nào cây đàn piano trở thành đàn dân tộc Việt Nam được. 
Cũng như cây đàn harmonium đã được dùng để dạy xướng âm cho các trường mẫu giáo Nhựt Bổn, từ buổi đầu thời Minh Trị (khoảng năm 1860 đến nay) khi có ông giáo sư cố vấn người Mỹ Luther Whiting Mason đề nghị đùng đàn ấy để dạy âm nhạc và xướng âm cho trẻ con Nhựt Bổn. Đến nay, đàn harmonium đã đi vào đời sống âm nhạc của trẻ em Nhựt, từ đời này qua đời khác, đã hơn 130 năm rồi, mà người Nhựt không bao giờ cho rằng đàn harmonium là đàn dân tộc Nhựt. Trong khi đó đàn shamisen (tam huyền), du nhập từ Trung Quốc do đàn san xian của Trung Quốc, nhưng nhờ đàn shamisen nói được ngôn ngữ âm nhạc của dân tộc Nhựt, mà đã trở thành một nhạc khí rất dân tộc của Nhật Bổn. 
Các dân tộc Ấn Độ, miền Nam lẫn miền Bắc, mà miền Nam nhiều hơn miền Bắc, đã chấp nhận cây đàn violon phương Tây như là đàn dân tộc Ấn Độ từ hơn 100 năm nay. Nhạc sĩ Ba Tư, Árập, Việt Nam cũng chấp nhận cây đàn violon, vì nó nói được tiếng nói âm nhạc của các nước ấy một cách rất rõ ràng trong vài trường hợp. Nhưng người Inđônêxia, thà dùng cây đàn kéo cung rebab, người Khmer thà dùng cây tro chey, người Thái Lan thà dùng cây saw-sam-sai, hơn dùng cây violon, vì đàn này không nói được rõ ràng tiếng nói âm nhạc của các dân tộc ấy. 
Do đó, chúng ta thấy rằng muốn được coi như là nhạc khí dân tộc, phải có được ít nhất là ba điều kiện số 3, 4, 5 mà chúng tôi đã nêu phía trên. Nếu không, thì dầu cho có một thiểu số mê những nhạc cụ, nhạc khí du nhập từ nước ngoài, các nhạc khí ấy sẽ không bao giờ được mang danh là nhạc khí dân tộc.