Hiển thị các bài đăng có nhãn Alanphan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Alanphan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

4 trái chuối giá 50.000 VND

4 trái chuối giá 50.000 VND
Nguồn:gocnhinalan.com
Zetal – Triết Học Đường Phố – 4 Mar 2015
4 trai chuoi
Tôi vừa mua 4 trái chuối ở một cửa hàng tiện lợi của Nhật với giá 266 yên (246 yên + 8% thuế tiêu thụ). Nếu tính tỉ giá 1 yên = 180 đồng thì 4 trái chuối này có giá 47.880 đồng. Tôi nhắc lại: đây là giá của 4 trái chuối, 4 trái chứ không phải 4 nải! Ở Việt Nam, với số tiền đó bạn có thể ăn bao nhiêu chuối?
Trước khi bạn đem vật giá ra so sánh, trước khi bạn bàn đến chi phí vận chuyển các thứ thì cho phép tôi nói thêm: 4 trái chuối đó có xuất xứ từ Peru, Nhật Bản không có chuối! Và đây là lần đầu tôi ăn chuối Peru ở Nhật, bình thường thì tôi vẫn ăn chuối Philippines với giá 136 yên (24.480 đồng) cho 4 trái, nhưng hôm nay chuối Phi hết hàng. Đọc đến đây có lẽ bạn cũng nghĩ được điều mà tôi đã nghĩ: Tại sao lại là chuối Peru và Philippines mà không phải là Việt Nam? Tại sao?
Có lẽ bạn chưa biết rằng nông sản nội địa của Nhật chưa bao giờ đáp ứng đủ nhu cầu cho người dân nước này. Cho nên họ buộc phải nhập thêm nông sản từ khắp nơi trên thế giới về để bổ sung nguồn cung. Vậy nông sản Việt chiếm bao nhiêu % thị phần?
Nếu bạn hỏi tôi thì tôi xin thành thật trả lời rằng: Tôi không biết! Tôi không phải một nhà thống kê kinh tế nên tôi không trả lời câu hỏi đó cho bạn được. Nhưng không khó để dẫn chứng cho các bạn mường tượng qua những thông tin báo chí đã đăng.
Vào tháng 6 năm 2014 nông dân tỉnh Bắc Giang đem bán tháo vải ra đầy đường. Dự báo với sản lượng vải 140.000 tấn, trong đó, tiêu thụ nội địa khoảng 60%, xuất khẩu 40% (Trung Quốc chiếm khoảng 95% sản lượng xuất khẩu.). Trong khi đó thị trường Nhật không có lấy 1 kg vải Việt Nam nào được nhập. Bộ Khoa học đã xuất khẩu 10 tấn vải ngay trong tháng 7 năm 2014 để làm mẫu cho Nhật Bản kiểm định, người ta bắt đầu mơ về cái giá 16$/5 quả vải ở thị trường này. [1]
Thêm một thông tin khác: theo ông Hoàng Trung, Phó Cục trưởng Cục BVTV thì “Vải ở Mỹ thì tôi không rõ lắm, nhưng ở Nhật, 3 quả vải trị giá 1 USD. Hay như nhãn của Thái Lan XK sang Mỹ, tôi thấy họ bán khoảng 30-40 USD/hộp 5kg. Như vậy so với Việt Nam thì cao hơn rất nhiều lần. Tôi nghĩ nếu XK sang Mỹ thì cũng sẽ có giá cao như vậy thôi.” [2]
*Nếu bạn nào thắc mắc sao lại có 2 cái giá: 3 quả/1$ và 5 quả/16$ ở cùng thị trường thì xin mời bạn tìm hiểu về tương quan giữa giá vốn – giá bán và lượng hàng hóa, quan hệ cung cầu.
Video Link:

Câu hỏi dành cho bạn ở đây: Tại sao lại phải là các cơ quan nhà nước đem nông sản đi giới thiệu, kiểm định ở các nước mà không phải là các doanh nghiệp tư nhân? Liệu cơ quan nhà nước có bao quát hết các mặt hàng nông sản không? Liệu cơ quan nhà nước có thể giới thiệu nông sản Việt đến tất cả các nước không?
Còn rất nhiều vụ bán đổ bán tháo, thậm chí là vứt cho gia súc làm thức ăn. Còn rất nhiều vụ đốt bỏ, chặt bỏ, đổ bỏ khác mà tôi không nêu ra. Đơn giản vì tôi không chắc các loại nông sản đó có thể tiêu thụ được ở Nhật hay một quốc gia nào đó hay không?
bao articles nông nghiệp
Đến đây mời bạn trả lời các câu hỏi sau:
  1. Ai là      người quyết định số phận của nông dân? Là doanh nghiệp xuất nhập khẩu,      thương lái nội địa hay người tiêu dùng?
  2. Ai là      người quyết định số phận doanh nghiệp và thương lái? Là người tiêu dùng      hay là chính sách xuất nhập khẩu, các quy định về chất lượng sản phẩm      trong thị trường nội đia, các khâu vận chuyển, kiểm duyệt sản phẩm?
  3. Ai là      người quyết định chính sách xuất nhập khẩu, các quy định về chất lượng sản      phẩm trong thị trường nội địa, các khâu vận chuyển, kiểm duyệt sản phẩm?      Là người tiêu dùng hay các cơ quan nhà nước?
  4. Ai là      người quyết định bổ nhiệm, tuyển dụng các cán bộ làm việc trong các cơ      quan nhà nước liên quan đến các vấn đề trên? Là người tiêu dùng, nông dân      hay là một Đảng phải chính trị nào?
  5. Ai là      người quyết định sức khỏe của người tiêu dùng khi tiêu thụ nông sản? Là      nông dân, các cơ quan nhà nước hay một Đảng phái chính trị?
*** Nếu bạn không trả lời được các câu hỏi trên thì xin theo dõi tiếp những bài viết của chúng tôi trong thời gian tới. Kinh tế học có thể trả lời những câu hỏi trên và nhiều câu hỏi nữa

Gửi các Zombie và độc giả của Triết Học Đường Phố

Các bạn nằm trong số ít giới trẻ Việt Nam hiện nay quan tâm đến tình hình đất nước, chịu đầu tư suy nghĩ để tìm ra một con đường đưa đất nước này đi lên. Đó thực là một điều đáng quý.
Tuy nhiên, hẳn các bạn cũng đồng ý với tôi, khát vọng và nhiệt huyết muốn thay đổi không thôi chưa đủ. Muốn đưa đất nước tiến lên, các bạn còn cần phải có tri thức.
Trong đó, tôi trộm nghĩ tri thức về kinh tế học nằm trong những thứ tri thức quan trọng nhất.
Bởi vì sao? Vì phải hiểu kinh tế học thì mới đề ra được những chính sách tốt. Chính sách không tốt thì người tài sẽ bỏ đi, tài nguyên sẽ bị phí phạm, sản xuất sẽ không phát triển được. Mà chính sách tốt thì kinh tế vững.
Chúng ta muốn không bị phụ thuộc vào Trung Quốc, muốn xây nhiều trường học, bệnh viện, muốn xóa bỏ hủ tục. Nếu kinh tế nước ta giàu mạnh thì có phải làm những điều đó dễ hơn biết bao nhiêu?
Nếu không hiểu biết về kinh tế học, thì sẽ không thể biết được và không thể tranh luận một cách nghiêm túc được chính sách nào tốt, chính sách nào kém. Và cần nhiều người như các bạn quan tâm và có ý kiến đúng đắn về các chính sách, thì xã hội dân chủ mới hoạt động được hết hiệu quả, đất nước mới tiến bộ được.
Vậy thì bây giờ học kinh tế bằng cách nào? Cái này mỗi người một ý, nhưng theo tôi thì các bạn nên bắt đầu từ các trường phái Neoclassical và Keynesian. Không hẳn là các trường phái này ưu việt nhất, nhưng cả thế giới này đang học và dùng chúng, do đó chúng ta cần phải biết và hiểu chúng.
(*Ghi chú: THĐP không đi theo 2 trường phái kinh tế này, mà đi theo hướng của trường phái kinh tế Áo, Austrian Economics, muốn tìm hiểu thêm thì tìm đọc Ludwig von Mises, Keynesian economics được giảng dạy đại trà là vì nó thiên về chủ nghĩa nhà nước, còn Austrian economics thì thiên về chủ nghĩa tự do.)
Nếu không hiểu các trường phái này thì chúng ta sẽ không nói cùng một thứ ngôn ngữ với đa số các nhà kinh tế học hiện hành.
Có lẽ ai cũng ngại việc bắt tay vào tìm hiểu một bộ môn mới từ con số không. Vì thế tôi xin giới thiệu với các bạn một sê-ri video Kinh Tế nhập môn của các bạn Kinh Tế Không Kinh Thế. Các video này khá nhẹ nhàng, không quá cầu kỳ, có thể giúp người xem bổ sung những khái niệm cơ bản nhất về kinh tế. Các bạn xem sẽ thấy kinh tế không khó hiểu như các “chuyên gia” vẫn thường dọa chúng ta để giữ cho người dân không muốn tìm hiểu về kinh tế và bóc trần những sai sót của họ.
Nếu mỗi ngày bạn dành ra 30 phút để tìm hiểu về kinh tế, tham gia thảo luận, nhìn nhận các vấn đề thì bạn sẽ nhanh chóng tích lũy được kiến thức kinh tế và nhìn ra các vấn đề.

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Những Kẻ Ăn Xin ở Việt Nam?

Những Kẻ Ăn Xin ở Việt Nam?

Khi đất nước trở thành trại tế bần
VietTuSaiGon – RFA – 25 Feb 2015
4_zing
Đầu Xuân, trăm hoa đua nở, người người diện áo mới ra đường, các quan khoe mẽ sự giàu có tột đỉnh, các đài, báo trong nước tha hồ tán về một năm thắng lợi, thành công, ổn định… Sao lại nói đất nước là một cái trại tế bần? Xin mở ngoặc chỗ này: Đất nước là một cái trại tế bần lớn, trong đó, những người lao động nghèo cùng chung tay với tư bản để bố thí, nuôi nấng, cưu mang cho các quan chức CS.
Đất nước này là một cái trại tế bần vĩ đại với hàng triệu kẻ ăn xin trên lưng nhân dân. Đừng nhầm tưởng những người ăn xin, lăn lóc ngoài đầu đường xó chợ mới là ăn mày. Trong khía cạnh số phận và công việc, họ thật sự là những người ăn xin nhưng sâu xa hơn, trên góc độ chính trị, họ cũng là những người đang bố thí cho các quan, các quan mới là kẻ ăn mày.
Vì sao lại có kiểu lập luận ngược ngạo và vô lý này? Bởi lẽ, thi thoảng vẫn thấy các ông quan, bà quan nhà móc túi, bố thí cho người ăn xin cơ mà? Không, đó là cái mà ai cũng có thể làm được và ai cũng có thể nhìn thấy. Bởi giới ăn mày, ăn xin họ rất sòng phẵng, cho dù sự sòng phẵng này có léo hánh, có xảo quyệt (mạnh khỏe mà vẫn đóng bộ yếu đuối để lăn lóc ăn xin) chăng nữa thì ít nhất, họ cũng chấp nhận thân phận của một người ngửa tay xin sự ban ơn, xin lòng thương của đồng loại. Họ không dấm dúi về thân phận ăn mày của mình, họ hoàn toàn khác với các quan chức.
Thử hỏi, trong đất nước này, ai là kẻ nhân danh một dân tộc cả trăm triệu người này để vay vốn nước ngoài, xin viện trợ nước ngoài để rồi tư túi, tùng xẻo, phân năm xẻ bảy trong bè lũ, phe nhóm với nhau? Chắc chắn không có ai ngoài những quan chức cấp cao trong nhà nước, chính phủ, trung ương. Chỉ có họ mới đủ thẩm quyền để làm điều này. Và khi các nước khác mở hầu bao viện trợ nhân đạo, cho vay không hoàn vốn, cho vay lâu dài… Nhóm quan lại từ trung ương đến địa phương đã bỏ túi một phần không nhỏ.
Thử hỏi: Ai đã nhận hối lộ, và ai đã hối lộ? Đương nhiên là quan chức bề trên nhận hối lộ của cấp dưới, cấp dưới lại nhận của cấp thấp hơn. Và để có cái mà hối lộ, giới quan lại đã không ngần ngại tham nhũng, đục khoét, bán đứng lãnh thổ, lãnh hải, bán đứng danh dự dân tộc, thao túng công quĩ, biển thủ… Có như vậy họ mới có tiền để cống nạp cấp trên. Và chuyện này cũng không nằm ngoài vấn đề cướp đất của dân lành để hô biến thành những dự án, sau đó bán đất dự án bỏ túi.
Tất cả những hành vi tham nhũng, hối lộ, biển thủ của công… Đều cho thấy khả năng tự làm kinh tế của giới quan lại rất thấp, nếu không muốn nói là họ không có khả năng này, họ phải ăn cắp, ăn xin của nhân dân và làm giàu bằng tiền ăn cắp, ăn xin. Cho dù ăn cắp, tham nhũng hay ăn xin, xét về bản chất, căn cội của hành vi này, đều là ăn mày, bất lực từ căn để và tự dối lòng mình, tự lấp liếm với danh dự để ăn mày của nhân dân.
Thử hỏi, ngân sách quốc gia do đâu mà có nếu không phải là do thuế của nhân dân đóng góp? Với kiểu thu thuế theo định mức giá trị gia tăng, từ chai thuốc trừ sâu cho đến bó rau, hạt lúa, củ cải, trái bắp và cả cái ca để người ăn mày ngửa ra giữa chợ hay cái nón lá để người ăn mày ngửa xin giữa cuộc đời đều có thuế trong đó. Vấn đề thuế của nhân dân là bao trùm, từ chén cơm cho đến hạt gạo. Vậy suy cho cùng, người ăn mày ngửa tay xin ngoài chợ đời nhưng vẫn phải đóng thuế cho nhà nước mỗi khi mua bất cứ một thứ hàng hóa nào trên đất nước hình chữ S này.
Và một khi các quan ăn chặn thuế của nhân dân, biển thủ công quĩ, điều này chứng tỏ bọn họ đã thành một loại “ăn mày của ăn mày”. Suy cho cùng, quan chức càng lớn thì mức độ ăn mày và độ dày của da mặt càng cao, chả có gì để hãnh diện hay tự hào!
Thế nhưng bọn họ vẫn dương dương tự đắc, tự cho mình tài giỏi, đạo đức, biết cống hiến cho xã hội. Đó là một bi kịch của dân tộc! Không có bi kịch nào lớn hơn bi kịch mà ở đó, những kẻ ăn mày lại luôn xem mình là ân nhân, là kẻ bố thí, còn những người bố thí lại phải sống thân phận ăn mày. Điều đó đang xãy ra trên đất nước này.
Và cũng không có bi kịch nào đáng sợ hơn sinh mệnh và danh dự của gần một trăm triệu ông chủ, bà chủ, cô chủ, cậu chủ phải bị mang ra thế chấp để vay nợ, để một số nhỏ ăn mày được sống phè phỡn, giàu có, vương giả và lạnh lùng nhìn chủ của mình, ân nhân và cũng là nạn nhân của mình phải chịu đói rét, đau khổ, u tối. Điều đó e rằng xãy ra rất hãn hữu, ở các nước thuộc về thế giới thứ ba và một số nước độc tài, trong đó, Việt nam đứng ở vị trí chủ chốt!
Đã hơn bốn mươi mùa xuân trôi qua, người dân miền Nam đã nếm đủ mọi nỗi khổ nhục và cũng đã hơn bảy mươi mùa Xuân, người dân miền Bắc nếm đủ mất mát, hy sinh, đau khổ và tủi nhục. Tất cả những gì người dân cống hiến, ban tặng cho cái chế độ này không gì khác là những cái bằng khen, những cái huy chương nếu bán giấy lộn và đồng nát chẳng mua đủ một bữa cơm. Và những gì họ bố thí cho cái chính thể Cộng sản xã hội chủ nghĩa này đã quá đủ. Đã đến lúc những người bố thí phải dừng ngay việc bố thí bằng cách này hay cách khác.
Và cũng đã đến lúc những kẻ trộm cắp, những kẻ nhận bố thí, ăn mày trên xương máu và số phận của nhân dân phải dừng ngay việc sống bám của họ, phải biết học hai chữ “tự trọng” và cần tìm hiểu thế nào là danh dự, làm người. Họ cũng cần phải xem việc sống phè phỡn trên xương máu cũng như sự bố thí của tổ tiên, dân tộc là một cái tội. Mà tội đầu tiên là tội lừa dối, lừa dối tổ tiên, lừa dối dân tộc, lừa dối cộng đồng quốc tế, và đáng nói hơn cả là lừa dối bản thân, xem sự ăn mày, ăn bám nhân dân của mình là một thứ công trạng.
Một khi kẻ ăn mày bớt nhỡn nhơ, biết xấu hổ trước đồng loại và người tài biết đứng lên xây dựng quê hương, dân tộc thì mới hy vọng vào sự tồn vong của đất nước này! Một năm mới, cũng là một bước khởi sự cho một vận hội mới! Hãy thôi ngay việc biến đất nước này thành một trại tế bần!

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

Tết: Cơ quan thì trống, rượu quà thì đông

Tết: Cơ quan thì trống, rượu quà thì đông
Nguồn:gocnhinalan.com
Phúc Lai Tuan Vietnam 12 Feb 2015
Những Ngày Giáp Tết
Những Ngày Giáp Tết
Mò ra đường, mới thấy cái sự đi lại ngày giáp Tết nó ngổn ngang. Ai cũng có một khuôn mặt lo lắng, căng thẳng lại ngược xuôi.
Lâu nay, Tết cổ truyền dân tộc thường vẫn được ca ngợi là một truyền thống tốt đẹp, gia đình sum vầy quây quần, chúc tụng nhau, hướng về một năm mới lạc quan, nhìn lại một năm thành công, mong sắp tới thành công hơn. Hoặc bỏ lại một năm khó khăn mong về một năm hết khó… Hết thảy đều đúng và mục đích đều tốt đẹp.
Nhưng nhìn lại một chút. Mỗi năm, gặp ai ta cũng chúc cùng những câu như thế, có thể chua thêm ý này ý khác cho đỡ nhàm. Cũng một phần do ta mong mỏi. Một phần khác là muốn làm mọi người vui trong ngày Tết.
Nhưng quan trọng hơn, phải chăng bởi người Việt Nam ta vốn lạc quan, cái lạc quan của người nông dân dễ quên đi những khó khăn trước mắt, chỉ thấy cái sự no đủ của ngày hôm nay mà quên đi rất rất nhiều thứ, cả những khó khăn phía trước còn rất nhiều cũng tạm quên đi. Họ còn tạm quên cả những cái khó khăn vừa mới hôm qua thôi, còn chạy vạy để gia đình có được cái Tết. Cũng đủ thấy người Việt Nam ta còn tin tưởng vào vận may nhiều lắm.
Cuối năm cứ đến Bà chúa Kho là đủ thấy, người ta tin cái chuyện vay – trả của bà ấy đến như thế nào. Của nả đầu năm vay, cuối năm trả, đến hẹn lại lên, chen nhau “bẹp ruột”. Ra Giêng người ta còn đi xin ấn Đền Trần, chen nhau cũng sứt đầu mẻ trán. Trong khi nếu lười biếng thì rồi cũng chẳng có gì tự dưng mà khởi sắc.
Rồi công việc như ngừng trệ hết cả lại. Ở một số cơ quan Nhà nước, chẳng ai muốn làm việc. Lịch họp tổng kết cuối năm, liên hoan văn nghệ hát hò, nhậu nhẹt… thôi thì kín cả. Nhậu trưa, thì có cơ quan nghỉ luôn cả buổi chiều, chỉ còn mỗi mấy nhân viên, hành chính mới ra trường, lơ ngơ trực cơ quan… mà nhiều người mặt còn đỏ dừ, miệng thơm mùi rượu.
Theo tôi biết, Nhật Bản đã ghép ăn Tết âm lịch vào Tết dương lịch. Theo thiển ý của tôi, đây là một quyết định hay, đúng đắn. Ăn hai Tết, thì thời gian giữa hai cái Tết đó gần như là “vứt đi”, công việc uể oải. Tết Âm lịch nghỉ dài đến gần chục ngày, về mặt kinh tế có thể kích thích tiêu dùng, du lịch, nhưng cũng lại là một sự lãng phí về mặt xã hội. Đầu tiên là lãng phí thời gian. Sau đó là lãng phí của cải tiêu thụ. Cứ nhìn các đại lý rượu bia trước Tết 2, 3 tháng vào vụ thì rõ, chưa cần nói đến lượng rượu của họ cung ứng cho xã hội sau một cái Tết. Làm một cái Tết, ăn chơi cả năm là như thế.
Ra Giêng, vẫn những cơ quan đó, cũng lại mất một khoảng thời gian “tái hòa nhập”. Mấy ngày đầu, họ đi chúc tụng lẫn nhau, các phòng ban trong nội bộ, rồi các cơ quan bạn bè, hàng xóm… rồi là lễ lạt, rồi vài ngày lại có một người mời về nhà ăn uống. Cứ thế, cứ thế kéo dài đến tận Rằm.
Chán ngán nhất là ngày Rằm tháng Giêng. Ở đâu đó người ta nói, về sau cả xã hội người ta nói cái câu Lễ cả năm không bằng Rằm tháng Giêng. Tôi có cảm giác người ta vin vào cái câu đó vì cái ngày Rằm tháng Giêng đang là một cái gì đó tiếc nuối, cào cấu cho cái Tết vui chơi nhảy múa vừa qua đi. Không ít nhà, Rằm tháng Giêng kéo dài đến ngày 20, gần một tuần.
Năm nào cũng thế, bụng bảo dạ rằng chẳng cần bày vẽ cỗ bàn làm gì cho mệt, ăn uống cả năm rồi, chứ có riêng gì ba ngày Tết đâu. Xác định được như thế, thì cũng sẽ đỡ được chuyện phi ra đường hối hả lo một vài việc không tên. Nhưng thường thì mọi sự đâu có như ý.
Mò ra đường, mới thấy cái sự đi lại ngày giáp Tết nó ngổn ngang. Ai bảo là vui như Tết, là chẳng hiểu cái gì về Tết. Phải là lo như Tết. Ai cũng có một khuôn mặt lo lắng, căng thẳng lại ngược xuôi. Xe cộ từ các tỉnh nườm nượp đổ về Thủ đô. Vậy nên, đi ra đường tầm đó, không kiềm chế, va chạm nhỏ thành to chuyện như chơi.
Suy cho cùng, nếu thủ tiêu hẳn cái sự “ăn” Tết cũng là không nên. Rất rất nhiều người chỉ trông vào những dịp lễ, Tết để kiếm được thêm một chút thu nhập. Nhưng cũng không thiếu những kẻ gán vào đó để trục lợi tăng giá, như trông xe lên gấp dăm bảy lần xung quanh những tụ điểm vui chơi, như vé xe cũng lên chóng mặt dù giá xăng dầu giảm liên tục…
Người và người, ngược xuôi, xuôi ngược lo cho xong cái Tết. Ngẫm thấy cái Tết của ta sao mà khổ.
Nhớ có năm trước Tết (Dương lịch) ở Mátxcơva, anh lái xe trolleybus đi qua cửa hàng thấy người ta xếp hàng dài mua hàng, anh ta đánh lái cho xe chúc đầu vào vỉa ba-toa (tiếng Pháp: trottoire), cần tiếp xúc rớt ra khỏi đường dây điện. Anh ta điềm nhiên thông báo xe hỏng, phải chờ xe của trung tâm đến kéo, bà con lục tục xuống – và anh ta xách túi xuống xếp hàng – chắc thực hiện nhiệm vụ mua hàng Tết vợ giao. Hóa ra, Tết Nga cũng khổ chẳng kém Tết ta.
Ngày thường tham gia giao thông ở thành phố đã là một trận chiến đấu. Ngày Tết, trận chiến đấu đó nó gian nan, khó khăn vất vả gấp bội. Những điểm nút giao thông ra khỏi thành phố người chen xe, xe chen người ken nhau san sát – bà con vội vã đi về quê, lỉnh kỉnh chở theo đủ thứ.
Sáng mùng Một cái cảnh đó biến mất, một sự quang đãng đến đê mê ùa đến với bà con ở lại thành phố. Từ mùng Hai, cái sung sướng đó giảm dần đến tầm mùng Ba, mùng Bốn, bà con từ quê lại ùn ùn kéo lên, vẫn lỉnh kỉnh chở theo đủ thứ khác.
Một năm mới nhiều lo toan, vất vả bắt đầu… 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Havana Noir, mặt trái của thiên đường cộng sản

Havana Noir, mặt trái của thiên đường cộng sản
Nguồn:gocnhinalan.com
Việt Nguyên – Theo saohomsaomai – 7 Feb 2015
 us cuba
Hai mươi năm sau ngày bang giao với Việt Nam, Hoa Kỳ bắt tay với Cuba kẻ thù bên cạnh trên 50 năm với lãnh tụ cộng sản Fidel Castro sống sót qua 10 đời tổng thống Hoa Kỳ từ sau cuộc cách mạng Cộng Sản lật đổ chính quyền quân phiệt của Tổng Thống Fulgencia Batista năm 1959. Batista chạy qua Cộng Hòa Dominique, Fidel Castro thân thiện với Xô Viết đã làm CIA nổi giận mưu sát Castro bằng điếu xì gà với thuốc nổ và đảo chính thất bại với cuộc tấn công vào vịnh con heo của chính quyền Kennedy năm 1961.

Ðồng minh với Xô Viết, hỏa tiễn liên lục địa đặt ở Cuba đã gây ra khủng hoảng năm 1962 với sự thắng lợi của Hoa Kỳ. Xô Viết nhượng bộ Hoa Kỳ nhưng Fidel Castro đi vào con đường độc tài độc đảng cộng sản đầu tiên ở Châu Mỹ đưa đến chính sách cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ từ năm 1962.
Tháng 12 năm 2014, Fidel Castro lùi vào bóng tối từ năm 2008 đã nhận giải Hòa Bình Khổng Tử của cộng sản Trung Quốc. Với ông em Raul Castro, Cuba đã trao đổi tù nhân gián điệp khác với 53 năm trước, Fidel Castro đã đuổi nhân viên tòa đại sứ Hoa kỳ vì nghi ngờ làm gián điệp.
Tình hình chính trị của Cuba và Việt Nam hơi giống nhau, chiến tranh nóng bắt đầu từ tổng thống dân chủ. Một Kennedy năm 1962 nóng hổi với khủng hoảng Cuba rồi qua Việt Nam lật đổ chính quyền Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tuyên bố sẽ giúp bất cứ chính quyền nào yêu tự do nhưng Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam và tổng thống dân chủ Bill Clinton bình thường hóa bang giao với Việt Nam. Tổng thống dân chủ Barack Obama làm những người yêu tự do chống Fidel Castro nổi giận nhưng ông đi theo con đường giống như ông tổng thống dân chủ tiền nhiệm Bill Clinton, đặt an ninh và quyền lợi của Hoa Kỳ ưu tiên trong chính sách ngoại giao.
Những người yêu du lịch đang chờ đợi bang giao chính thức với Cuba để đến Havana đi ngắm cảnh, vào những hộp đêm với điếu xì gà Cuba trên môi như nhà văn Hemingway đã chọn Havana làm nhà trong thập niên 1930. Havana với những huyền thoại, với những thần tượng Che Guevara, Fidel Castro và Ernest Hemingway của dân Cuba. Không đến được Havana thủ đô Cuba trong lúc này, tôi đọc những truyện về “Havana xã hội đen” để thấy bộ mặt trái của Cuba và để tìm hiểu tấm lòng của người dân Cuba dưới chế độ Cộng Sản và rồi tôi tìm thấy những người Cuba có cùng một cảm nghĩ, một tấm lòng và một hoàn cảnh giống như những người Việt Nam sống trong xã hội Cộng Sản.
Năm 1959, Fidel Castro vào Havana, đời sống Cuba bắt đầu khó khăn. Cuba không còn là hải đảo thần tiên dành cho du khách như Hemingway với những khách sạn sang trọng, với rượu Whiskey, cigar Cuba. Những khu vườn thơ mộng của Havana (có nghĩa là “nơi cạnh nước”) không còn giữ được những vẻ huyền nhiệm khi Havana trở nên thủ đô của cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa. Năm 1960, những người Do Thái có tiền chạy về Nữu Ước, những chung cư đẹp đẽ bị bỏ hoang, vách tường vôi nham nhở, điện nước bị cắt thường trực, thủ đô đầy những chiếc xe hơi cũ kỹ như Sài Gòn sau năm 1975 hay như Hà Nội trước năm 1995 ngày bang giao với Hoa Kỳ. Công an được gọi là “cảnh sát cách mạng quốc gia” kiểm soát dân. Ðời sống Havana không khác gì đời sống của các xứ Cộng Sản Âu Châu, Á Châu, Xô Viết, Trung Hoa hay Việt Nam. Giống nhất là như Việt Nam sau khi Xô Viết hết viện trợ, dân sống lây lất qua ngày với xăng nhớt, thực phẩm, nhu yếu phẩm từ những cửa hàng quốc doanh. Sau khi Xô Viết sụp, thời kỳ sau 1991 là “thời kỳ đặc biệt,” như Việt Nam vào thời kỳ cấm vận đời sống khó khăn, chính quyền Cuba không có khả năng nuôi dân (thời kỳ này ở Việt Nam, Thủ Tướng Phan Văn Khải phải thú nhận Việt Nam kiệt quệ vì chính quyền chỉ dựa vào Xô Viết, Trung Cộng và các nước Cộng Sản Ðông Âu). Castro cổ động tinh thần đảng viên và dân bằng khẩu hiệu: “Xã Hội Chủ Nghĩa hay là chết,” dân Havana không muốn chết đói, chạy trốn Xã Hội Chủ Nghĩa bằng cách trốn ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh qua Miami mặc dù cơ hội chết đuối vì sóng biển hay làm mồi cho cá mập cao hơn cơ hội nhìn thấy bến bờ tự do.
Kinh tế gia Hoa Kỳ năm 1992 đã dự đoán khẩu phần của chính quyền Cuba dành cho mỗi người dân chỉ đủ nuôi họ từ một tuần đến mười ngày so với nửa lạng thịt bò trong Hamburger Mc Donald trước “thời kỳ đặc biệt.” Không thấy tương lai, ra đường dân gọi Fidel Castro với giọng kính trọng “Uncle Castro” về nhà họ chửi bác Castro là thằng chó đẻ (son of the bitch).
Ðói là biểu tượng của chế độ Cộng Sản, đói là hậu quả của nền kinh tế thất bại Xã Hội Chủ Nghĩa, dân Nga, Trung Hoa, Việt Nam, Ðông Âu sống dưới thời Cộng Sản ai cũng thấm cảnh đói. Ðói làm con người đánh mất phẩm giá. Ðọc truyện viết “Bữa ăn tối” của Carolina Garcia Aguilera tôi đã phải xúc động và bàng hoàng.
Câu chuyện “Bữa ăn tối” nằm trong khoảng thời gian tháng 7 năm 1992. Căn nhà của Rodriguez Lopez ở khu Flores thủ đô Havana trước là biệt thự lộng lẫy nay đã mọc rêu, tường vôi đổ nát, vườn không chăm sóc, bồn nước cạn, cây ngã, lá cây phủ đầy hồ bơi. Căn nhà ngày xưa lúc nào cũng nhộn nhịp với khách khứa đầy nhà trước những năm cách mạng nay gần như là nhà hoang với ba người, ông Luis, bà vợ Maria và người làm Eladio. Năm 1960, cả nhà ông Luis bỏ đi khỏi Cuba nhưng ông ở lại vì “ngôi nhà không phải chỉ là một công trình xây cất mà là một phần đời,” “rời bỏ nhà có nghĩa là dứt bỏ lịch sử gia đình.” Fidel Castro tịch thu nhà những người Cuba bỏ đi ngoại quốc, ở lại nhà là cách để giữ nhà sau ngày cách mạng mặc dù không có gì bảo đảm là người ở lại không bị đuổi ra hay phải chứng kiến cảnh những người lạ dọn vào nhà. Ôi, cách mạng Cộng Sản vô sản! Dân Cuba khi rời Cuba phải giao chìa khóa đến tận tay cán bộ vào ngày lên máy bay. Người ở lại nhà có thể cho thuê nhưng cho thuê là bất hợp pháp, mặt khác người thuê nhà ở ba năm không chịu đi ra có thể được thành chủ của ngôi nhà.
Không chấp nhận người lạ vào nhà nên Eladio đã làm người giúp việc cho ông Luis Rodriguez Lopez trên 40 năm. Eladio và Luis trong 30 năm sau cách mạng xem nhau như bạn, không được trả tiền, Eladio vẫn làm cho Luis. Sống với nhau 30 năm, năm 1972 hai người bạn nay hơn 70 tuổi, diện mạo giọng nói trở nên giống nhau, những người không biết họ lầm giữa Eladio và Luis, hai người cùng chiều cao một mét tám lùn bớt theo thời gian. Luis học trường Công Giáo Balem giống như Fidel Castro.
Mỗi bốn năm, Luis và ba người bạn làm buổi tiệc để kỷ niệm ngày còn trẻ họ đã đoạt giải đua thuyền năm 1962. Bữa tiệc theo truyền thống với thực đơn luôn luôn là đồ biển. Trước thời Castro, Havana đầy hải sản, trong “thời kỳ đặc biệt” thực phẩm hiếm hoi hải sản được dành cho du khách (như Việt Nam trước 1995) chỉ có cán bộ giàu có được hưởng các thức ăn sang trọng. Năm 1992, đời sống khó khăn, có thức ăn trên bàn ăn mỗi ngày là một hãnh diện của dân Havana. Buổi ăn năm ngoái vào ngày 10 tháng 8 ở nhà Ricardo có được là nhờ Ricardo bán bức tranh quý, hình anh hùng Cuba Jose Murti, bức tranh gia phả từ nhiều đời của gia đình Ricardo. Năm nay đến phiên Luis làm chủ đãi bạn, ông cố tìm hải sản trong thực đơn hàng năm.
Một tuần trước buổi ăn, Luis chỉ có khả năng cung cấp món cơm, ông suy nghĩ bạc đầu, khi gia đình Rodriguez Lopez cần món gì trong mấy năm cách mạng họ bán đi những món đồ quí giá còn trong nhà, bàn ghế, đồ trang sức, quần áo, vàng, bạc,… nhưng sau 40 năm cách mạng nhà của Rodriguez Lopez không còn món đồ gì quý giá để bán. Các gia đình khác có con cái ở ngoại quốc còn thức ăn nhờ con gởi tiền về như ba ông bạn già của Luis mua thực phẩm chợ đen ngoài tem phiếu chính phủ nhưng năm 1992 họ cũng khó mua hải sản, cua, tôm, tôm hùm những món ăn bất hợp pháp. Luis đã bán chiếc đồng hồ Patek Phillipe mấy năm trước, bà vợ Maria Eugenia còn chiếc nhẫn cưới. Hai vợ chồng quyết định không bán chiếc nhẫn ngoại trừ khi họ chết đói. Luis càng ngày càng buồn rầu, sinh chứng trầm cảm, gần đến ngày hội ngộ ông càng buồn rầu thêm nhưng đối với Luis bán chiếc nhẫn đi có nghĩa là niềm hy vọng tiêu tan, Luis không chấp nhận, “bán chiếc nhẫn là đánh mất biểu hiệu của hôn nhân.”
Gần 48 giờ trước bữa ăn hội ngộ buổi sáng sau khi ăn điểm tâm Luis gọi Eladio để nói chuyện riêng không muốn Maria Eugenia nghe. Luis: “Này Eladio, tôi không hỏi ông đi tìm tôm hùm, tôm, cua. Ông đã tìm, Maria Eugenia vợ tôi đã đi tìm, tôi đã tìm.” Luis lắc đầu chậm rãi nói: “Hải sản không thể tìm được bất cứ ở nơi nào, chúng ta đã biết vậy. ” Luis đứng dậy: “Không, Eladio, tôi yêu cầu ông một việc quan trọng, trầm trọng hơn thế.” Luis đặt tay trên vai Eladio, “Eladio, tôi hỏi ông một việc dù tôi không có quyền hỏi nhưng ông cũng hiểu là tôi không còn một chọn lựa nào khác.” “Nếu tôi không làm tiệc đàng hoàng đãi bạn tôi không thể sống. Sự xấu hổ sẽ kéo dài mãi. Tôi có thể sống xấu hổ trong một thời gian ngắn nhưng tôi không thể chịu nhục nhã…” “Gia đình Rodriguez Lopez là một gia đình danh giá, 150 năm trước chúng tôi đã đánh quân Tây Ban Nha giành độc lập cho Cuba, chúng ta đã phải trả giá đắt, nhiều thanh niên đã chết nhưng những cái chết đó là cái chết danh dự.” Luis cảm thấy chỉ có một cách thoát khỏi bổn phận ràng buộc, cách duy nhất là chết.”
Eladio kinh hoàng: “Ðãi tiệc bằng thức ăn nào không quan trọng, quan trọng là bạn bè gặp nhau. Họ muốn ngồi lại với ông thôi, món ăn không quan trọng” nhưng Luis một lần nữa nhắc Eladio “ bữa ăn tối này quan trọng hơn phần đời còn lại của tôi, cách giải quyết duy nhất là hủy bỏ buổi ăn tối vì cái chết của tôi.” Luis yêu cầu Eladio giết ông, ông đã gặp cha Antonio thú tội và rửa tội. Công Giáo cấm tự vẫn, người Công Giáo tự vẫn không được chôn ở đất thiêng. Luis đã quỳ cầu nguyện trong nhà thờ xin tha thứ, cầu nguyện cho cả Eladio: “Tôi đã nhìn thấy ông giết gà, chim bồ câu và heo để đãi tiệc ngày lễ Giáng Sinh mấy năm trước. Ông đã bẻ cổ mấy con thú rất nhanh và gọn không gây đau đớn cho chúng.” Eladio không nói nên lời. Luis cho biết: “Sau khi ông bẻ cổ tôi, ông sẽ đến nói với vợ tôi là khi tôi ra vườn nhặt rau để làm cơm chiều tôi té xỉu nhưng không muốn ông chạy kêu cầu cứu. Tôi chết, ông nghĩ là vì bị trụy tim hay tai biến mạch máu não. Sau khi tôi chết ông nói với vợ tôi đừng đi báo cho chính quyền sở tại để chúng không đến tịch thu nhà hay đưa người vào nhà ở chung. Mọi chuyện sẽ bình thường với hai người trong nhà và hy vọng là sự điên cuồng này của chế độ sẽ có ngày chấm dứt.” Luis chết mãn nguyện.
Eladio đã thực hành ước nguyện của Luis. Sau khi đặt thi thể Luis trên băng ghế ngoài vườn, Eladio nghe tiếng Maria Eugenia ngoài cổng, để bữa tiệc được tốt đẹp Maria đã khoe bán được chiếc nhẫn cưới, bà hiểu danh dự của Luis quan trọng hơn chết đói, biết luật của Fidel Castro cấm lưới tôm hùm, tôm, cua nhưng bà vẫn bán chiếc nhẫn để mua chiếc thuyền nhỏ ra biển lưới tôm, cua. Bà hãnh diện nói với Eladio “trong thời kỳ đặc biệt này” mọi người đều có nhu cầu, cần thứ này hay thứ khác cho nên mua một chiếc thuyền nhỏ không khó.
Luis chết nhưng Eladio giữ được danh dự cho chủ bằng cách nấu bữa ăn tối cho ba người bạn của chủ.
Năm 1995, dưới “thời kỳ đặc biệt” kéo dài từ năm 1990 đến 2000, người dân Cuba đã bỏ trốn bằng thuyền qua Miami, phong trào vượt biển lên cao khi phong trào thuyền nhân Việt Nam giảm nhờ chương trình đoàn tụ gia đình. Bị bắt, thuyền nhân Cuba bị giam chung với các tội nhân nhưng dân Cuba chỉ muốn đến La Yuma (chữ nói bóng USA) hay chết. Fidel Castro phải lập ra chương trình xổ số di dân cho phép 120,000 người qua Mỹ mỗi năm. Thuyền nhân vẫn yêu quê nhà yêu đất nước. Johnny, trong truyện của Alex Abella, đã đóng chiếc thuyền Ava Maria vượt biên, ra được biển Johnny nghĩ đến những người ở lại, lái chiếc thuyền vòng đi vòng lại nhiều lần, nước mắt rưng rưng khi ngoảnh nhìn lại Havana tự hỏi: “tại sao đất nước giàu có này không sản xuất, tại sao đàn bà không muốn sinh con, tại sao những người trẻ tuổi cứ muốn bỏ nước ra đi?”
Chẳng những chỉ muốn đi La Yuma, dân Cuba còn chung một giấc mơ khi nạp đơn chương trình xổ số di dân (El Bombo): “Cưỡi chiếc Harley Davidson chạy trên xa lộ ở Kansas, Arizona, Omaha, Salt Lake City, đi đến Mardi Gras ở New Orleans, đến cầu Golden Gate ở San Francisco. Nhiều trường hợp đơn nạp nhưng không được chấp thuận như một nhân vật trong truyện của Moisis Asis ‘Ðơn của ông đầy đủ nhưng không được chấp nhận vào Mỹ cho đến khi ông chứng tỏ là hồn ông đi theo ông, thân của ông tuy ở Mỹ nhưng hồn của ông vẫn còn ở Cuba’ lời của một nhân viên di trú ở phi trường quốc tế Miami!
Cũng giống như ở các xứ Cộng Sản, tỷ lệ tội ác ở Havana gia tăng mặc dù thống kê ở Cuba (cũng giống thống kê Việt Nam) cho biết tỷ lệ người biết chữ cao hơn so với Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong trẻ em thấp hơn Hoa Kỳ trong một xứ đầy tiếng động ồn ào, bụi bặm với xe hơi cũ chạy đầy đường, cứt chó, xác chết súc vật, rác rến, chất ói mửa của người say rượu ở mỗi góc phố. Tội ác gia tăng vì như Arturo Arango viết: “Ở đây mọi người đều bình đẳng nhưng có người được bình đẳng hơn người khác!”
Người ra đi, đến Miami gặp cộng đồng người tị nạn Cuba ở Miami lại đau lòng nhìn thấy nhiều sự thật và không đồng ý với chính trị của cộng đồng như nhân vật Marisol trong truyện của Lea Ashkenas. “Chính trị ở Miami đầy những sự giận dữ hận thù dai dẳng với quá khứ.” Nhờ đài Univision, dân Havana chứng kiến cảnh bom nổ ở phòng triển lãm tại Little Havana “bom do những người tị nạn Cuba ‘Los Rectificans’ cho nổ vì họ gọi năm họa sĩ triển lãm tranh là những kẻ ủng hộ Fidel Castro.”
Những người Cuba ra đi giống như những người tị nạn các sắc dân khác ở Hoa Kỳ như Maria trong truyện của Achy Obejas “vẫn nói tiếng Spanish ở nhà để về Cuba có thể giao tiếp với bạn bè và gia đình.” Họ vẫn giữ phong tục tập quán quê nhà, muốn đổi mới Cuba nhưng người ra đi và người ở lại theo thời gian lại đụng độ văn hóa, người ở lại vẫn cho “Cuba dưới sự lãnh đạo của Castro có chủ quyền và tự do khác với Hawaii là một thuộc địa của Mỹ!” Lea Ashkenas mai mỉa: ký giả CNN tường thuật về những giấc mơ của các trẻ em trên thế giới trẻ em ở Bỉ muốn thành hóa học gia, trẻ em Trung Hoa muốn thành chủ ngân hàng còn trẻ em Cuba chỉ có một giấc mơ “thành người ngoại quốc!”
Giống như ở Việt Nam và Trung Hoa, Tự Do vẫn là danh từ thiêng liêng. Ở Cuba, giấc mơ bị cấm nhưng đã được thấy trên đường phố Havana khi phái đoàn Hoa Kỳ đến Havana để thương thuyết bình thường hóa bang giao. Một cô gái trẻ ở Havana trong chương trình ABC tin buổi tối với Brian Williams, đã xem đây là một cuộc cách mạng mới ngoài cách mạng Fidel Castro, giới trẻ khác giới già, quên quá khứ chỉ nhìn về tương lai. Dân Biểu Mario, Cộng Hòa Miami, xem “bình thường hóa bang giao để đem lại dân chủ cho Cuba là chuyện không tưởng, cải thiện kinh tế không đem đến tự do dân chủ, cứ nhìn vào bài học Việt Nam và Trung Hoa, hai chính quyền Cộng Sản không thay đổi sau mấy chục năm bang giao với Hoa Kỳ.”
Nhìn lại Việt Nam sau 20 năm bang giao với Hoa Kỳ cả hai quan điểm đều đúng!
Việt Nguyên

Chính quyền của giới đầu cơ?

Chính quyền của giới đầu cơ?


Nguồn:gocnhinalan.com
Thế nào là một chính quyền của giới đầu cơ?
Nam Nguyên, phóng viên RFA – 30 Jan 2015
bubbleburst1
Kinh tế tài chính VN đang gặp nguy hiểm?
TS Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế gốc Việt vừa cảnh báo là Việt Nam đang trong tình trạng bấp bênh, mức tăng GDP không đủ để trả lãi nợ vay của toàn bộ nền kinh tế.
Trong bài viết được tờ Thời báo Kinh tế Saigon Online đưa lên mạng ngày29/1/2015, TS Vũ Quang Việt nguyên Vụ trưởng Vụ tài khoản Quốc gia Cục Thống kê  Liên Hiệp Quốc kêu gọi Việt Nam cấp bách đổi mới thể chế, nhằm bảo đảm sự lành mạnh cho nền tài chính quốc gia. Theo lời TS Vũ Quang Việt, hiện nay nền tài chính bị nhóm lợi ích tài chính sử dụng nhằm mục đích chính là đầu cơ tài sản từ địa ốc, chứng khoán và đến cả điều gọi là sản xuất ảo. Lạm phát, nợ tăng quá mức, nợ xấu là hệ quả, đưa đến tình trạng một số người giàu nhanh chóng còn đại đa số vẫn khó khăn.
TS Vũ Quang Việt đưa ra một thí dụ đơn giản, trong một nền kinh tế không có lạm phát, nếu nợ là 100% ngang bằng với GDP với lãi suất là 5% thì GDP tăng 5% chỉ đủ để trả lãi. Hiện nay tỷ lệ nợ của Việt Nam tức nợ của toàn bộ nền kinh tế đã bằng 164% GDP thì GDP tăng 5% chỉ đủ để trả 60% lãi, như thế phải tăng GDP đến 8% thì mới có thể trả được lãi.
Theo đánh giá của TS Vũ Quang Việt trên Saigon Times Online, toàn bộ nợ của nền kinh tế Việt Nam cho đến năm 2014 là 303 tỉ đô la, tương đương 164% GDP, số nợ tăng rất mạnh sau năm 2006, lúc đó chỉ bằng 98% GDP. Riêng về nợ công tức nợ của khu vực kinh tế nhà nước nếu gộp cả nợ của doanh nghiệp nhà nước, thì tính đến năm 2013 là 143,6 tỉ đô la chứ không phải 90 tỉ đô la như cách tính của chính phủ. Như vậy theo TS Vũ Quang Việt nợ của khu vực kinh tế nhà nước tương đương 53% tổng nợ của cả nền kinh tế. Trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước chỉ sản xuất ra 32% GDP.
Đáp câu hỏi của chúng tôi là phải chăng tình hình kinh tế tài chính Việt Nam đang gặp nguy hiểm?  Chuyên gia kinh tế Phó Giáo sư Ngô Trí Long từ Hà Nội nhận định:
“Theo tôi nghĩ là một tình trạng báo động, với tư  cách chuyên gia tôi nghĩ là tỷ lệ nợ công theo GDP là căn cứ rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn nữa là xem việc sử dụng cái nguồn để trả nợ cũng như hiệu quả hoạt động nền kinh tế vấn đề sử dụng đồng tiền đó như thế nào. Chứ còn giả sử nợ công mặc dầu có dưới trần cho phép, nhưng hoạt động không hiệu quả, làm ít ăn nhiều làm không hiệu quả không có thặng dư thì chắc chắn sẽ nguy hiểm. Trong bối cảnh Việt Nam cả hai vấn đề đó cần phải xem xét, thứ nhất nợ công theo cách tính toán của một số chuyên gia theo thông lệ quốc tế thì có thể không phải như chính phủ công bố mà cao hơn, đặc biệt nguồn chi trả của nó thì không có khả năng đáp ứng. Bởi lẽ ngân sách luôn luôn thâm thủng bội chi mà bội chi ngân sách của Việt Nam là một căn bệnh trầm kha bởi năng suất chất lượng hiệu quả luôn luôn là thấp.”
Cùng một câu hỏi phải chăng tình trạng hiểm nguy đang đối diện nền kinh tế tài chính Việt Nam, TS Kinh tế Phạm Chí Dũng một nhà phản biện độc lập ở Saigon nhận định:
“Người ta đã nói khá nhiều về khả năng vỡ nợ của Việt Nam giống Argentina năm 2001 và năm trước chính phủ Việt Nam đề cập việc vay 1 tỉ đô la đã là khó khăn. Tôi không biết 1 tỉ đô la phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam như là một thành tích vào cuối năm trước là ai mua; mà cũng có khá nhiều người tỏ ra nghi ngờ rằng, đã có những Tập đoàn Nhà nước ở hải ngoại đứng ra mua trái phiếu chứ không phải là một quốc gia uy tín nào, hoặc là những doanh nghiệp uy tín nào của quốc tế. Thành thử tình trạng hiện nay rất nguy hiểm và điều đó có thể nhìn thấy qua một ý kiến ‘phơn phớt’ của ông Bùi Quang Vinh Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư, hay ý kiến thẳng thắn hơn nhiều của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, thì nhìn vào tình trạng nợ công nợ xấu, thị trường bất động sản, vấn đề thất nghiệp và gần nhất là vấn đề tiền thưởng Tết của các doanh nghiệp hiện nay. Chúng tôi vừa nhận được tin là 620 cán bộ công nhân viên của Bệnh viện đa khoa Lâm Đồng năm nay không có tiền thưởng Tết. Đó là một bi kịch chưa từng thấy đối với nền kinh tế.”
Chính quyền đẩy lạm phát là chính quyền của giới đầu cơ
Trở lại bài viết của chuyên gia kinh tế tài chính TS Vũ Quang Việt trên Saigon Times Online, ông cho rằng lạm phát chính là biện pháp hay chính sách để người vay không phải trả nợ vì giá trị thật của nợ giảm… Và một chính quyền cổ vũ cho tăng tín dụng, đẩy lạm phát là một chính quyền của giới đầu cơ.
Trong câu chuyện với chúng tôi chuyên gia kinh tế Phó Giáo sư Ngô Trí Long nhận định:
“Tôi nghĩ cách nói của ông Việt rất là tế nhị, ông không nói thẳng là Việt Nam nhưng chúng ta thấy rằng thực chất nó là bản chất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Đặc biệt ông Việt là một Việt kiều, nhiều khi người ta nói là thuốc đắng thì dã tật, sự thật thì mất lòng. Nói thẳng vấn đề ra thì nhiều khi người ta cũng cảm thấy là không dễ chịu cho nên cách của ông dùng hình tượng đó nhưng nếu mình hiểu đúng bản chất của nền kinh tế Việt Nam thì thực chất là nói đến nền kinh tế Việt Nam.”
Trong bài viết của mình trên Saigon Times Online, TS Vũ Quang Việt  nhấn mạnh tới nguyên nhân gây ra nợ công lớn không chỉ vì chính sách xây dựng hạ tầng cơ sở mà còn vì chính sách chi tiêu cho Tập đoàn Doanh nghiệp Nhà nước, tưởng là có thể đẩy mạnh tốc độ tăng GDP và khi chúng thiếu hiệu quả gây khủng hoảng kinh tế, thì lại có cớ tăng chi kích cầu. Kết quả là nợ nhà nước phình to, chiếm tỷ lệ rất lớn của GDP nhưng cuối cùng chỉ là giúp tìm việc cho nhóm lợi ích và giúp cho giới đầu cơ làm giàu.
Cùng về vấn đề này, TS Kinh tế Phạm Chí Dũng trình bày cách nhìn của ông:
“Vào năm 2009 khoảng 143.000 tỉ đồng đã được tung ra tương đương 8,5 tỉ đô la vào thời điểm đó và đã làm lợi cho hai thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Thị trường chứng khoán tăng gấp ba lần, thị trường bất động sản Hà Nội cũng tăng giá gấp ba lần và tạo ra một cơn điên. Việc này chỉ có lợi cho bất động sản và chứng khoán và sau đó tính chất đầu cơ mạnh mẽ đến mức Quốc hội cũng phải lên tiếng. Nhưng mà cho tới giờ Quốc hội cũng chưa có điều kiện hoặc là không dám có điều kiện để kiểm chứng lại hiệu quả của gói kích cầu chính phủ tung ra vào năm 2009 là như thế nào.”
Chuyên gia Vũ Quang Việt sau khi vạch rõ nguyên nhân dẫn đến căn bệnh trầm kha của nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã đề nghị sự cải cách cơ bản là “Viết lại Luật Tín dụng và Luật Doanh nghiệp”. Trên Saigon Times Online ông cho rằng, chỉ nói cơ cấu lại nền kinh tế như tăng chỗ này giảm chỗ kia thì không có nhiều ý nghĩa. Vấn đề cơ bản là xây dựng được một nền tài chính lành mạnh làm cơ sở để nền kinh tế phát triển lành mạnh. Theo quan điểm của ông Vũ Quang Việt, viết lại Luật Tín dụng là yêu cầu cơ bản và điều quan trọng là việc viết lại này không đòi hỏi phải thay đổi Hiến pháp hiện hành.
Theo TS Vũ Quang Việt, Luật các tổ chức tín dụng hiện hành cho phép sở hữu chéo, giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng với công ty tài chính và doanh nghiệp phi tài chính. Chính điều này đã tạo ra cơ sở để tư bản thân hữu nảy nở. Viết lại Luật Tín dụng theo hướng triệt tiêu tất cả những sự cho phép đó, chấm dứt mọi hình thức lạm dụng tài chính quốc gia.
TS Vũ Quang Việt đề nghị viết rõ trong Luật Tín dụng và cả Luật Ngân hàng Nhà nước đòi hỏi mọi doanh nghiệp dù công hay tư phải báo cáo tài chính có kiểm toán hàng quí và hàng năm. Theo ông, lành mạnh hóa nền tài chính bằng cách viết lại luật chỉ là một điều kiện cần để kinh tế có thể hoạt động hữu hiệu. Các điều kiện khác vẫn là nền kinh tế phải có tính cạnh tranh, không ưu tiên do đó cần xóa bỏ dần Doanh nghiệp Nhà nước. Đối với các Doanh nghiệp Nhà nước độc quyền như sản xuất điện, cần nghiêm cấm đầu tư ngoài hoạt động mà Doanh nghiệp Nhà nước được độc quyền.
Trong bài viết trên Saigon Times Online, TS Vũ Quang Việt đề nghị công khai minh bạch về các khoản nợ. Thực hiện luật phá sản đối với ngân hàng và doanh nghiệp đã ngập sâu trong nợ nần, không thể cứu nếu không chi một lượng tiền quá lớn.
Đáp câu hỏi của chúng tôi về khả năng khuyến nghị của TS Vũ Quang Việt được lắng nghe và thực hiện, Phó giáo sư Ngô Trí Long nhận định:
“Tôi nghĩ ý kiến và quan điểm của ông Việt hoàn toàn đúng và đúng với thông lệ quốc tế, đúng với qui luật của kinh tế thị trường. Tôi đã từng làm việc nhiều với ông Việt, ông là người có tư duy kinh tế thị trường thực sự và cũng am hiểu về Việt Nam rất là sâu, những ý kiến và đề nghị của ông Việt là hoàn toàn chuẩn xác. Nhưng việc vấn đề được đưa ra và thực hiện nó như thế nào là một vấn đề cần phải xem xét; trong bối cảnh tình hình Việt nam hiện nay, đã thấy được tình hình đó nhưng để xử lý giải quyết những vấn đề này một cách triệt để đúng theo như lời nói thì hoàn toàn rất là khó. Chính vì vậy nền kinh tế Việt Nam cũng vẫn có một sự trì trệ nhất định hay sự phát triển cũng chỉ có một mức độ nhất định, thì chính là do lời nói cũng như việc làm, chính sách chủ trương đưa ra và việc thực hiện nó không đồng nhất với nhau.”
Theo quan điểm và ý kiến của TS Phạm Chí Dũng, đề nghị của TS Vũ Quang Việt có tính khả thi chỉ riêng trong vấn đề thực hiện phá sản các tổ chức tín dụng ngập trong nợ nần nói chung. Tuy nhiên theo lời nhà phản biện độc lập này, sự công khai minh bạch không tồn tại ở Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay. Trong khi các đề nghị cải cách cơ bản của chuyên gia Vũ Quang Việt, đặc biệt trong xóa sở hữu chéo, trên thực tế đều cần phải có sự công khai minh bạch mới có thể trở thành hiện thực.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

Ở Việt Nam, “Sự Thật” Là Một Xa Xí Phẩm

Ở Việt Nam, “Sự Thật” Là Một Xa Xí Phẩm

Ở Việt Nam, “Sự Thật” Là Một Xa Xí Phẩm
Alan Phan
alan1-1378379656
Bài Phỏng Vấn TS Alan Phan = BizLive – Kim Yến thực hiện – 6 Jan 2015
1.      Sau hơn hai thập niên kể từ khi đất nước mở cửa, Việt Nam đã xuất hiện nhiều thế hệ doanh nhân. Diện mạo của các thế hệ ấy như thế nào, có gì giống và khác nhau?

AP: Giới doanh nhân thường chia sẻ nhiều cá tính tương tự khắp thế giới. Họ năng động trong việc nắm bắt cơ hội; sẵn sàng chấp nhận rủi ro; mang nhiều tham vọng, nhiều khi là tham lam; độc lập, tự quyết, có tầm nhìn xa và biết tổ chức. Những cá tính này phát huy theo từng môi trường kinh doanh khác nhau: doanh nhân trong kinh tế thị trường có tư duy và hành xử theo luật lệ và nhu cầu khách hàng để tạo lợi thế cạnh tranh; doanh nhân trong nền kinh tế chỉ huy thường dựa vào quan hệ với chính quyền để kiếm đặc quyền và tô phí.
Trong vài thế hệ vừa rồi, doanh nghiệp Việt cho thấy bản năng sinh tồn cộng với thủ đoạn và cơ hội chụp giựt rất nhậy bén. Tuỳ theo nhịp độ mở cửa của nhà cầm quyền và đòi hỏi từ đối tác hội nhập, doanh nhân Việt điều chỉnh những cá tính trên để thành công. Nói chung, họ đối mặt với nhiều khó khăn và yếu kém nhưng đã vượt qua thử thách khá ấn tượng.
2.      Người xưa nói cha mẹ sinh con trời sinh tính. Cái phần “trời sinh” ấy có thực sự quyết định tính cách của doanh nhân? Nếu không thì điều gì ảnh hưởng mạnh nhất đến tính cách các thế hệ doanh nhân hình thành từ sau đổi mới?
Như đã tổng lược ở câu hỏi trên, không phải Trời mà cơ chế vận hành cùng hoàn cảnh đặc biệt đã tạo nên các cá tính này. Trong một nền kinh tế chưa có định hướng và định hình, và trong khi các doanh nghiệp nhà nước chiếm lĩnh những nguồn lực thiết yếu, doanh nghiệp tư nhân phải bươn chải để “sống còn” nên khó tạo ra những sáng tạo đột phá hay chăm chú vào việc xây dựng kỹ năng và thương hiệu về lâu dài.
Ngoài ra, đa số doanh nhân thường theo khuôn và bầy đàn theo cách quản lý của những bậc gọi là “đàn anh” (thành công).  Vì kinh tế Việt Nam gần như là sân chơi của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong cả 80 năm, nên ngay cả những công ty tư nhân khi phát triển thường dựa vào công thức thành công của DNNN. Đó là đầu tư dàn trải, dựa vào quan hệ để tìm đặc quyền đặc lợi, sử dụng 100% vốn OPM và tài trợ của ngân sách, tầm nhìn nhiệm kỳ, thủ tục hành chánh quan liêu, bè phái, gia đình…Họ hay bỏ quên khách hàng và thị trường cũng như công nghệ sản phẩm hay xây thương hiệu, quên đặt kỹ cương đạo đức vào chiến lược kinh doanh…
3.      Liệu có điểm khác biệt nào về tính cách giữa doanh nhân Việt so với doanh nhân thế giới?
Sự khác biệt chính yếu là mức độ phát triển và hội nhập. Vì sinh sau đẻ muộn trong một môi trường méo mó, nên tư duy và kỹ năng của doanh nhân Việt bị giới hạn, khó cạnh tranh trực tiếp với doanh nhân nước ngoài. Sự yếu kém về vốn, về công nghệ, về tiếp thị, về khả năng quản lý rủi ro của doanh nghiệp Việt thể hiện trên nhiều ngành nghề mà đáng lẽ chúng ta có lợi thế như nông nghiệp, IT, khoáng sản, du lịch…Việc các doanh nghiệp FDI đang chiếm lĩnh thị trường tiêu dùng nội địa cũng như xuất khẩu là một hệ quả tất nhiên. Gánh nặng thuế phí cao từ chính phủ cũng là một rào cản lớn.
Điều đáng lo ngại là khoảng cách này không thâu ngắn mà càng ngày càng xa hơn. Hy vọng bắt kịp sự phát triển kinh tế của Thái Lan, Indonesia, Philippines …đã rất khó khăn, nói gì đến những nền kinh tế vượt trội như Singapore, Hàn Quốc…
4.      Có sự khác biệt nào đáng kể về tính cách doanh nhân giữa hai miền Nam – Bắc?
Môi trường sinh hoạt giữa hai miền tạo nên nhiều khác biệt; nhưng khuynh hướng hoà nhập nhờ giao thông và công nghệ đang thu ngắn khoảng cách này. Nói chung thì dân miền Nam trước 1975 đã quen sống trong nền kinh tế thị trường và có một mức sống ngang hàng với các nước quanh châu Á. Họ có điều kiện để phát triển kỹ năng và cách làm kinh tế sáng tạo hơn. Trong khi đó, miền Bắc vừa trải qua thời kỳ bao cấp toàn diện với một mức sống nghèo khổ hơn nên người Bắc cần cù và năng động hơn trong việc nắm bắt cơ hội mới. Thêm vào đó, vì là bên thắng cuộc, nên doanh nhân miền Bắc nhận nhiều ưu đãi hơn từ nguồn lực chánh phủ.
Tuy nhiên, tôi nghĩ trong 20 năm nữa, những khác biệt này sẽ bị đồng hoá. Vấn đề Nam-Bắc thực sự không nằm trong bản đồ hay văn hoá kinh doanh Việt Nam. Nó lớn hơn nhiều; như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật (phía Bắc) hay Singapore, Indonesia, Mã Lai (phía Nam).
5.      Để thành công trên thương trường, doanh nhân có phải “dọn mình”?

Không phải chỉ doanh nhân Việt mà mọi doanh nhân trên thế giới bị bắt buộc phải cải tiến thường trực kỹ năng quản lý, sản phẩm, công nghệ và tổ chức. Kinh tế thị trường của thế giới đã liên thông nên sự cạnh tranh phải toàn cầu và rất khốc liệt. Tương lai sẽ thuộc về những doanh nghiệp biết “dọn mình” trên sân chơi quốc tế. Không có chỗ cho những doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào sự ban phát bổng lộc từ nhà nước.
Theo nhận xét của nhiều nhà phân tích kinh tế trên thế giới, doanh nhân nội địa Việt đang chìm sâu trong trì trệ suy thoái của tư duy và năng động. Doanh nghiệp FDI sẽ nhanh chóng lợi dụng lợi thế yếu kém này để thống lĩnh thị trường, nhất là khi các hiệp định về free trade như TPP, Euro, China-Asean…có hiệu lực. Đây là một dấu hiệu khá buồn cho kinh tế Việt Nam.
6.      Theo anh, thế nào là một doanh nhân thành đạt? Cách làm giàu nào mà anh cho là chánh đạo? Và làm giàu bất chánh hiện nay có nhiều không? Nó ảnh hưởng thế nào đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế và đới sống nhân văn?
Mỗi cá nhân, mỗi xã hội đều có những định nghĩa khác nhau về chữ “thành đạt”, dù là doanh nhân, trí thức hay công nông nhân. Với cá nhân tôi, thành đạt gần như không thể hoàn toàn 100% mà phải có một thoả hiệp đổi chác nào đó trong các mục tiêu của đời sống. Tôi vẫn nói về 6 yếu tố nội tại cần phát triển: sức khoẻ, tinh thần, tâm linh, trí tuệ, xã hội và tiền bạc. Trên hết là một con người “tự do” sống theo ý thích và chuẩn mực đạo đức của mình. Tuy nhiên, khó ai có thể đạt cả 6 mục tiêu đó trong cùng một thời điểm. Sự đóng góp chân thành của mình cho xã hội trong bất cứ 6 lĩnh vực nào nói trên đều là một “thành công”.
Chuyện làm giàu chánh đạo và bất chánh thì tôi xin miễn bàn. Đây là một đề tài nhậy cảm có thể gây nhiều rắc rối cho mọi người liên quan nếu thực sự phân tích sâu rộng. Ở một môi trường sống như Việt Nam, “sự thật” là một xa xí phẩm.
Alan Phan
PS: Niềm tự tin không đến từ nơi vô định. Nó là hệ quả của sự thể…ngày và giờ và tuần và năm cặm cụi làm và tập trung kỹ năng – Confidence doesn’t  come out of nowhere. It’s a result of something…hours and days and weeks of constant work and dedication – Roger Staubach .