Hiển thị các bài đăng có nhãn Vật Lý-Thiên Văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vật Lý-Thiên Văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2020

Xuất hiện dấu hiệu đảo cực từ của Trái Đất - những ảnh hưởng đến sự sống là gì?

Xuất hiện dấu hiệu đảo cực từ của Trái Đất - những ảnh hưởng đến sự sống là gì?

Ánh Dương
Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) gần đây đã phát hiện rằng một vùng rộng lớn từ trường Trái Đất kéo dài từ Châu Phi đến Nam Mỹ đang suy yếu. Đây có thể là dấu hiệu cho thấy sự đảo ngược của các cực Nam và Bắc của Trái Đất. Không ít người tin rằng, việc đảo cực địa từ là một trong những nguyên nhân dẫn tới ngày tận thế.
Trái Đất đã trải qua hàng trăm lần đổi cực trong suốt lịch sử của nó, lần cuối cùng xảy ra cách đây 780.000 năm. Các nhà nghiên cứu nói rằng:“chúng ta đã quá hạn từ lâu, vì chu kỳ của nó là khoảng 250.000 năm một lần”. (Ảnh: NASA)
Dữ liệu địa lý cho thấy Trái Đất đã trải qua hàng trăm lần đổi cực trong suốt lịch sử của nó. Quá trình này diễn ra khi các đám nguyên tử sắt ở lớp lõi ngoài ở dạng lỏng sắp hàng theo hướng ngược lại.
Khi đến điểm tới hạn, cực từ Trái Đất sẽ đảo ngược. Lần đảo cực gần đây nhất là vào 780.000 năm trước, vào thời đại đồ đá, và hiện đã có chứng cứ cho thấy hành tinh chúng ta có thể đang trong giai đoạn khởi động của quá trình này.
Dấu hiệu đảo cực từ Trái Đất
Các nhà khoa học đã phát hiện ra một vùng rộng lớnở giữa Châu Phi và Nam Mỹ có cường độ từ trường giảm nhanh chóng, được gọi là “Dị thường Nam Đại Tây Dương’’ (South Atlantic Anormaly) và tạo thành một điểm có cường độ từ trường cực tiểu chỉ trong vòng 5 năm.
Phát hiện mới được thực hiện qua việc lấy dữ liệu từ Hệ vệ tinh Swarm - một cụm các vệ tinh bao gồm 3 vệ tinh giống hệt nhau cung cấp các phép đo từ trường với độ chính xác cao trong 3 mặt phẳng quỹ đạo khác nhau.
ESA đã nghiên cứu từ trường từ cuối năm 2013. Swarm được thiết kế đặc biệt để xác định và đo các tín hiệu từ tính khác nhau của từ trường của Trái Đất - cho phép các chuyên gia phát hiện ra các khu vực có từ trường bị suy yếu.
Ông Jürgen Matzka, từ Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Địa chất Đức, cho biết: “Chúng ta rất may mắn khi có các vệ tinh Swarm trên quỹ đạo để điều tra về sự phát triển của Dị thường Nam Đại Tây Dương. Thách thức bây giờ là tìm hiểu các quá trình trong lõi Trái Đất gây ra những thay đổi này”.
Tuy nhiên, điều khó hiểu hơn là dị thường Nam Đại Tây Dương đang phát triển và di chuyển về phía Tây với tốc độ khoảng 20 km/năm.
Các nhà nghiên cứu đang suy đoán rằng sự suy yếu là một dấu hiệu cho thấy từ trường Trái đất đang đảo cực - cực Bắc và Nam chuyển vị trí. Lần cuối cùng điều này xảy ra đã cách đây 780.000 năm. Các nhà nghiên cứu nói rằng “chúng ta đã quá hạn từ lâu, vì nó diễn ra khoảng 250.000 năm một lần”.
Theo các nhà nghiên cứu, một trong những lý do khiến các nhà khoa học không biết nhiều về lịch sử từ tính của khu vực Dị thường Nam Đại Tây Dương là do họ không có đủ dữ liệu khảo cổ học - bằng chứng vật lý về từ tính trong quá khứ của Trái Đất, được tồn trữ trong đá.
Trước đó, các nhà khoa học đã ghi nhận một thay đổi khác cũng gợi ý cho việc Trái Đất sắp đảo ngược, đó là Bắc Cực từ lâu đã rời vị trí truyền thống thuộc địa phận Canada, trôi dần sang Siberia – Liên bang Nga với tốc độ thần tốc do thay đổi của lực từ trong lõi Trái Đất. Cực Bắc này đã đi từ chuyển với tốc độ 14,5 km cho đến 60km/năm trong khoảng thời gian từ 1999-2005.
Trưởng nhóm nghiên cứu Phil Livermore, Phó Giáo sư Địa Vật lý tại Đại học Leeds, cho biết: “Chúng tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì như thế này trước đây. Dự đoán của chúng tôi là cực Bắc từ trường sẽ tiếp tục di chuyển về phía Siberia, nhưng đây chỉ là dự báo và chúng tôi không thể chắc chắn”.
Ông Ciaran Beggan thuộc tổ chức Khảo sát Địa chất Anh nói với MailOnline: “Cực Bắc của từ trường Trái Đất vốn di chuyển chầm chậm quanh phía Bắc Canada từ năm 1590 đến khoảng năm 1990 và sau đó tăng tốc trong vòng 20 năm trở lại đây với việc di chuyển từ khoảng 10 km (6.2 dặm) mỗi năm đến hơn 50 km (31 dặm) mỗi năm”.
Ông nói thêm: “Ngược lại, cực từ phía Nam hầu như không di chuyển nhiều trong 100 năm qua vì dòng chảy của lõi ngoài có nhiều trầm tích hơn”.
Những ảnh hưởng đến sự sống là gì?
Tuy nhiên, liệu con người có nên lo sợ trước viễn cảnh đổi cực từ của Trái Đất hay không? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu mũi tên phía bắc của la bàn giật ngược về Nam Cực? Liệu các lục địa có bị xé toạc, hoặc chuyện kinh khủng khác sẽ xảy ra?
“Sự thay đổi đáng kể nhất khi các cực từ đảo ngược vị trí là mật độ của toàn bộ từ trường giảm đi trên diện rộng”, Our Amazing Planet dẫn lời Jean-Pierre Valet, người nghiên cứu hiện tượng này tại Viện Vật lý Trái đất Paris: Từ trường Trái Đất mất từ 1.000 đến 10.000 năm mới hoàn tất quá trình đổi cực của mình.
Do vậy, đừng suy diễn rằng mọi chuyện sẽ đột ngột diễn ra trong ngày một ngày hai. “Đó không phải là một vụ đảo cực tức thời, mà là một quá trình chậm chạp và trong suốt tiến trình này, sức mạnh của từ trường trở nên yếu đi. Nhiều khả năng từ trường sẽ trở nên phức tạp hơn và có thể xuất hiện nhiều hơn 2 cực từ trong một thời điểm, kế đến nó lại phục hồi sức mạnh và sau đó chính thức đảo cực”, Monika Korte, Giám đốc khoa học của Đài quan sát Địa từ Niemegk thuộc GFZ Potsdam (Đức), nhận xét.
Việc Trái Đất từng đảo ngược nhiều lần cho thấy nó có vẻ không gây nguy hiểm cho các sinh vật sống. Nhưng với văn minh loài người hiện đại, chắc chắn chúng ta sẽ chịu thiệt hại lớn ở hệ thống định vị - viễn thông vì từ trường Trái Đất chính là "xương sống" của thế giới công nghệ.
Nhóm nghiên cứu cho biết Dị thường Nam Đại Tây Dương không phải là lý do đáng báo động về từ trường Trái Đất, nhưng nó đã làm cho nhiều vệ tinh và tàu vũ trụ bay qua khu vực này gặp phải trục trặc kỹ thuật. Báo cáo cho thấy ngày càng có nhiều vệ tinh nhân tạo và phi thuyền vũ trụ gần Trái Đất trong khu vực đang gặp sự cố kỹ thuật, nguyên nhân là sau khi từ trường Trái Đất suy yếu, các hạt vũ trụ xuyên qua lớp khí quyển dễ hơn và làm nhiễu các thiết bị. Nếu từ trường Trái Đất tiếp tục có xu hướng suy yếu không giảm, tương lai sẽ có nhiều trường hợp tương tự xuất hiện.
Ngoài ra, những hạt điện tích xuất phát từ bão mặt trời tấn công Trái Đất có thể tạo nên những lỗ thủng trên bầu khí quyển và điều này có thể gây hại đến con người, giống như trường hợp tầng ozone bị thủng trên bầu trời Nam Cực. Dù không tồn tại vĩnh viễn, những lỗ hổng này có thể kéo dài từ 1 đến 10 năm, đủ làm tăng đột biến tỷ lệ ung thư da trong thời gian này.
Chuyên gia Valet của Viện Vật lý Trái Đất Paris đồng ý với giả thuyết rằng từ trường yếu có thể dẫn đến sự hình thành những “vết đạn” trên tầng ozone. Trong một báo cáo hồi năm ngoái, ông đưa ra khả năng có sự liên hệ trực tiếp giữa sự tuyệt chủng của người Neanderthal với sự sụt giảm đáng kể của mật độ từ trường của Trái Đất, vốn xảy ra trong cùng thời điểm. Lúc đó tiến trình đảo cực bị ngưng lại, có nghĩa là từ trường yếu đi.
Tuy nhiên, các chuyên gia khác không bị thuyết phục với giả thuyết rằng đảo cực từ có thể dẫn đến sự diệt chủng trên diện rộng của các loài. Điều đáng lưu ý là toàn bộ các loài dựa vào các cực địa từ để di trú, trong đó có ong, cá hồi, rùa, cá voi, có thể bị mất phương hướng trong khi quá trình trên diễn ra. Còn về viễn cảnh thiên tai do các thềm lục địa và đại dương rúng động, kết quả ghi nhận địa chất không hề phản ánh bất cứ sự thay đổi nào về cấu trúc vỏ Trái Đất với tình trạng đảo cực từ.
Từ trường Trái Đất
Từ trường Trái Đất là trường từ của Trái đất, xuất hiện do tính chất từ của vật chất Trái Đất hợp thành tạo ra. Từ trường Trái Đất tồn tại từ trong lòng Trái Đất đến không gian rộng lớn bao quanh nó. Nguyên nhân gây ra từ trường có thể được giải thích theo thuyết geodynamo.
Từ trường Trái Đất được coi như một lưỡng cực từtrường, với một cực gần cực bắc địa lý và cực kia gần cực nam địa lý. Một đường thăng tưởng tượng nối hai cực tạo thành một góc khoảng 11,3° so với trục quay của Trái Đất.
Trên mặt đất cường độ từ trường vào khoảng từ 25 đến 65 micro tesla (0,25 đến 0,65 gauss).
Các từ trường có thể mở rộng vô hạn, tuy nhiên nếu xét các điểm càng ra xa nguồn thì chúng càng yếu dần. Từ trường Trái Đất có tác dụng đến hàng chục ngàn km trong vũ trụ và được gọi là Từ quyển. Từ quyển của Trái Đất cùng với khí quyển chặn các dòng hạt tích điện, bảo vệ sự sống trên Trái Đất.
A.D.

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2020

Tốc độ quay của Trái Đất tới 1.657km/h, nhưng vì sao chúng ta không cảm nhận được Trái Đất đang quay?


Tốc độ quay của Trái Đất tới 1.657km/h, nhưng vì sao chúng ta không cảm nhận được Trái Đất đang quay?

Tốc độ quay của Trái Đất tới 1.657km/h, nhưng vì sao chúng ta không cảm nhận được Trái Đất đang quay?

Với tốc độ quay cực nhanh, bằng với tốc độ di chuyển của một chiếc máy bay chiến đấu, nhưng vì sao, tôi, bạn hay những người khác không ai có thể cảm nhận được tốc độ quay của trái đất?

Không ít người trong chúng ta biết rằng, Trái Đất, bao gồm cả khí quyển và tất cả mọi thứ trên bề mặt hành tinh vẫn quay liên tục. Tuy nhiên, tốc độ quay của Trái đất như thế nào còn phụ thuộc vào từng vị trí trên Trái đất. Trong đó, nhanh nhất là nằm ở xích đạo, và nó đúng với mọi hành tinh trong vũ trụ, vì khi Trái đất quay quanh trục thì chu vi lớn nhất của nó nằm ở xích đạo. 
Bán kính của trái đất là 6.378 km, tức là chu vi của nó là hơn 40.000 km. Ta biết rằng Trái Đất quay đúng một vòng gần hết 24h, điều này có nghĩa là mỗi điểm trên xích đạo trái đất di chuyển 40.000 km trong vòng 24h, tương đương tốc độ quay của Trái đất vào khoảng 1.657km/h. Điều đó có nghĩa, nếu như đứng ở xích đạo, bạn đang di chuyển với tốc độ 465m/s. Trong khi đó, ở một điểm như thành phố Chicago lại có một tốc độ "thong thả" hơn là xấp xỉ 1207km/h. 
Với tốc độ quay cực nhanh, bằng với tốc độ di chuyển của một chiếc máy bay chiến đấu, nhưng vì sao, tôi, bạn hay những người khác không ai có thể cảm nhận được tốc độ quay của Trái Đất? 
Tốc độ quay của Trái Đất tới 1.657km/h, nhưng vì sao chúng ta không cảm nhận được Trái Đất đang quay? - Ảnh 1.
Câu trả lời nằm ở sự chuyển động tự nhiên của Trái đất. Hãy tưởng tượng bạn đang ở trên một chiếc máy bay đang bay trên bầu trời với tốc độ và độ cao nhất định. Bạn vẫn có thể bỏ dây an toàn và đi lại trên máy bay, tuy nhiên, bạn không thể cảm nhận được sự chuyển động của chiếc máy bay.
Nguyên nhân rất đơn giản: Bạn, chiếc máy bay và tất cả mọi thứ bên trong chiếc máy bay đang di chuyển cùng một tốc độ. Để cảm nhận được sự chuyển động của chiếc máy bay, bạn phải nhìn ra những đám mây bên ngoài cửa sổ.
Mặc dù Trái đất tự quay quanh nó với tốc độ khá nhanh, chúng ta và mọi vật ở trên đó cũng đang quay với cùng một tốc độ, bởi vậy chúng ta không cảm nhận được chuyển động này. Cách duy nhất để bạn cảm thấy sự chuyển động là gió táp vào mặt. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng, toàn bộ khí quyển Trái đất cũng di chuyển cùng tốc độ với chúng ta.
Tốc độ quay của Trái Đất tới 1.657km/h, nhưng vì sao chúng ta không cảm nhận được Trái Đất đang quay? - Ảnh 2.
Bên cạnh đó, Trái Đất cũng như một chiếc phi thuyền khổng lồ trong không gian. Nếu bên cạnh quỹ đạo của nó cũng có những vật mốc như cây cối bên bờ sông, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy Trái Đất đang chuyển động.
Nhưng ở gần Trái Đất, lại không có vật gì làm chuẩn. Chỉ có những vì sao xa tít tắp giúp ta thấy được Trái Đất thay đổi vị trí theo ngày, tháng mà thôi. Các vì sao này ở quá xa, nên trong một thời gian ngắn mấy phút, mấy giây, chúng ta rất khó cảm nhận thấy Trái Đất đang dịch chuyển.
Tuy nhiên, nếu như Trái Đất thay đổi tốc độ, hay thậm chí bất ngờ quay ngược lại thì bạn hoàn toàn có thể cảm nhận thấy sự chuyển động này. Tuy nhiên, nó sẽ là một thảm họa, giống như một cú đạp phanh/thắng đột ngột ở cấp độ hành tinh trong khi khí quyển vẫn sẽ di chuyển với tốc độ 465m/s và quét trên bề mặt Trái đất.
Tốc độ quay của Trái Đất tới 1.657km/h, nhưng vì sao chúng ta không cảm nhận được Trái Đất đang quay? - Ảnh 3.
Để thay đổi quán tính này, chúng ta cần một lực tác động bên ngoài tác động vào. Khi đó, tất cả các quỹ đạo sẽ thay đổi và mọi thứ sẽ rơi vào trạng thái hỗn loạn.
Ngoài ra, tốc độ của Trái đất không một hằng số mà nó đang quay chậm dần do lực hấp dẫn của Mặt trăng. Theo tính toán, mỗi ngày, Trái đất quay chậm khoảng 2/1.000 giây.
Đây chính là lý do mà đôi khi người ta phải thêm 1 giây nhuận vào đồng hồ để đồng bộ thời gian của Trái đất và thời gian nguyên tử. Tuy nhiên, sự thay đổi này là rất nhỏ nên với chúng ta, Trái đất vẫn quay với tốc độ không đổi.
Tham khảo ScienceAlert

Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển?

Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển?

Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển?

Để trả lời câu hỏi này, cơ quan hàng không & vũ trụ Mỹ NASA mới đây đã tung ra một video mô phỏng, mang tới cái nhìn rõ ràng và chi tiết nhất về Trái Đất khi các đại dương cạn khô

So với các hành tinh đất đá trong hệ Mặt trời như Sao Hỏa, Sao Kim, nước chính là điểm khác biệt lớn nhất của Trái Đất. Khoảng 70% bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi nước, trong khi 30% còn lại là các lục địa và hòn đảo. Trong đó, 97% lượng nước trên hành tinh thuộc về đại dương và chỉ khoảng 3% tồn tại ở dạng khác như sông băng, mũ băng, nước từ sông, hồ...
Tuy nhiên, có bao giờ bạn tự hỏi: Nếu một ngày đại dương khô cạn nước, Trái Đất sẽ trông như thế nào? 
Để trả lời câu hỏi này, cơ quan hàng không & vũ trụ Mỹ NASA mới đây đã tung ra một video mô phỏng, mang tới cái nhìn rõ ràng và chi tiết nhất về Trái Đất khi các đại dương cạn khô. Trong đoạn video kéo dài gần 1 phút, Trái Đất đã có sự thay đổi chóng mặt khi mực nước biển hạ xuống từ vài trăm m cho đến hàng km. 
Draining Earth's oceans, revealing the two-thirds of Earth's surface we don't get to see
00:00:51
Video mô phỏng quá trình các đại dương dần bị khô cạn khi mực nước biển xuống thấp của NASA
Khi các đại dương mất dần lượng nước, những mảnh đất ẩn giấu đầu tiên đã xuất hiện - đó chính là thềm lục địa, phần rìa nằm dưới đáy biển của mỗi lục địa. Theo NASA, chỉ cần mực nước đại dương hạ hơn 100 m, rất nhiều thềm lục địa sẽ hiện ra. 
"Có thể thấy diện tích đất nằm ngay dưới mặt biển là rất lớn khi chúng ta mới chỉ hạ mực nước biển xuống vài chục m", nhà khoa học James O'Donoghue, người tạo ra video chia sẻ. 
Trong kỷ Băng Hà cuối cùng diễn ra từ 26000 đến 19000 năm trước, mực nước biển thời điểm đó của Trái Đất thấp hơn khoảng 124m so với thời điểm hiện nay. Do nhiệt độ của Trái Đất xuống rất thấp, phần lớn nước biển đã bị  đóng thành băng ở hai cực của Trái Đất.
Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển? - Ảnh 2.
Trái Đất khi mực nước giảm 110m so với mực nước biển hiển tại. Các thềm lục địa quanh Việt Nam đã lộ rõ, cho phép người tiền sử có thể đi bộ tới các các quần đảo thuộc Indonesia và Malaysia hiện nay
Nhờ mực nước biển thấp, thềm lục địa đã biến thành các ‘hành lang đất liền’, cho phép con người di cư từ lục địa này sang lục địa khác, thay vì bị chia cắt bởi đại dương như thời điểm hiện tại. Vào thời cách đây hàng chục nghìn năm, tổ tiên của chúng ta có thể đã đi bộ từ lục địa Châu Âu đến vương quốc Anh, từ Siberia đến Alaska, từ Australia đến khu vực Đông Nam Á. 
Nhờ con đường này, con người cổ đại mới xuất hiện ở châu Mỹ và châu Úc. Tuy nhiên, khi kỷ băng Hà kết thúc, nhiệt độ Trái Đất tăng lên khiến băng ở vùng cực tan chảy một phần. Khi mực nước biển tăng lên, thềm lục địa lại bị nhấn chìm hoàn toàn.   
Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển? - Ảnh 3.
Trái Đất khi mực nước giảm 3290m so với mực nước biển hiển tại. Những dãy núi khổng lồ dưới đáy biển, chạy dọc khắp Trái Đất đã hiện ra.
Video của NASA tiếp tục cho chúng ta thấy điều gì sẽ xảy ra nếu mực nước hạ thêm từ 2000-3000m so với mực nước biển hiện tại. Sau khi làm ‘bốc hơi’ một lượng lớn nước ở các đại dương, những dãy núi khổng lồ dưới đáy biển đã hiện ra. Những dãy núi này được gọi là sống núi giữa đại dương (mid-ocean ridge), với chiều dài lên tới 60000km, chạy dọc khắp Điạ cầu. Theo NASA, khoảng 90% sống núi giữa đại dương hiện đang nằm dưới đáy biển. 
admicro.vn
Xem thĂ„â€šĂ‚Âªm
Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển? - Ảnh 4.
Quanh cảnh Trái Đất nếu mực nước biển giảm 6480m
Khi mực nước bị hạ xuống thêm 6000m, phần lớn nước của các đại dương đã biến mất. Cả Trái Đất lúc này hoàn toàn khô cằn, với phần đáy biển đã hoàn toàn lộ rõ. Tuy nhiên, vẫn có một nơi duy nhất trên Trái Đất vẫn có nước biển. Đó chính là Rãnh Mariana, vốn có độ sâu khoảng 11km. Để có thể hoàn toàn làm khô cạn nơi sâu nhất vỏ Trái Đất, mực nước biển cần phải hạ thêm xuống 5000m, theo video mô phỏng của NASA.
Bề mặt Trái Đất sẽ trông như thế nào nếu các đại dương bị hút cạn nước biển? - Ảnh 5.
Tham khảo Science Alert

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

Apollo 11: 'Chương trình phát sóng lớn nhất lịch sử truyền hình'

Apollo 11: 'Chương trình phát sóng lớn nhất lịch sử truyền hình'

Neil Armstrong và Buzz Aldrin giương cờ Mỹ trên Mặt Trăng, 1969Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNeil Armstrong và Buzz Aldrin giương cờ Mỹ trên Mặt Trăng, 1969
Chương trình truyền hình đầy mê hoặc về cuộc đổ bộ xuống Mặt Trăng Apollo 11 cách đây 50 năm đã đem tới cho hàng triệu gia đình những hình ảnh và ý tưởng không thể tưởng tượng được trước đó, và để lại tác động sâu sắc cho văn hóa nhạc pop và tâm lý người Mỹ.
Khi tàu đổ bộ Eagle hạ cánh xuống Mặt Trăng vào ngày 20/7 năm 1969, một máy quay gắn trên tàu đã ghi hình được bước chân đầu tiên và những lời của phi hành gia Neil Armstrong, gửi qua hàng trăm hàng ngàn dặm đến hàng trăm triệu cặp mắt đang dán vào tivi.
Walter Cronkite, đang đưa tin về của sứ mệnh Apollo 11 trên đài CBS, lúc đó đã không nói nên lời. Cuối cùng ông cũng thốt lên, "Con người đã lên đến Mặt Trăng! ... Ôi, trời ơi!"
Sau này nhớ lại, ông Cronkite bảo đã hy vọng nói được điều gì đó sâu sắc hơn nhưng thật sự đó là "tất cả những gì tôi có thể thốt ra".
Tuy nhiên, chất lượng tổng thể của chương trình tường thuật suốt ngày đêm của Cronkite, cùng đội ngũ truyền thông tràn đầy năng lượng và cực kỳ tận tâm, đã ảnh hưởng lâu dài đến nhận thức của công chúng về Appllo 11, và người xem không để ý đến tiểu tiết.
Robert Wussler, nhà sản xuất của Cronkite, nói với tạp chí Variety rằng đây sẽ là "chương trình phát sóng trực tiếp lớn nhất thế giới" trong lịch sử truyền hình.
Walter Cronkite reporting about NASA for CBS News, circa 1969 - 1974Bản quyền hình ảnhUT AUSTIN'S BRISCOE CENTER FOR AMERICAN HISTORY
Image captionWalter Cronkite đưa tin về Nasa cho CBS News, khoảng năm 1969 - 1974
Thật vậy, khi chương trình lên sóng, nó đại diện cho đỉnh cao của một chiến dịch quan hệ công chúng to lớn bắt đầu từ nỗ lực của Nasa vào năm 1958 và được các nhà báo và chính trị gia Nasa duy trì, bằng cách tìm cách nâng cao nhận thức về sứ mệnh Apollo.
Cronkite, qua những tường thuật này đã được biết đến là "người đàn ông đáng tin cậy nhất ở Mỹ", lên sóng trong 27/30 giờ của quãng thời gian phi hành đoàn của Apollo 11 hoàn thành nhiệm vụ, mang lại cho ông biệt danh "quần sắt".
"Cronkite vẫn xuất khẩu thành thơ như chưa bao giờ thấy", Edward Sills nhớ lại, ông đã theo dõi cuộc đổ bộ mặt trăng khi còn là một thiếu niên trẻ trong phòng khách của mình ở Long Beach, New York. "Anh ta vừa mới trường thuật xong, và chỉ trích cuộc chiến tranh Việt Nam, vì thế có thể tự cho phép mình thoải mái hơn một chút. Apollo 11 là một sự kiện tuyệt vời với một cậu bé 13 tuổi, và Cronkite cũng nhìn nó qua đôi mắt trẻ thơ."
Sự vĩ đại cũng được ông của Sills mê say ghi nhận. Ông của Sills cũng ngồi xem truyền hình bên cạnh cháu.
Cảnh Apollo 1 đáp xuống mặt trăng trên màn hình ti vi thế kỷ 21 tháng 7/1969Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCảnh Apollo 1 đáp xuống Mặt Trăng trên màn hình ti vi thế kỷ 21 tháng 7/1969
"Ông sinh ra vào tháng 10 năm 1893, vì vậy lớn lên từ thời đi ngựa và xe lôi, và đã quá đỗi vui mừng khi chứng kiến thời khắc lịch sử đó," ông Sills nói. "Sự phát triển của công nghệ thật là khó tin và [Cronkite] đã giải thích nó thật tuyệt vời như thế nào."
Cronkite trước đây đã theo dõi chương trình tên lửa của Hoa Kỳ khi dưới sự giám sát của Không quân Hoa Kỳ, những người thường tỏ ra thù địch với Cronkite và CBS trong các lần phóng thử nghiệm và tham quan cơ sở vào thập niên 1950.
"Trong những ngày đầu, chúng tôi phải đưa tin chương trình không gian từ ngoài căn cứ [và] không quân không cung cấp cho chúng tôi thông tin trước", Cronkite kể lại trong cuốn Conversations with Cronkite, trong đó Don Carleton, giám đốc điều hành của Trung tâm Lịch sử Hoa Kỳ Dolph Briscoe, nơi lưu trữ về Cronkite, đã phỏng vấn Cronkite về cuộc đời và sự nghiệp phi thường của ông.
"[Nhưng] tất cả chúng tôi đều biết khi nào một chuyến đi sắp diễn ra, bởi vì chúng tôi đang ở trong nhà nghỉ và những người này sẽ đi ra ngoài, họ sẽ rời đi, họ sẽ rời khỏi quán bar, và rồi đèn sẽ sáng [xung quanh bệ phóng] và chúng tôi biết điều gì đó sắp xảy ra."
Sau khi thành lập Nasa, chính phủ nhận ra rằng sẽ tốt hơn nếu công chúng ủng hộ tổ chức này.
Hình vẽ của hãng AP được các tờ báo sử dụng để giải thích về mặt kỹ thuật tàu Apollo 11, từ Bộ Sự tập the Alan ParisBản quyền hình ảnhUT AUSTIN’S BRISCOE CENTER FOR AMERICAN HISTORY
Image captionHình vẽ của hãng AP được các tờ báo sử dụng để giải thích về mặt kỹ thuật tàu Apollo 11, từ Bộ Sự tập the Alan Paris
Đây chính là món quà từ thiên đường cho giới truyền thông, đặc biệt là vào năm 1961 khi Tổng thống John F Kennedy cam kết sẽ đưa một người lên mặt trăng vào cuối thập kỷ này.
"Nasa đã làm một công việc tuyệt vời là tiếp thị sứ mệnh Apollo, cấp tin cho các phóng viên thay vì giấu kín". Tracy Dahlby tại Trường Báo chí Austin của Đại học Texas nói. 
"Họ đã tuyển các phi hành gia như những anh hùng trong phim và truyền thông đã ăn theo nó. Đó là một câu chuyện lạc quan mà họ có thể kể trong thời điểm thống trị của tin tức về Chiến tranh Việt Nam và chính trị hỗn loạn của quốc gia."
Vào thời của Apollo 11, TV đã đầu tư rất nhiều vào các chương trình không gian. Thậm chí hợp tác sản xuất như trường hợp Ben Wright của Trung tâm Briscoe.
"Lúc đó các hãng phim đã phát triển mạnh kỹ năng của họ," ông Wright nói. "Mặc dù chưa có công nghệ như chia màn hình, nhưng những gì bạn thấy không khác nhiều so với các bản tin ngày nay, với các phân đoạn hình ảnh và phóng viên ở hiện trường."
Kế hoạch của CBS News rất phức tạp, tốn kém và có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều địa điểm đưa tin trên ba lục địa. Các tài liệu của CBS từ thời điểm đó đã mô tả tầm quan trọng của viêc đưa tin nhiệm vụ Apollo 11.
"[Mặt trăng là] bước đầu tiên trong nỗ lực của con người để có được cái nhìn toàn cảnh hơn về Trái đất và mối quan hệ của chúng ta với thế giới khác, các yếu tố khác, và cuộc sống khác", một bản ghi nhớ được viết như lời thơ.
Lịch trình đưa tin phác thảo của CBS về sự trở lại Trái đất của Apollo 11Bản quyền hình ảnhUT AUSTIN’S BRISCOE CENTER FOR AMERICAN HISTORY
Image captionLịch trình đưa tin phác thảo của CBS về sự trở lại Trái đất của Apollo 11
"Chuyến bay Apollo này sẽ được xếp trong lịch sử sánh ngang với những sự kiện trong hàng ngàn năm qua được lưu lại bởi các nhà thơ, nhà sử học và những người vượt qua giới hạn để tìm thấy một lục địa mới, chinh phục đại dương hoặc một vùng cực hoặc đỉnh núi mới."Nó không chỉ là óc tưởng tượng của giới làm truyền hình đánh cuộc đầu tư của họ vào việc thu hút người xem. 
"Sẽ thật tuyệt vời nếu việc chinh phục mặt trăng khiến nhiều người Mỹ tự hào hơn khi họ sống trên quốc gia vĩ đại nhất trên trái đất", Bob Eckart, một nhân viên bảo hiểm, viết trong một lá thư ngày 15 tháng 5 cho Walter Cronkite, trước khi mô tả một "Bữa tiệc mặt trăng" mà ông và bạn bè đã lên kế hoạch tổ chức, đầy đủ với "bánh quy bụi mặt trăng", "súp miệng núi lửa" và "ánh trăng" để uống.
CBS, cùng với hai hãng tin khác, NBC và ABC, đã chi tổng cộng 13 triệu đôla cho chương trình, gần bằng số tiền họ đã chi trả cho tháng 11 trước đó cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1968.
Khán giả tập trung tại Công viên Trung tâm ở New York, New York để xem truyền hình tường thuật sự kiện Apollo 11 lên mặt trăng trên một trong ba màn hình khổng lồ vào ngày 20 /7/1969Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionKhán giả tập trung tại Công viên Trung tâm ở New York, New York để xem truyền hình tường thuật sự kiện Apollo 11 lên mặt trăng trên một trong ba màn hình khổng lồ vào ngày 20 /7/1969
Nasa đã giúp đỡ các hãng tin rất nhiều. Họ vừa phải tập trung để 'làm nên lịch sử', vừa phải lo về ngân sách tương lai, nhưng vẫn làm việc không mệt mỏi để tạo ra các tài liệu nghe nhìn về mặt trăng, hình ảnh và các cập nhật cho truyền thông gần với thời gian thực nhất có thể, (tất cả nằm trong một một bộ công cụ báo chí toàn diện gồm 254 trang).
Kết quả là 94% người sở hữu TV tại Mỹ đã theo dõi sứ mệnh mặt trăng.
"Không có truyền hình, cuộc đổ bộ lên mặt trăng sẽ chỉ là một thành tích ấn tượng - một chiêu trò tốn kém, đối với người hoài nghi," Joshua Rothman của New York nhận xét. "Thay vào đó, việc được xem trực tiếp, không chỉnh sửa và ở khắp mọi nơi, đã đem đến trải nghiệm chân thực trên toàn cầu."
Ông Wright nhấn mạnh sự màu nhiệm của việc phát sóng một tin tốt lành giữa sự hỗn loạn của thập niên 1960 ở Mỹ, ngoài các cuộc biểu tình về Chiến tranh Việt Nam còn có các vụ ám sát các nhà lãnh đạo dân quyền và chính trị gia, bạo loạn ở vô số thành phố của Mỹ và một hội nghị quốc gia dân chủ đã rơi vào tình trạng hỗn loạn.
Một phần khác của sự hấp dẫn, theo John Craft, giáo sư tại Trường Báo chí Walter Cronkite tại Đại học bang Arizona, là cuộc đổ bộ diễn ra trong bối cảnh người Nga đưa vệ tinh Sputnik vào không gian.
"Người Mỹ đã thấy có một sự thách thức đối với vai trò lãnh đạo thế giới của mình", ông Craft nói. "Vì vậy, đưa người lên mặt trăng giúp chúng ta trở có lại vị trí dẫn đầu."
Tuy nhiên, trong suốt hành trình đó, sự thể hiện mạnh mẽ, đầy nhiệt huyết Mỹ có thể biến thành bi kịch chỉ trong tíc tắc - và người xem biết điều đó.
"Chương trình TV đưa bạn vào phòng điều khiển Houston, nơi có hàng đống người đổ mồ hôi hột, tự hỏi liệu chuyện này có thành công không, và liệu họ có thể đưa các phi hành gia rời khỏi mặt trăng hay không".
Mission Operations Control Room in the Mission Control Center, Building 30, on the second day of the Apollo II lunar landing missionBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionPhòng điều khiển trung tâm vào ngày thứ hai của sứ mệnh đổ bộ mặt trăng
"Người xem cảm thấy áp lực y hệt như những người ngồi trong phòng điều khiển - bạn có thể coi nó là hư cấu, nhưng xem cả quá trình trong thời gian thực và không biết điều gì sẽ xảy ra khiến mọi thứ kịch tính đến khó tin."
Ông cũng vạch ra rằng chưa bao giờ có một sự kiện truyền thông nào hấp dẫn người xem như vậy.
"Khi xem chương trình ở Ohio, tôi có thể đi đến cửa sổ và nhìn ra mặt trăng, cùng lúc trên TV chiếu hình một người đàn ông đặt chân lên nó," ông Craft nói. "Đó sẽ là một khoảnh khắc thật khó để có lại."
Cronkite đã mô tả cuộc đổ bộ khoảnh khắc Christopher Columbus của Thế kỷ 20 - một thành tích hoành tráng nhưng cũng chứa đựng những tranh cãi của chính nó.
James Burke, Cliff Michelmore và Patrick Moore của BBC tường thuật về sự kiện
Image captionJames Burke, Cliff Michelmore và Patrick Moore của BBC tường thuật về sự kiện
Các nhà sử học tranh luận về tầm quan trọng của các nhiệm vụ của Apollo của Nasa. So với penicillin hoặc microchip, hạ cánh trên mặt trăng có vẻ là một thành tích phù phiếm.
Về mặt chính trị thế giới vẫn tiếp tục vận hành như trước đây, mặc dù một số nhà bình luận hy vọng cuộc đổ bộ lên mặt trăng sẽ là sự mở đầu cho hòa bình thông qua việc truyền cảm hứng và sáng tạo.
"Sứ mệnh Apollo 11 cũng là một trải nghiệm tuyệt đối trắng," ông Wright nói, "với rất nhiều người đàn ông mặc com lê nói về những người đàn ông trong bộ đồ vũ trụ một cách rất chân thành, thường trích dẫn bi kịch Hy Lạp". Phụ nữ hoặc người da màu hầu như không được nhắn đến - ngay cả những bộ đồ của phi hành gia cũng không thể trắng hơn thế, ông lưu ý.
Nó cũng cực kỳ đắt đỏ, vào khoảng 19,4 tỷ đôla, theo báo cáo năm 2009 của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội - ước tính khoảng 116,5 tỷ đôla theo tỷ giá hiện nay.
Giới chỉ trích vào thời điểm đó, bao gồm các nhân vật trong các phong trào chống chiến tranh và dân quyền, đã chỉ ra việc một người đàn ông trên mặt trăng thì chẳng mấy có ích cho các trẻ em nghèo ở các thành phố bị lãng quên của Mỹ (ngày nay người ta bẻ lại rằng nghiên cứu khoa học từ chương trình vũ trụ đã mang lại vô số phát triển mà ngày nay chúng vẫn tiếp tục mang lại lợi ích cho cuộc sống hàng ngày).
"Thật dễ quên khi nhìn vào các sự kiện qua tấm gương chiếu hậu, rằng công chúng Mỹ lo ngại về số tiền bỏ ra để đưa một người lên mặt trăng, trong khi chúng ta cũng phải đối mặt với những vấn đề tương tự khi nhìn vào chúng ta ở trái đất," ông Dahlby nói.
"Báo chí có thể là một công cụ cùn, nhưng tôi nghĩ rằng truyền thông ngày nay, tốt nhất, nên xem xét kỹ lưỡng hơn tất cả các khía cạnh của một câu chuyện lớn như sứ mệnh đặt trên lên mặt trăng - những gì liên quan đến nó, những người liên quan, chi phí - và đây là cách tốt nhất: tường thuật dựa trên dữ liệu và các kỹ thuật mới khác, có nghĩa là một nền báo chí có trách nhiệm có thể đào sâu hơn, nhanh hơn và làm tốt hơn. "
Trang chính của tờ The Austin American ngày 22/7/1969Bản quyền hình ảnhUT AUSTIN’S BRISCOE CENTER FOR AMERICAN HISTORY
Image captionTrang chính của tờ The Austin American ngày 22/7/1969
Sau khi hoàn thành sứ mệnh, Nasa đã làm việc cật lực để thúc đẩy các hoạt động và củng cố di sản của mình, nhưng trong những năm 1970, cả công chúng và giới truyền thông bắt đầu đặt câu hỏi về chi phí liên quan đến sứ mệnh thám hiểm không gian.
Tuy nhiên, tác động mang tính văn hóa của việc đặt chân lên mặt trăng đã được chứng minh, một cách sâu sắc, không bàn cãi. "Mặt tối của mặt trăng", "đại bàng đã hạ cánh" và "một bước đi ngắn của con người, một bước tiến vĩ đại của nhân loại", vĩnh viễn đi vào từ vựng của Mỹ.
Trong khi đó, niềm đam mê với khoảng không vũ trụ không bị thui chột. Thập niên 1970 chứng kiến sự bùng nổ các mối quan tâm đến khoa học viễn tưởng, ảnh hưởng đến các ngôi sao nhạc rock như Pink Floyd và David Bowie và các nhà sản xuất phim như George Lucas, đạo diễn bộ phim kinh điển "Chiến tranh giữa các vì sao" năm 1977 và Ridley Scott, đạo diễn bộ phim khoa học giả tưởng kinh dị "Alien" ra mắt công chúng năm 1979.
Cuối cùng, những hình ảnh kỳ lạ từ mặt trăng được chụp và phát sóng 50 năm trước tiếp tục vượt qua mọi cuộc tranh luận về lợi ích và chi phí của cuộc thám hiểm mặt trăng.
113 điều về các sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử 
"Những phát triển khoa học và công nghệ trong thế kỷ này khiến chúng ta kinh ngạc", Cronkite hồi tưởng lại trong cuốn Những cuộc trò chuyện với Cronkite.
"Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng một sự kiện, một tình tiết sẽ được ghi nhớ, là khi con người thoát khỏi môi trường của mình trên trái đất."
Sau đó, trở lại với mặt đất trên truyền thông Mỹ, sự xuất hiện của các mạng lưới mới và cạnh tranh gia tăng đã bắt đầu một sự thay đổi không thể chối cãi từ truyền thống cung cấp dịch vụ công sang việc kiếm tiền.
"Có quá nhiều sự cạnh tranh ngày nay, hầu hết các cơ quan truyền thông là doanh nghiệp - bạn cần kiếm tiền và chịu trách nhiệm trước các cổ đông của mình", ông Craft nói. "Mọi người quên rằng nên có một số mối quan tâm của công chúng đi cùng với điều đó."

Tin liên quan