Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

Cuộc triệt thoái Cao nguyên

Cuộc triệt thoái Cao nguyên

19-3-2020
17 tháng 3 là ngày Pleiku và Kontum thất thủ, theo tư liệu Bên thắng cuộc. Tuy nhiên, một số đơn vị không quân VNCH vẫn kiểm soát nhiều nơi ở phi trường Pleiku cho đến trưa ngày 18. Dù sao đi nữa, từ 17 đến 18 tháng 3 Pleiku và Kontum 2 tỉnh lỵ nơi tuyến đầu của Vùng 2 Chiến thuật đã thất thủ mà bên chiến thắng không phải tốn viên đạn nào. Hơn một ngày trước, các lực lượng chính quy của Quân đoàn II VNCH đã lần lượt rút bỏ khỏi 2 nơi này, mở đầu cho cuộc triệt thoái khỏi Cao nguyên Trung phần.
Cuộc triệt thoái này trực tiếp gây ra sự sụp đổ dây chuyền của VNCH. Chưa đến mười ngày sau, Vùng 1 Chiến thuật hỗn loạn trong một cuộc rút quân khác. Phần đất đai rộng lớn của Vùng 1 và Vùng 2 từ sông Thạch Hãn xuống đến Nha Trang hoàn toàn rơi vào kiểm soát của quân Bắc Việt. Nhiều đơn vị tinh nhuệ và kỳ cựu như Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 Bộ binh tan hàng sau hỗn loạn ở Huế và Đà Nẵng.
Tuy sau đó quân lực VNCH vớt vát bằng trận tử thủ để đời ở Xuân Lộc, nhưng vẫn không ngăn được đà sụp đổ chóng vánh của toàn miền Nam và kết thúc vào 30 tháng 4 năm 1975. Đó là một cái kết bất ngờ cho cả phía bên kia. Nên biết rằng Hà Nội dự liệu chiến tranh kéo dài đến sau năm 1976.
Trở về cuộc triệt thoái. Đương nhiên, chỉ huy cao nhất là Tư lệnh Quân đoàn II Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Trước đó, từ 10 đến 11 tháng 3, tướng Phú đã mất Ban Mê Thuột. Do Ban Mê Thuột thất thủ, sáng 11 tháng 3, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp khẩn ở lầu 3 Dinh Độc Lập với 3 cố vấn là các ông Viên, Khiêm, và Quang. Cuộc họp quyết định rút bỏ toàn bộ Quân đoàn II khỏi Pleiku và Kontum, tái phối trí về vùng duyên hải để chiếm lại Ban Mê Thuột. Thật ra, đây là chiến lược đã được bàn đến và đáng lẽ ra phải được triển khai sớm hơn.
3 ngày sau đó, ông Thiệu và 3 vị trên tổ chức một cuộc họp lịch sử ở Cam Ranh. Trong cuộc họp này, tướng Phú chính thức nhận lệnh triệt thoái. Ông có 72 tiếng để thi hành và hoàn tất cuộc triệt thoái! Bên cạnh việc tái phối trí toàn bộ quân chính quy, tướng Phú phải để lại các lực lượng địa phương quân, nghĩa quân của hai tiểu khu Pleiku và Kontum để cầm chân địch. Người Mỹ cũng không được biết về toàn bộ cuộc chuyển quân.
Để đi từ Cao nguyên về vùng duyên hải, tướng Phú có 3 lựa chọn. Thứ nhất, Quốc lộ 19 từ Pleiku chạy về Quy Nhơn là con đường ngắn nhất thì đã bị cắt ít nhất 2 nơi ở 2 bên đèo An Khê. Thứ hai, Quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột về Nha Trang thì chắc chắn là không dùng được. Vì để chuyển quân từ Pleiku đến đường 21 phải theo Quốc lộ 14 xuống Ban Mê Thuột trước. Mà Quốc lộ 14 đã bị Sư đoàn 320 Bắc Việt đóng chốt nhiều nơi. Phương án cuối cùng là dùng Liên tỉnh lộ 7B từ Pleiku qua Phú Bổn xuống Phú Yên. Đây là con đường hẹp, rất xấu, đoạn cuối gần đến Tuy Hòa còn bị quân Nam Hàn gài mìn. Chưa kể đường 7B có hơn 10 cây cầu phải sửa chữa, đặc biệt có một đoạn qua sông Ba phải bắt lại cầu dài gần 600m. Nhưng tướng Phú đề xuất với TT Thiệu chọn con đường này để gây bất ngờ cho địch quân.
Đây là một phương án hợp lý của tướng Phú, cũng như tái phối trí khỏi Cao nguyên là một chiến lược hợp lý của Tổng thống Thiệu (mà dịp khác sẽ bàn). Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng Quân đoàn đã cùng tướng Phú hoàn thành kế hoạch triệt thoái ngay trong đêm 14. Kế hoạch chia làm 3 giai đoạn rất rõ ràng. Tuy nhiên, việc thực thi kế hoạch thiếu tổ chức và sự bằng mặt mà không bằng lòng giữa các cấp chỉ huy trực tiếp đã gây nên một thất bại thảm hại. Việc này sẽ bàn ở bài sau.
Ngày 15 tháng 3, các đơn vị Công binh xuất phát trước để lo việc cầu đường. Tiếp theo các đơn vị Biệt động quân và Thiết giáp di chuyển đến Cheo Reo, tỉnh lỵ của Phú Bổn, chờ xong cầu. Đáng tiếc trong 2 ngày từ 15 đến 17, dân thường ở Pleiku và Kontum đều biết kế hoạch triệt thoái đáng lý ra phải được giữ tuyệt mật. Do đó, hàng chục ngàn dân với hàng trăm xe cộ bỏ nhà cửa chạy theo đoàn quân, gây nên cảnh tắc nghẽn từ Pleiku đến Cheo Reo.
Trong khi chờ xong cầu, đoàn chiến xa của Quân đoàn II bị phục kích ở đèo Tuna (hiện nay là đèo Tô Na) trong đêm tối. Trên đoạn đường đèo hẹp và hiểm trở, xe tăng và thiết vận xa không có bộ binh tùng thiết trở thành mồi ngon cho B-40. Khi trận chiến đang diễn ra, đoàn xe thường dân liều lĩnh vượt đèo gây thêm hỗn loạn, khiến chiến xa phải bật đèn để không cán trúng xe dân. Việc này càng làm tổn thất nặng nề hơn. Phải đến ngày hôm sau, Biệt động quân phối hợp với chiến xa phản công giải tỏa được đèo Tuna. Nhưng do sự thiếu phối hợp trong chuyển quân, đoàn xe và người càng ngày càng ùn đến và tắc nghẽn ở Cheo Reo, trong khi cầu chưa xong.
Thấy được sự chuyển quân của VNCH, Sư đoàn 320 từ phía Bắc Ban Mê Thuột truy kích đến Cheo Reo (Hậu Bổn) trong ngày 18. Lúc đó, đoàn quân và dân thường bị mắc kẹt ở tỉnh lỵ heo hút miền núi này đã lên đến hàng chục ngàn. Pháo binh Sư đoàn 320 tác xạ vào đoàn người, gây nên cảnh hỗn loạn, hàng trăm dân thường tử thương. Thêm vào đó, lính địa phương quân người Thượng nổi loạn cướp phá khiến tình hình càng thêm rối bời. Các chỉ huy hoàn toàn mất kiểm soát binh sĩ của mình.
Đến giữa trưa ngày 19, hầu như toàn bộ các đơn vị của Quân đoàn II bị mắc kẹt và tan hàng ở Cheo Reo. Con số của phe thắng cuộc cung cấp là 20 ngàn dân thường chạy nạn bị giữ lại ở Cheo Reo. Quân VNCH bị tiêu diệt, bị bắt và đầu hàng ở đây lên đến khoảng 15 ngàn. Chỉ có 1/3 chiến xa và một ít Biệt động quân vượt thoát khỏi đèo Tuna và đến được Củng Sơn, cùng hàng chục ngàn thường dân. 4 Liên đoàn Biệt động quân, nhiều đơn vị của Sư đoàn 23 Bộ binh, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ và toàn bộ pháo binh của Quân đoàn II xem như bị xóa sổ. Đây là thất bại nặng nề nhất của quân đội VNCH cho đến thời điểm đó trong cuộc chiến.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.