Nguyễn Xuân Diện: QUANH ĐỀ TÀI KH CẤP CƠ SỞ NĂM 2018 CỦA TÔI
QUANH ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2018 CỦA TÔI
Nguyễn Xuân Diện
1. Năm 2018, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu nghệ thuật thư họa trong tư liệu Hán Nôm”. Đề tài này là đề tài hàng năm, cũng là nhiệm vụ mà các nghiên cứu viên của Viện thực hiện. (quy định báo cáo tổng hợp khoảng 50 trang). Kinh phí đầu tư là 31.000.000 đ, trong đó có 1.550.000đ là chi phí quản lý.
Đề tài khoa học “Nghiên cứu nghệ thuật thư họa trong tư liệu Hán Nôm” là một đề tài mới mẻ và nhiều thách thức đối với tôi. Nhưng do sự say mê đối với nghệ thuật cha ông và do tôi tìm thấy khoảng trống của nghiên cứu tranh dân gian còn bỏ ngỏ mà tôi quyết định đặt tâm huyết vào để nghiên cứu.
Trong Thuyết minh đăng ký đề tài, đề tài này có 2 chương:
Chương 1: Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh: Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế) và tranh thờ chân dung
Nguyễn Xuân Diện
1. Năm 2018, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu nghệ thuật thư họa trong tư liệu Hán Nôm”. Đề tài này là đề tài hàng năm, cũng là nhiệm vụ mà các nghiên cứu viên của Viện thực hiện. (quy định báo cáo tổng hợp khoảng 50 trang). Kinh phí đầu tư là 31.000.000 đ, trong đó có 1.550.000đ là chi phí quản lý.
Đề tài khoa học “Nghiên cứu nghệ thuật thư họa trong tư liệu Hán Nôm” là một đề tài mới mẻ và nhiều thách thức đối với tôi. Nhưng do sự say mê đối với nghệ thuật cha ông và do tôi tìm thấy khoảng trống của nghiên cứu tranh dân gian còn bỏ ngỏ mà tôi quyết định đặt tâm huyết vào để nghiên cứu.
Trong Thuyết minh đăng ký đề tài, đề tài này có 2 chương:
Chương 1: Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh: Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế) và tranh thờ chân dung
1.1. Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh:
Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế)
Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế)
1.2. Khảo cứu tư liệu thư họa dòng tranh thờ chân dung
Chương 2: Giá trị nội dung và nghệ thuật của thư họa trong tư liệu Hán Nôm
2.1. Giá trị Thư họa trên tranh dân gian Đông Hồ
2.2. Giá trị thư họa trên tranh dân gian Hàng Trống
2.3. Giá trị thư họa trên tranh dân gian Kim Hoàng
Khi viết báo cáo, tôi đã sắp xếp các chương mục như sau:
Chương 1: Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh: Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế) và tranh thờ chân dung
1.1. Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh: Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế)
1.2. Khảo cứu tư liệu thư họa dòng tranh thờ chân dung
Chương 2: Giá trị nội dung và nghệ thuật của thư họa trong tư liệu Hán Nôm
2.1. Giá trị Thư họa trên tranh dân gian Đông Hồ
2.1.1. Giá trị về nội dung
2.1.2. Giá trị về nghệ thuật thư họa
2.2. Giá trị thư họa trên tranh dân gian Hàng Trống
2.2.1. Giá trị về nội dung
2.2.2. Giá trị nghệ thuật thư họa
2.3. Giá trị thư họa trên tranh dân gian Kim Hoàng
2.3.1. Giá trị về nội dung
2.3.2. Giá trị về nghệ thuật thư họa.
Như vậy, các mục 2.1.1; 2.2.1 và 2.3.1 (đã được tô đậm và in nghiêng ở trên) không thuộc những gì mà tôi đăng ký ở bản thuyết minh.
Cụ thể, tôi đã khảo sát 1123 bức tranh (bao gồm tranh trong sưu tập cá nhân của gia đình tôi – do Trang Thanh Hiền sưu tập, và ảnh chụp tranh dân gian trong bộ sưu tập của M.Duran và Phan Ngọc Khuê) để thực hiện các biện pháp sàng lọc (dựa vào phong cách và dùng các sách về Niên họa Trung Hoa đối chứng để loại bỏ các bức tranh Trung Quốc) chọn ra 610 bức tranh dân gian để tiến hành nghiên cứu.
Trong 610 bức tranh dân gian là đối tượng nghiên cứu, có 174 bức tranh Đông Hồ, 70 tranh Kim Hoàng, 366 tranh Hàng Trống (trong sưu tập ảnh đã công bố của Phan Ngọc Khuê). Đây là lần đầu tiên một số lượng lớn tranh của ba dòng tranh Đông Hồ, Kim Hoàng và Hàng Trống được nghiên cứu từ góc độ nghệ thuật thư họa. [Trong khi, theo TS Nguyễn Doãn Minh, hiện phòng trưng bày Tranh dân gian của Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia (Hà Nội) chỉ có 56 tranh/bộ tranh cho cả 4 dòng tranh Đông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống, Sình].
Sau khi khảo sát, tôi thấy chữ Hán Nôm trên tranh được bố cục có thể quy về 3 dạng, và tôi đặt tên cho nó:
Chữ điền trống: chữ được đặt vào khoảng trống hợp lý trong tranh, làm cho bức tranh vừa có thêm ngữ nghĩa, nhưng đồng thời cũng điểm xuyết cho khoảng trống trong tranh đó trở nên đẹp đẽ hơn, đỡ trống trải trong nguyên tắc bố cục.
Chữ đề thượng: chữ đặt ở phần trên toàn bộ bố cục của bức tranh. Chữ đề thượng thường là một bài thơ hay một đoạn viết có dung lượng lớn. Mảng khắc chữ này sẽ tạo thành một mảng riêng biệt trong bố cục, vừa có tính gắn kết vừa có tính độc lập với hình ảnh biểu tượng được thể hiện ra trên tranh.
Chữ đề giải: là bố cục các chữ chú thích vào từng hình ảnh hoặc hoạt cảnh để giải thích thêm cho hình hay cảnh đó rõ nghĩa hơn. Bố cục này có tính chất tự do hơn so với hai loại trên.
Tôi đã lập các bảng thống kê cho từng tranh, từng dòng tranh và rút ra các bảng tổng hợp. Kết quả cho thấy: 84% trong tổng số 174 tranh Đông Hồ có chữ Hán Nôm; 84.6% trong tổng số 70 tranh Kim Hoàng có chữ Hán Nôm, 55.2% trong tổng số 366 tranh Hàng Trống có chữ Hán Nôm.
Sau đó, tôi tiếp tục đưa ra bảng tổng hợp đối với mỗi dòng tranh thì tỷ lệ giữa các loại bố cục: Điền trống, Đề giải, Đề thượng, Phức hợp (tức là vừa Điền trống, vừa Đề giải), và một số tranh đặc biệt.
Từ những thống kê tôi bình luận về giá trị nghệ thuật thư họa của tranh có chữ Hán Nôm. Và đã đi đến 5 Kết luận về nghệ thuật thư họa tranh dân gian Việt Nam.
Cuối lời Kết luận, tôi viết: “Nghệ thuật thư họa của tranh dân gian Việt Nam là một đề tài lớn, hấp dẫn mà công trình nhỏ bé này chỉ là một cố gắng ban đầu. Mối quan hệ giữa con chữ Hán Nôm trên tranh và những nét vẽ cùng màu sắc của các nhân vật trong tranh đã nói lên rằng sự liên kết giữa chúng là biểu hiện của một tinh thần Việt, tư tưởng Việt để truyền đạt thông điệp đến hôm nay và mai sau”.
Từ góc nhìn của một người nghiên cứu và giảng dạy về nghệ thuật tạo hình dân gian, TS. Quách Thị Ngọc An (Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật trung ương) là thành viên Hội đồng lần 2 đã nhận xét Về giá trị khoa học của đề tài:
“Lần đầu tiên có một công trình về tranh dân gian bao quát cả 4 dòng tranh nổi tiếng của Việt Nam: Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng và Sình (Huế) được thống kê đầy đủ, chọn lọc, phân loại để tiến hành khảo sát về nghệ thuật thư họa.
- Lần đầu tiên, thư họa tranh dân gian được nghiên cứu về mặt bố cục chữ và họa trên tranh.
- Thông qua kết quả của đề tài cho thấy chữ Hán Nôm có vai trò rất quan trọng trong tranh dân gian: Tác phẩm có chữ trên tranh Đông Hồ chiếm 84% tổng số tranh, Tác phẩm có chữ trên tranh Kim Hoàng chiếm 84,6 % tổng số tranh, Tác phẩm có chữ trên tranh Hàng Trống chiếm 55,2 % tổng số tranh”.
2. Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2018 của tôi đã trải qua hai lần nghiệm thu: lần 1: Họp ngày 28 tháng 11 năm 2018. Kết quả: 49/100 điểm. Kết luận: Yêu cầu tác giả thực hiện đúng theo Thuyết minh (bao gồm nghiên cứu văn bản học Hán Nôm, thống kê số lượng từng dòng tranh bao nhiêu cái có chữ, bao nhiêu cái không chữ; lập bảng biểu, mô hình phân loại v.v.) theo ý kiến của Hội đồng. Xếp loại: Không đạt.
Sau khi tiếp thu ý kiến góp ý của Hội đồng, tôi đã chỉnh sửa, hoàn thiện để nộp lại phục vụ nghiệm thu. Ngày 11/12/ 2018, Hội đồng nghiệm thu đã họp đánh giá. Hội đồng đã có chung nhận xét bản thảo đã sửa chữa tiếp thu các ý kiến của Hội đồng lần 1, tuy nhiên Hội đồng chấm điểm: 45/100 điểm. Hội đồng lần 2 kết luận: Không đạt (mắc lỗi đạo văn). Xếp loại: Không đạt.
Các ủy viên Phản biện của Hội đồng lần 2, gồm: PGS.TS. Lã Minh Hằng (Phản biện 1), TS. Trần Trọng Dương (Phản biện 2) đã chỉ ra tất cả các lỗi “đạo văn” của đề tài.
Những sơ xuất này đều nằm ở Chương 2 của đề tài, tên chương là Giá trị Nội dung và Nghệ thuật của thư họa trong tư liệu Hán Nôm; những đoạn viết ngắn với những câu chữ cụ thể ấy thuộc kiến thức phổ thông nằm rải rác trong phần “Giá trị Nội dung” của tranh dân gian. Những đoạn mắc lỗi chép không dẫn nguồn đều không thuộc những gì mà tôi đăng ký ở bản thuyết minh. Những lỗi này hoàn toàn là do tôi. Dù xuất phát từ bất cứ lý do, nguyên nhân nào đi chăng nữa cũng đáng bị phê phán, nghiêm túc khắc phục, sửa chữa.
Chiều ngày 21 tháng 12 năm 2018, Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2018 với sự có mặt của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và đại diện các phòng ban chức năng của Viện Hàn lâm và đông đủ cán bộ viên chức, người lao động của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tại hội nghị này, tôi đã phát biểu, nói lời cảm ơn chân thành tới hai Hội đồng lần 1 và lần 2, và cá nhân các thành viên của hai Hội đồng, gồm TS. Nguyễn Hữu Mùi, PGS.TS Lã Minh Hằng, TS. Trần Trọng Dương, TS. Đào Phương Chi đã cho tôi những nhận xét, góp ý cụ thể và bổ ích.
Với tinh thần cầu thị, tôi cũng nói lời xin lỗi về việc đã không hoàn thành được đề tài năm 2018. Với tôi là một bài học sâu sắc, quý báu. Bài học này sẽ đi theo tôi suốt cả cuộc đời.
Hội nghị đã vỗ tay để bày tỏ sự cảm thông chia sẻ với tôi. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Quang Thuấn, trong lời phát biểu của mình cũng ghi nhận lời phát biểu của tôi là rất chân thành.
3. Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục dành thời gian để đầu tư, hoàn thiện đề tài “Nghiên cứu nghệ thuật thư họa trong tranh dân gian Việt Nam” để xuất bản, và hy vọng công trình này sẽ sớm đến tay bạn đọc.
Hà Nội, Ngày 21 tháng 12 năm 2018
N.X.D
_______
Phụ lục: Xin giới thiệu bài viết về Đạo văn của Giáo sư Vũ Hà Văn để cùng tham khảo
Đạo Văn
Vũ Hà Văn
26/2/2018
Hiện tượng đạo văn ngày càng được nhắc đến nhiều hơn trên báo chí, và nhận được sự quan tâm của xã hội. Trong bài này, chúng tôi muốn bàn tới khía cạnh học thuật của hiện tượng này.
Các hành động đạo văn thường được nhắc tới như sau.
Phát hiện: Trong bài báo của A và B có những đoạn giống hệt nhau. (Bằng chứng rõ ràng: bản sao của hai bài báo.) Vì bài của A viết trước của B, và xác suất hai người khác nhau viết một câu dài (hay một đoạn văn vài ba câu) giống hệt nhau là hầu như bằng không, chắc chắn B đã đạo văn của A.
Kết luận: Đạo văn là không thể chấp nhận được trong nghiên cứu khoa học. B cần phải được xử lý.
Hai bước này gần như rất logic và thống nhất với nhau. Nhưng thật ra giữa chúng có một bước ẩn. Đó là ta đã đồng nghĩa việc bài báo có những câu giống nhau với việc sao chép kết quả nghiên cứu. Việc không thể chấp nhận được trong khoa học là việc sao chép kết quả và phương pháp nghiên cứu mà không có trích dẫn.
Để có thể hiểu rõ mối liên quan giữa việc đạo văn một cách hình thức (hai bài báo có những đoạn giống hệt nhau) và sự kiện tác giả B sao chép kết quả và phương pháp nghiên cứu của A, có lẽ chúng ta cần đi sâu thêm một chút.
Trước khi nói về đạo văn, trước hết ta cần chỉ rõ: văn là gì ? Trong khuôn khổ bài viết này, văn là môt bài báo khoa học. (Chúng tôi xin nói thêm đạo văn trong khoa học và văn học có những chỗ khác nhau, nhưng ta sẽ không bàn ở đây.)
Một bài báo khoa học thường có cấu trúc như sau:
(1) Mở bài: Giới thiệu vấn đề, lịch sử của vấn đề, các kết quả đã có, các phương pháp đã được dùng vv.
(2) Thân bài: Giới thiệu kết quả mới, so sánh với các kết quả cũ.
(3) Thân bài: Thảo luận về phương pháp dẫn đến kết quả mới, độ tin cậy của phương pháp. Một số ngành, như toán, đòi hỏi chứng minh chặt chẽ.
(4) Cuối bài: thảo luận các vấn đề liên quan, phương hướng nghiên cứu trong tương lai.
Trên thực tế, rất hay có trùng hợp ở phần mở bài. Chẳng hạn, trong một nghiên cứu về chuối, Tiến sĩ A viết
….Trong bài báo”Một số nghiên cứu cơ bản về chuối”, tạp chí Chuối cả nải, số 21, năm 1978, các tác giả X,Y, Z, sử dụng phương pháp ngoại cảm và tích phân trong không gian đa chiều, đã chứng minh một cách tường minh rằng chuối khi chín vỏ sẽ màu vàng, tuy vậy trên một số quả chuối nhất định, vỏ có thể màu vàng chanh.
Vài năm sau, trong một nghiên cứu mới hơn về chuối, tiến sĩ B viết lại y hệt câu này.
Vậy đây có đích xác là một hành động không thể chấp nhận được ?
Bài báo của XYZ là môt bài rất nổi tiếng trong chuối học, và kết quả của họ là kinh điển. Nếu cả ông A và B viết về kết quả kinh điển này giống nhau, không phải chuyện quá ngạc nhiên. Thật ra viết khác nhau mới là lạ.
Phần mở bài, nếu mục đích là liệt kê lịch sử của một vấn đề đã được nghiên cứu lâu, thì các tác giả viết trùng nhau nhiều là điều dễ hiểu. Nếu vấn đề của tác giả A nghiên cứu là hoàn toàn mới và thú vị, do chính ông ấy nghĩ ra, và một thời gian sau, ông B đặt lai vấn đề này với những từ ngữ y hệt như của ông A, và coi nó như mới, khi đó là lúc vấn đề trở nên nghiêm trọng. Và nó nghiêm trọng ngay cả khi ông B không dùng những câu y hệt như của A.
(2) Nếu kết quả hai bài báo giống hệt nhau thì sao ? Bạn sẽ bảo, ồ thế thì đạo đứt đuôi rồi còn gì.
Nếu kết quả của bài báo A là “chúng tôi thực hiện tiêm Vaxin 456F tại Nigeria, và trong số 124 hà mã được tiêm, 32 con có phản ứng rõ rệt, cụ thể là béo lên rất nhanh”, và ông B viết lại y hệt câu này như một kết quả của ông ấy, trong khi chưa bao giờ đặt chân đến châu Phi (và rất có thể cũng chưa bao giờ nhìn thấy hà mã) thì chính xác, hành động của ông không thể được chấp nhận.
Nhưng trường hợp sau thì sao?
Ông A “Chúng tôi chứng minh giả thiết “rùa đi rất chậm” của giáo sư C, đặt ra năm 1902, là hoàn toàn đúng, trên cả hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm.”
Ông B “Chúng tôi chứng minh giả thiết “rùa đi rất chậm” của giáo sư C, đặt ra năm 1902, là hoàn toàn đúng, trên cả hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm.”
Trong trường hợp này, kết quả chỉ là giả thiết là đúng hay sai thôi.
Nếu A và B cùng chứng minh môt giả thiết, thì kết quả của họ (nếu cùng đúng) giống nhau là điều tất nhiên. Nếu đây là môt giả thiết nổi tiếng, thì chắc chắn họ buộc phải trích dẫn kết quả của nhau, vì tất cả các nhà nghiên cứu trong ngành sẽ biết về các kết quả này. Nếu họ chưa làm, biên tập của tạp chí mà họ gửi bài chắc chắn sẽ nhắc nhở họ.
Nếu giả thiết không có gì thú vị, khả năng A và B chả biết gì về nghiên cứu của nhau là có, vì rất có thể cả hai cùng không tin là có người thứ hai trên đời quan tâm đến vấn đề này. Và gần như chắc chắn biên tập cũng không biết gì về vấn đề này hết để có thể nhắc nhở họ.
(3) Phương pháp và lý luận: Thật ra đây mới là phần đạo văn dễ xảy ra nhất. Và nó không xảy ra ở dạng mà ta nêu ra ở đầu bài, tức là ông nọ sao chép y bản chính toàn bộ lý luận của ông kia vào. Làm như vậy quả thật quá dốt, và tác giả xứng đáng được xử lý.
Cái nguy hiểm thật sự của đạo văn trong khoa học, thật ra là đạo ý tưởng.
Ý tưởng mới hay phương pháp mới chính là phần quan trọng và tinh tuý nhất trong nghiên cứu. Nhưng nó cũng là thứ khó đóng khung nhất. Bởi ý tưởng có thể thể hiện qua rất nhiều cách, mà nhìn qua chúng có vẻ khác nhau. Một nhà nghiên cứu, cả đời may mắn có 2,3 ý tưởng hay phương pháp mới mà thôi. Trong âm nhạc, một nhạc sĩ cũng chỉ sáng tác theo 2,3 phong cách. Đôi khi cả đời chỉ một phong cách cũng có rất nhiều. Nicolas Cage là một diễn viên nổi tiếng, nhưng trong phần lớn các phim, anh chỉ thoại theo một kiểu.
Tác giả lấy ý tưởng người khác, xào nấu theo một cách khác, hoặc thay đổi một vài chi tiết, và lấy đó làm ý tưởng chủ đạo của mình, cái này mới thật sự là vấn đề lớn trong khoa học, gây ra vô số tranh cãi. Học trò thầy giáo nhiều khi không nhìn mặt nhau là thường. Trong khi đó, các bài báo của họ không có câu nào trùng nhau hết.
Cách tự vệ của nhiều nhà nghiên cứu là đặt cho ý tưởng (phương pháp) mới của họ môt cái tên dễ nhớ, như “chuối lượng tử” (tên khoa học đầy đủ: xác định độ dày của vỏ chuối bằng phương pháp lượng tử), gần như một dạng đăng ký bằng phát minh.
Cách này có thể thành công, nếu ý tưởng mới rất đặc biệt, hoặc nhà nghiên cứu nọ là một cây đa cây đề không ai dám trêu vào, hoặc nhiều năng lượng đi vòng quanh quả đất quảng bá cho công trình của mình. Nếu không, rất dễ ý tưởng đó sẽ được nhắc lại, dưới một dạng hơi khác, và với một cái tên khác.
Qua đây ta có thể thấy việc đạo văn trong khoa học phức tạp hơn lộ trình hai bước nêu ở đầu bài một chút, và trong rất nhiều truờng hợp, cần đến ý kiến của các chuyên gia. Nếu tuân thủ theo lộ trình 2 bước trên một cách cứng nhắc, thì có một ngày gần đây các chương trình máy tính sẽ trở thành các quan toà, và điều đó chưa chắc mang lại lợi ích cho khoa học.
(Các tên gọi và trích dẫn trong bài này hoàn toàn là tưởng tượng. Bất kỳ sự trùng hợp nào là ngẫu nhiên. Tác giả cũng xin thành thật xin lỗi hà mã vì đã gọi chúng là béo.)
Vũ Hà Văn
Chương 1: Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh: Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế) và tranh thờ chân dung
1.1. Khảo cứu tư liệu Thư họa tranh dân gian thuộc 4 dòng tranh: Đông Hồ - Hàng Trống – Kim Hoàng và Sình (Huế)
1.2. Khảo cứu tư liệu thư họa dòng tranh thờ chân dung
Chương 2: Giá trị nội dung và nghệ thuật của thư họa trong tư liệu Hán Nôm
2.1. Giá trị Thư họa trên tranh dân gian Đông Hồ
2.1.1. Giá trị về nội dung
2.1.2. Giá trị về nghệ thuật thư họa
2.2. Giá trị thư họa trên tranh dân gian Hàng Trống
2.2.1. Giá trị về nội dung
2.2.2. Giá trị nghệ thuật thư họa
2.3. Giá trị thư họa trên tranh dân gian Kim Hoàng
2.3.1. Giá trị về nội dung
2.3.2. Giá trị về nghệ thuật thư họa.
Như vậy, các mục 2.1.1; 2.2.1 và 2.3.1 (đã được tô đậm và in nghiêng ở trên) không thuộc những gì mà tôi đăng ký ở bản thuyết minh.
Cụ thể, tôi đã khảo sát 1123 bức tranh (bao gồm tranh trong sưu tập cá nhân của gia đình tôi – do Trang Thanh Hiền sưu tập, và ảnh chụp tranh dân gian trong bộ sưu tập của M.Duran và Phan Ngọc Khuê) để thực hiện các biện pháp sàng lọc (dựa vào phong cách và dùng các sách về Niên họa Trung Hoa đối chứng để loại bỏ các bức tranh Trung Quốc) chọn ra 610 bức tranh dân gian để tiến hành nghiên cứu.
Chữ điền trống: chữ được đặt vào khoảng trống hợp lý trong tranh, làm cho bức tranh vừa có thêm ngữ nghĩa, nhưng đồng thời cũng điểm xuyết cho khoảng trống trong tranh đó trở nên đẹp đẽ hơn, đỡ trống trải trong nguyên tắc bố cục.
Chữ đề thượng: chữ đặt ở phần trên toàn bộ bố cục của bức tranh. Chữ đề thượng thường là một bài thơ hay một đoạn viết có dung lượng lớn. Mảng khắc chữ này sẽ tạo thành một mảng riêng biệt trong bố cục, vừa có tính gắn kết vừa có tính độc lập với hình ảnh biểu tượng được thể hiện ra trên tranh.
Chữ đề giải: là bố cục các chữ chú thích vào từng hình ảnh hoặc hoạt cảnh để giải thích thêm cho hình hay cảnh đó rõ nghĩa hơn. Bố cục này có tính chất tự do hơn so với hai loại trên.
Sau đó, tôi tiếp tục đưa ra bảng tổng hợp đối với mỗi dòng tranh thì tỷ lệ giữa các loại bố cục: Điền trống, Đề giải, Đề thượng, Phức hợp (tức là vừa Điền trống, vừa Đề giải), và một số tranh đặc biệt.
Từ những thống kê tôi bình luận về giá trị nghệ thuật thư họa của tranh có chữ Hán Nôm. Và đã đi đến 5 Kết luận về nghệ thuật thư họa tranh dân gian Việt Nam.
Cuối lời Kết luận, tôi viết: “Nghệ thuật thư họa của tranh dân gian Việt Nam là một đề tài lớn, hấp dẫn mà công trình nhỏ bé này chỉ là một cố gắng ban đầu. Mối quan hệ giữa con chữ Hán Nôm trên tranh và những nét vẽ cùng màu sắc của các nhân vật trong tranh đã nói lên rằng sự liên kết giữa chúng là biểu hiện của một tinh thần Việt, tư tưởng Việt để truyền đạt thông điệp đến hôm nay và mai sau”.
Từ góc nhìn của một người nghiên cứu và giảng dạy về nghệ thuật tạo hình dân gian, TS. Quách Thị Ngọc An (Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật trung ương) là thành viên Hội đồng lần 2 đã nhận xét Về giá trị khoa học của đề tài:
“Lần đầu tiên có một công trình về tranh dân gian bao quát cả 4 dòng tranh nổi tiếng của Việt Nam: Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng và Sình (Huế) được thống kê đầy đủ, chọn lọc, phân loại để tiến hành khảo sát về nghệ thuật thư họa.
- Lần đầu tiên, thư họa tranh dân gian được nghiên cứu về mặt bố cục chữ và họa trên tranh.
- Thông qua kết quả của đề tài cho thấy chữ Hán Nôm có vai trò rất quan trọng trong tranh dân gian: Tác phẩm có chữ trên tranh Đông Hồ chiếm 84% tổng số tranh, Tác phẩm có chữ trên tranh Kim Hoàng chiếm 84,6 % tổng số tranh, Tác phẩm có chữ trên tranh Hàng Trống chiếm 55,2 % tổng số tranh”.
2. Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2018 của tôi đã trải qua hai lần nghiệm thu: lần 1: Họp ngày 28 tháng 11 năm 2018. Kết quả: 49/100 điểm. Kết luận: Yêu cầu tác giả thực hiện đúng theo Thuyết minh (bao gồm nghiên cứu văn bản học Hán Nôm, thống kê số lượng từng dòng tranh bao nhiêu cái có chữ, bao nhiêu cái không chữ; lập bảng biểu, mô hình phân loại v.v.) theo ý kiến của Hội đồng. Xếp loại: Không đạt.
Sau khi tiếp thu ý kiến góp ý của Hội đồng, tôi đã chỉnh sửa, hoàn thiện để nộp lại phục vụ nghiệm thu. Ngày 11/12/ 2018, Hội đồng nghiệm thu đã họp đánh giá. Hội đồng đã có chung nhận xét bản thảo đã sửa chữa tiếp thu các ý kiến của Hội đồng lần 1, tuy nhiên Hội đồng chấm điểm: 45/100 điểm. Hội đồng lần 2 kết luận: Không đạt (mắc lỗi đạo văn). Xếp loại: Không đạt.
Các ủy viên Phản biện của Hội đồng lần 2, gồm: PGS.TS. Lã Minh Hằng (Phản biện 1), TS. Trần Trọng Dương (Phản biện 2) đã chỉ ra tất cả các lỗi “đạo văn” của đề tài.
Những sơ xuất này đều nằm ở Chương 2 của đề tài, tên chương là Giá trị Nội dung và Nghệ thuật của thư họa trong tư liệu Hán Nôm; những đoạn viết ngắn với những câu chữ cụ thể ấy thuộc kiến thức phổ thông nằm rải rác trong phần “Giá trị Nội dung” của tranh dân gian. Những đoạn mắc lỗi chép không dẫn nguồn đều không thuộc những gì mà tôi đăng ký ở bản thuyết minh. Những lỗi này hoàn toàn là do tôi. Dù xuất phát từ bất cứ lý do, nguyên nhân nào đi chăng nữa cũng đáng bị phê phán, nghiêm túc khắc phục, sửa chữa.
Chiều ngày 21 tháng 12 năm 2018, Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2018 với sự có mặt của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và đại diện các phòng ban chức năng của Viện Hàn lâm và đông đủ cán bộ viên chức, người lao động của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tại hội nghị này, tôi đã phát biểu, nói lời cảm ơn chân thành tới hai Hội đồng lần 1 và lần 2, và cá nhân các thành viên của hai Hội đồng, gồm TS. Nguyễn Hữu Mùi, PGS.TS Lã Minh Hằng, TS. Trần Trọng Dương, TS. Đào Phương Chi đã cho tôi những nhận xét, góp ý cụ thể và bổ ích.
Với tinh thần cầu thị, tôi cũng nói lời xin lỗi về việc đã không hoàn thành được đề tài năm 2018. Với tôi là một bài học sâu sắc, quý báu. Bài học này sẽ đi theo tôi suốt cả cuộc đời.
Hội nghị đã vỗ tay để bày tỏ sự cảm thông chia sẻ với tôi. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Quang Thuấn, trong lời phát biểu của mình cũng ghi nhận lời phát biểu của tôi là rất chân thành.
3. Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục dành thời gian để đầu tư, hoàn thiện đề tài “Nghiên cứu nghệ thuật thư họa trong tranh dân gian Việt Nam” để xuất bản, và hy vọng công trình này sẽ sớm đến tay bạn đọc.
Hà Nội, Ngày 21 tháng 12 năm 2018
N.X.D
_______
Phụ lục: Xin giới thiệu bài viết về Đạo văn của Giáo sư Vũ Hà Văn để cùng tham khảo
Đạo Văn
Vũ Hà Văn
26/2/2018
Hiện tượng đạo văn ngày càng được nhắc đến nhiều hơn trên báo chí, và nhận được sự quan tâm của xã hội. Trong bài này, chúng tôi muốn bàn tới khía cạnh học thuật của hiện tượng này.
Các hành động đạo văn thường được nhắc tới như sau.
Phát hiện: Trong bài báo của A và B có những đoạn giống hệt nhau. (Bằng chứng rõ ràng: bản sao của hai bài báo.) Vì bài của A viết trước của B, và xác suất hai người khác nhau viết một câu dài (hay một đoạn văn vài ba câu) giống hệt nhau là hầu như bằng không, chắc chắn B đã đạo văn của A.
Kết luận: Đạo văn là không thể chấp nhận được trong nghiên cứu khoa học. B cần phải được xử lý.
Hai bước này gần như rất logic và thống nhất với nhau. Nhưng thật ra giữa chúng có một bước ẩn. Đó là ta đã đồng nghĩa việc bài báo có những câu giống nhau với việc sao chép kết quả nghiên cứu. Việc không thể chấp nhận được trong khoa học là việc sao chép kết quả và phương pháp nghiên cứu mà không có trích dẫn.
Để có thể hiểu rõ mối liên quan giữa việc đạo văn một cách hình thức (hai bài báo có những đoạn giống hệt nhau) và sự kiện tác giả B sao chép kết quả và phương pháp nghiên cứu của A, có lẽ chúng ta cần đi sâu thêm một chút.
Trước khi nói về đạo văn, trước hết ta cần chỉ rõ: văn là gì ? Trong khuôn khổ bài viết này, văn là môt bài báo khoa học. (Chúng tôi xin nói thêm đạo văn trong khoa học và văn học có những chỗ khác nhau, nhưng ta sẽ không bàn ở đây.)
Một bài báo khoa học thường có cấu trúc như sau:
(1) Mở bài: Giới thiệu vấn đề, lịch sử của vấn đề, các kết quả đã có, các phương pháp đã được dùng vv.
(2) Thân bài: Giới thiệu kết quả mới, so sánh với các kết quả cũ.
(3) Thân bài: Thảo luận về phương pháp dẫn đến kết quả mới, độ tin cậy của phương pháp. Một số ngành, như toán, đòi hỏi chứng minh chặt chẽ.
(4) Cuối bài: thảo luận các vấn đề liên quan, phương hướng nghiên cứu trong tương lai.
Trên thực tế, rất hay có trùng hợp ở phần mở bài. Chẳng hạn, trong một nghiên cứu về chuối, Tiến sĩ A viết
….Trong bài báo”Một số nghiên cứu cơ bản về chuối”, tạp chí Chuối cả nải, số 21, năm 1978, các tác giả X,Y, Z, sử dụng phương pháp ngoại cảm và tích phân trong không gian đa chiều, đã chứng minh một cách tường minh rằng chuối khi chín vỏ sẽ màu vàng, tuy vậy trên một số quả chuối nhất định, vỏ có thể màu vàng chanh.
Vài năm sau, trong một nghiên cứu mới hơn về chuối, tiến sĩ B viết lại y hệt câu này.
Vậy đây có đích xác là một hành động không thể chấp nhận được ?
Bài báo của XYZ là môt bài rất nổi tiếng trong chuối học, và kết quả của họ là kinh điển. Nếu cả ông A và B viết về kết quả kinh điển này giống nhau, không phải chuyện quá ngạc nhiên. Thật ra viết khác nhau mới là lạ.
Phần mở bài, nếu mục đích là liệt kê lịch sử của một vấn đề đã được nghiên cứu lâu, thì các tác giả viết trùng nhau nhiều là điều dễ hiểu. Nếu vấn đề của tác giả A nghiên cứu là hoàn toàn mới và thú vị, do chính ông ấy nghĩ ra, và một thời gian sau, ông B đặt lai vấn đề này với những từ ngữ y hệt như của ông A, và coi nó như mới, khi đó là lúc vấn đề trở nên nghiêm trọng. Và nó nghiêm trọng ngay cả khi ông B không dùng những câu y hệt như của A.
(2) Nếu kết quả hai bài báo giống hệt nhau thì sao ? Bạn sẽ bảo, ồ thế thì đạo đứt đuôi rồi còn gì.
Nếu kết quả của bài báo A là “chúng tôi thực hiện tiêm Vaxin 456F tại Nigeria, và trong số 124 hà mã được tiêm, 32 con có phản ứng rõ rệt, cụ thể là béo lên rất nhanh”, và ông B viết lại y hệt câu này như một kết quả của ông ấy, trong khi chưa bao giờ đặt chân đến châu Phi (và rất có thể cũng chưa bao giờ nhìn thấy hà mã) thì chính xác, hành động của ông không thể được chấp nhận.
Nhưng trường hợp sau thì sao?
Ông A “Chúng tôi chứng minh giả thiết “rùa đi rất chậm” của giáo sư C, đặt ra năm 1902, là hoàn toàn đúng, trên cả hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm.”
Ông B “Chúng tôi chứng minh giả thiết “rùa đi rất chậm” của giáo sư C, đặt ra năm 1902, là hoàn toàn đúng, trên cả hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm.”
Trong trường hợp này, kết quả chỉ là giả thiết là đúng hay sai thôi.
Nếu A và B cùng chứng minh môt giả thiết, thì kết quả của họ (nếu cùng đúng) giống nhau là điều tất nhiên. Nếu đây là môt giả thiết nổi tiếng, thì chắc chắn họ buộc phải trích dẫn kết quả của nhau, vì tất cả các nhà nghiên cứu trong ngành sẽ biết về các kết quả này. Nếu họ chưa làm, biên tập của tạp chí mà họ gửi bài chắc chắn sẽ nhắc nhở họ.
Nếu giả thiết không có gì thú vị, khả năng A và B chả biết gì về nghiên cứu của nhau là có, vì rất có thể cả hai cùng không tin là có người thứ hai trên đời quan tâm đến vấn đề này. Và gần như chắc chắn biên tập cũng không biết gì về vấn đề này hết để có thể nhắc nhở họ.
(3) Phương pháp và lý luận: Thật ra đây mới là phần đạo văn dễ xảy ra nhất. Và nó không xảy ra ở dạng mà ta nêu ra ở đầu bài, tức là ông nọ sao chép y bản chính toàn bộ lý luận của ông kia vào. Làm như vậy quả thật quá dốt, và tác giả xứng đáng được xử lý.
Cái nguy hiểm thật sự của đạo văn trong khoa học, thật ra là đạo ý tưởng.
Ý tưởng mới hay phương pháp mới chính là phần quan trọng và tinh tuý nhất trong nghiên cứu. Nhưng nó cũng là thứ khó đóng khung nhất. Bởi ý tưởng có thể thể hiện qua rất nhiều cách, mà nhìn qua chúng có vẻ khác nhau. Một nhà nghiên cứu, cả đời may mắn có 2,3 ý tưởng hay phương pháp mới mà thôi. Trong âm nhạc, một nhạc sĩ cũng chỉ sáng tác theo 2,3 phong cách. Đôi khi cả đời chỉ một phong cách cũng có rất nhiều. Nicolas Cage là một diễn viên nổi tiếng, nhưng trong phần lớn các phim, anh chỉ thoại theo một kiểu.
Tác giả lấy ý tưởng người khác, xào nấu theo một cách khác, hoặc thay đổi một vài chi tiết, và lấy đó làm ý tưởng chủ đạo của mình, cái này mới thật sự là vấn đề lớn trong khoa học, gây ra vô số tranh cãi. Học trò thầy giáo nhiều khi không nhìn mặt nhau là thường. Trong khi đó, các bài báo của họ không có câu nào trùng nhau hết.
Cách tự vệ của nhiều nhà nghiên cứu là đặt cho ý tưởng (phương pháp) mới của họ môt cái tên dễ nhớ, như “chuối lượng tử” (tên khoa học đầy đủ: xác định độ dày của vỏ chuối bằng phương pháp lượng tử), gần như một dạng đăng ký bằng phát minh.
Cách này có thể thành công, nếu ý tưởng mới rất đặc biệt, hoặc nhà nghiên cứu nọ là một cây đa cây đề không ai dám trêu vào, hoặc nhiều năng lượng đi vòng quanh quả đất quảng bá cho công trình của mình. Nếu không, rất dễ ý tưởng đó sẽ được nhắc lại, dưới một dạng hơi khác, và với một cái tên khác.
Qua đây ta có thể thấy việc đạo văn trong khoa học phức tạp hơn lộ trình hai bước nêu ở đầu bài một chút, và trong rất nhiều truờng hợp, cần đến ý kiến của các chuyên gia. Nếu tuân thủ theo lộ trình 2 bước trên một cách cứng nhắc, thì có một ngày gần đây các chương trình máy tính sẽ trở thành các quan toà, và điều đó chưa chắc mang lại lợi ích cho khoa học.
(Các tên gọi và trích dẫn trong bài này hoàn toàn là tưởng tượng. Bất kỳ sự trùng hợp nào là ngẫu nhiên. Tác giả cũng xin thành thật xin lỗi hà mã vì đã gọi chúng là béo.)
Vũ Hà Văn
Nguồn: Học thế nào.
Lúc sinh thời, nhà thơ Phạm Tiến Duật viết rằng (đại ý): Có một người bạn của ông,ông ấy là một trí thức người châu Âu, khi hai người gặp nhau và trò chuyện, ông ấy có hỏi ông Phạm Tiến Duật rằng : Tôi không hiểu : Vì nguyên nhân nào đã khiến người dân ở nơi đây, có những người luôn luôn suy nghĩ và hành động theo kiểu " muốn đạp lên lưng của người khác để tiến lên; níu kéo nhau...".
Người xưa có câu : " Trâu buộc ghét trâu ăn."
và " Không được ăn thì đạp đổ ."
Xin chia buồn cùng Tiến sỹ Hán-Nôm Nguyễn Xuân Diện !