Chuyên đề đặc biệt: VU LAN - TÍN NGƯỠNG - PHONG TỤC & VĂN HÓA
Thưa chư vị,Nhân mùa Vu lan báo hiếu năm nay, xin gửi đến quý đạo hữu xa gần lời cầu chúc An lành - Thành tựu; cùng chùm bài về chủ đề Vu lan của các tác giả:
Bài 1: Nguồn gốc lễ Vu Lan, sưu tầm và tổng hợp.Bài 2: Nguyễn Du và "Văn tế thập loại chúng sinh" trong tương quan văn hóa Phật giáo - bài của Thiền Phong Phạm Tuấn.Bài 3: Giải oan cắt kết - nét đặc sắc của tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Bài của Thượng tọa Thích Quảng TùngBài 4: Tổ chức dàn nhạc trong nghi lễ cầu siêu. Bài của Nguyễn Đình Lâm (Viện Âm nhạc).Bài 5: Nguyên nhân tục đốt vàng mã (Lễ Vu Lan không đốt vàng mã). Bài của Hòa thượng Tố Liên.Bài 6: Phật giáo không chủ trương đốt vàng mã. Nguyễn Xuân Diện trả lời PV báo Nhà báo và Công luận nhân lễ Vu lan.Bài 7: Chữ Hiếu xưa và nay của Huệ Lưu.Bài 8: Vu lan này vắng mẹ của Phùng Hoàng Anh.Bài 9: Diễn xướng thanh nhạc Phật giáo trong nghi lễ cầu siêu của Nguyễn Đình Lâm. Bài này nói về các nghi thức: Canh - Kệ - Tán - Tụng trong nghi lễ cầu siêu.Bài 10: Nguyễn Xuân Diện trả lời PV Đài Tiếng nói Việt Nam về giá trị nhân văn và đặc sắc của Lễ Vu lan của người Việt Nam.
Bài 11: Vầng trăng tháng Bảy - tùy bút của Đàm Lan.Bài 12: Chùm thơ Vu lan của Trần Vũ Long.
Bài 13: Tìm hiểu ngọn nguồn chữ "Hiếu" - Phạm Đình Khanh.
Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Xin trích một đoạn trong một buổi lớn chuyện của Tỳ-kheo Bodhi gởi tặng anh. Thầy Bodhi là người Mỹ da trắng, tu tập theo truyền thống Phật giáo Nam tông của Sri Lanka. Hiện Thầy là một trong những tu sĩ được nhiều người biết đến tại Tây phương, đặc biệt tại Mỹ. Xin trích một đoạn: "... Trong những bài thuyết giảng của Ngài, Đức Phật đã đặt ra những đường hướng chỉ đạo rõ ràng để định nghĩa những dấu hiệu đặc biệt của một xã hội công bằng. Trong thế giới hiện nay, những lời dạy của Đức Phật mang tính cấp thiết bức bách mới, nhất là đối với vấn đề công bằng xã hội. Nhu cầu thiết lập chánh pháp, hiểu theo nghĩa là đức hạnh chơn chính, là một nhu cầu không những chỉ để cổ động Phật giáo như một hệ thống giáo lý và tu tập mà còn là cổ xúy cho công bằng ở mọi lãnh vực, xã hội, kinh tế, chính trị. Và cổ xúy cho công bằng cũng có nghĩa là trách nhiệm của chúng ta là phải phê phán và thách thức những bất công bất cứ nơi nào chúng ta bắt gặp, tìm ra nó, chống đối nó, và kéo phăng bức màn che chắn nó, bức màn của sự lừa bịp và dối trá.Bất công chỉ có thể phát triển đàng sau bức màn lừa bịp và dối trá. Một khi bức màn bị kéo phăng ra và khi sự thật trần truồng được mọi người biết, thì bất công phải tàn lụi và sụp đổ." (Trần Như Mai dịch, đăng http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-85_4-16744_5-50_6-1_17-138_14-1_15-1/)
Và ngoài anh linh các anh hùng liệt sĩ, con thành tâm dâng nén hương lòng lên anh linh các vị tiên tổ đã hy hiến cả cuộc đời để đắp tô gìn giữ nền văn hóa quí giá của đoàn dân Lạc Hồng này.
Vì vậy, nếu suy nghĩ trên của tôi là đúng, thì xét tới sự việc xảy ra trong thời gian qua, tôi thấy việc đưa bức tượng của Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh vào trong một ngôi chùa để thờ phụng ngang hàng với các Đức Phật theo tôi là không phù hợp. Tượng của ông nên được đặt thờ ở nơi thờ các vị có công (trong các công trình miếu mạo, đền thờ ...).
Cứ tưởng tượng nếu như những người theo đạo thiên chúa, bây giờ chính phủ họ cũng hò nhau ca ngợi một vị cố tổng thống nào đó rồi phong họ thành chúa trời (ví dụ như Washington của Mỹ, hay Charle de Gaulle của Pháp), rồi cũng đưa tượng của những vị này vào trong nhà thờ của họ để thờ phụng, để mà "tốt đời, đẹp đạo" nhể ?!!!
Còn trong khuôn viên đền thờ Bà Chúa kho cũng ở Bắc Ninh,phía sau ai đó đả xây đền thờ cụ Hồ nhưng hương khói ở đây rất khiêm tốn, phản cảm với hương khói nghi ngút ở đền phía trước.
Tôi chỉ thấy duy nhất 1 lần cụ Hồ đến đền thờ vua Hùng căn dặn các chiến sỉ trung đoàn 57 sư đòn 304: "Các vua Hùng đả có công dựng nước, bác chau ta phải giử lấy nước.Trong lần duy nhất về Kim liên thăm quê hương và ngôi nhà tranh thời thơ ấu nhưng không thấy cụ thắp hương.
1.Bản chất của mọi tôn giáo cũng như mọi lí thuyết xã hội khác là: đó là một tập hợp các luận lý mà ngay từ đầu, đã là một sự "dung hợp". Nó có thể tạo ra những Kinh, Luật, Luận mang đặc trưng riêng nhưng không không thể phủ nhận tính tích hợp tự nhiên của nó. Nho, Phật, Đạo, Ki tô, Đạo hồi... đều không là ngoại lệ.
2. Quá trình "hiện thực hóa" các lí luận, nghi thức tôn giáo (các triết học cũng thế thôi) là một quá trình hỗn dung vô cùng phức tạp và phong phú. Những luật lệ, nghi quỹ phải ứng biến để phù hợp nhu cầu thực tế cũng như nhu cầu tâm lí của con người. Thành ra, nó rất "vạn biến" trong đời sống hiện thực.
3. Văn hóa Việt Nam là sự hỗn dung, là phái sinh nhiều tôn giáo trên thế giới nên không thể có tình trạng "nhất nguyên" tôn giáo nào hết. Tư duy "nhất nguyên" về một lí thuyết nào đó là đáng quý (tạo nên chuyên ngành và khảo sát chuyên sâu), nhưng nó cũng dễ đưa đến tình trạng phiến diện, cực quyền, học phiệt, cố chấp, quan liêu.
4. Phật giáo, từ nguồn gốc và trên tổng thể, luôn luôn là một hệ thống mở, dung hòa hết mọi tư tưởng khác.
5. Bởi vậy, việc một biểu tượng nào đó, quá khứ hay hiện đại, được thờ tự ở một chốn thiêng của một tôn giáo nào đó là hiện tượng BÌNH THƯỜNG.
6. Vậy thì có xóa bản sắc của các tôn giáo hay tín ngưỡng không? Không bao giờ. Vì ứng xử của con người, cũng rất tự nhiên, là "Dĩ bất biến ứng vạn biến". Cái gì là "bất biến" của một tôn giáo: Đó là: Tập hợp tri thức, tập hợp kinh nghiệm, tập hợp nhu cầu và kì vọng của nhà truyền giáo và tín đồ. Tôn giáo mãi vận hành trong những tập hợp đó nên mãi mãi là những hệ thống mở. Một sự phân biệt tuyệt đối là siêu hình trong cách nghĩ.
Để dễ hiểu, ta lấy ví dụ chùa Trấn Quốc là nơi của Phật giáo, chắc chắn bạn cũng phải đồng ý rằng nơi đó (là chùa) chỉ có thờ các Đức Phật mà thôi. Ở đó không thể vì cái gọi là "mở", hay "dung hợp" như bạn nói để đưa tượng Đức Chúa Giê-su (từ nhà thờ) vào trong chùa đó mà thờ được. Ngoài ra, ở Văn Miếu Quốc Tử giám, người ta thờ Khổng Tử, sau nữa là thờ Chu Văn An và các vị tiến sĩ ngày xưa, và rồi sau này còn có thể đưa thêm một số vị khác có công lao về học thuật, về đạo lý, những nhân vật có thật trên đời để thờ phụng, dù họ có thể trở thành Đức Thánh trong lòng nhân dân, nhưng cũng không thể đưa tượng của những vị này vào trong chùa để thờ cùng Đức Phật hay đưa vào trong nhà thờ để thờ cùng Đức Chúa được đâu nhỉ.
Cái nguy hiểm trong xã hội, không chỉ là sự "không biết", mà nguy hiểm hơn, chính là, thấp nhất thì là sự cẩu thả kiểu vô học, sau nữa là sự bảo thủ, rồi cố tình ngụy biện kiểu hiểu biết nửa vời. Nên nhớ, đã là "Đạo", thì phải có nguyên tắc vì bản thân nó đã nói lên điều đó, dù biết rằng không có gì là bất biến ở trên đời, nhưng nếu không có nguyên tắc, thì chắc chắn sẽ không còn là "Đạo" nữa đâu bạn ạ. Nếu bạn vẫn còn u u minh minh với một mớ kiến thức hổ lốn về Đạo và Đời, thì kể cũng khó nói chuyện. Để cho đơn giản nhất, bạn nên bắt đầu trở lại việc tìm hiểu mấy khái niệm A,B,C dưới đây đã, sau đó bạn có thể sẽ phát triển được tiếp những mạch nghĩ của mình : Chùa thờ gì ? Nhà thờ thờ gì ? Đền thờ gì ? Miếu thờ gì ? v.v... thế nhé !
Dễ là một Dư luận viên quá.
Tễu nên xóa cái còm này đi.
(dẫu đền phủ đó ở một không gian độc lập hay nằm trong khuôn viên nhà chùa),
chứ đâu có được ngồi trong Điện Tam Thế chung với các đấng Phật.
Đây giảng của bộ môn Mác- LN đây.
Tài liệu học tập: - GS. Nguyễn Hữu Vui (biên dịch) - Chủ nghĩa vô thần khoa học. Nxb Liên Xô - Giáo trình Triết học- Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội,2000
http://sps.ctu.edu.vn/decuong/ML318.pdf
Mác và Anghen sở dĩ phê phán tôn giáo, xem tôn giáo như là thuốc phiện, chính là vì tôn giáo khẳng định sự bất lực của con người trước sức mạnh thiên nhiên và xã hội. Đối với sức mạnh này, đáng lẽ người ta phải đoàn kết nhau lại, vận dụng mọi trí năng để mà chế ngự thuần phục, bắt chung phải ngoan ngoãn phục vụ con người. Thay vì làm như vậy, tôn giáo lại an ủi người với thuyết Định mệnh, ru ngủ người bằng ảo ảnh Thiên đàng hoặc đe dọa người bằng ảo ảnh địa ngục. Chính vì tôn giáo cống hiến cho người một hạnh phúc hư ảo, cho nên chủ nghĩa Mác phê phán tôn giáo, để hướng người đi tìm một hạnh phúc thực tại ngay ở thế giới này, ngay ở trong xã hội này chứ không phải ở đâu xa lạ.
Và đây nữa Kỷ yếu Hội thảo triết học của Đại học Đà Nẵng này:
L.Phơbách sinh năm 1804 trong gia đình một luật sư nổi tiếng ở Đức, nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, bậc tiền bối của triết học Mác. Đại biểu cuối cùng của một trào lưu triết học đặc sắc, Người đã viết chương cuối cùng hùng tráng trên cơ sơ của chủ nghĩa duy vật và vô thần để kết thúc bản giao hưởng “Triết học cổ điển Đức”.
https://sites.google.com/site/philosophiahv/ky-yeu-hoi-thao-triet-hoc-2011/chu-nghia-duy-vat-nhan-ban-cua-pho-bach