Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

Một đảng thất bại (Phần 2)

 

Một đảng thất bại (Phần 2)

Foreign Affairs

Đặng Sơn Duân dịch

5-12-2020

Tiếp theo Phần 1

LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

Quan điểm của tôi khớp một phần với suy nghĩ của Giang Trạch Dân, người kế nhiệm Đặng Tiểu Bình. Giang Trạch Dân quyết tâm phát triển kinh tế Trung Quốc, tìm kiếm các chính sách kích thích sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân và nỗ lực đưa Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

Tuy nhiên, các chính sách này mâu thuẫn với các lý luận về kinh tế kế hoạch và tự cung tự cấp quốc gia mà ĐCSTQ chủ trương từ lâu. Vì tư tưởng của Marx, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình không thể giải quyết được những mâu thuẫn này, nên Giang Trạch Dân cảm thấy phải đề xuất một cái gì đó mới. Ông gọi nó là “Ba đại diện”.

Giống như những người khác, lần đầu tiên tôi nghe nói về lý thuyết mới này vào tối ngày 25 tháng 2 năm 2000, khi Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) phát sóng một báo cáo về “Ba đại diện”. Giang Trạch Dân nói ĐCSTQ phải đại diện cho ba khía cạnh ở Trung Quốc: đại diện cho “yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến”, một nền văn hóa tiến bộ và lợi ích của đa số người dân. Là một giáo sư tại Trường Đảng Trung ương, tôi lập tức nhận ra lý thuyết này báo hiệu một sự thay đổi lớn trong ý thức hệ của ĐCSTQ. Đặc biệt, điều đầu tiên trong “Ba đại diện” ngụ ý Giang Trạch Dân đã từ bỏ khái niệm cốt lõi của chủ nghĩa Marx rằng các nhà tư bản là một nhóm xã hội bóc lột. Thay vào đó, Giang Trạch Dân đã mở cửa đảng cho những người như họ, một quyết định mà tôi hoan nghênh.

Cơ quan phụ trách công tác tư tưởng của ĐCSTQ là Ban Tuyên truyền Trung ương chịu trách nhiệm tuyên truyền lý luận mới của Giang Trạch Dân, nhưng họ gặp một vấn đề rắc rối: “Ba đại diện” đã bị phe cực tả chỉ trích và họ tin rằng Giang Trạch Dân đã đi quá xa trong việc tranh thủ các doanh nghiệp tư nhân. Để tránh gây tranh cãi, Ban Tuyên truyền Trung ương đã chọn pha loãng lý luận. Tờ Nhân dân Nhật báo đã đăng một bài báo dài cả trang, chứng minh tính đúng đắn của “Ba đại diện” bằng cách trích dẫn chéo các tài liệu của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Tôi thấy điều này không thuyết phục. Nếu chỉ để nhắc lại ý thức hệ hiện hữu thì tại sao phải đề xuất “Ba đại diện”? Tôi chán chường với cách giải thích hời hợt từ cơ quan tuyên truyền của đảng. Tôi quyết tâm tiết lộ ý nghĩa thực sự của “Ba đại diện”. Lý thuyết này thực sự đánh dấu sự khám phá táo bạo của Trung Quốc. Và nó cũng sẽ khiến tôi xung đột với bộ máy quan liêu thâm căn cố đế của ĐCSTQ.

TINH HOA VÔ HỌC

Một cơ hội tình cờ vào đầu năm 2001 cho phép tôi nâng cao hiểu biết về “Ba đại diện”. Khi CCTV nghe nói tôi đặc biệt quan tâm đến lý luận mới của Giang Trạch Dân, họ mời tôi viết kịch bản để họ sản xuất chương trình truyền hình “Ba đại diện”. Tôi dành sáu tháng để nghiên cứu và viết phim tài liệu, cũng như thảo luận chi tiết với các nhà sản xuất đài truyền hình. Trong thuyết minh của mình, tôi nhấn mạnh chỉ có đổi mới chính sách mới có thể đáp ứng được những thách thức của thời đại mới. Tôi nhấn mạnh tuyên bố của Giang Trạch Dân: Nếu chính phủ muốn giảm can thiệp kinh tế, nhiệm vụ của đảng không còn là tạo ra các cuộc cách mạng bạo lực chống lại các nhà tư bản bóc lột mà là khuyến khích tạo ra của cải và cân bằng lợi ích của mọi thành phần trong xã hội.

Vào chiều ngày 16 tháng 6, bốn phó giám đốc của CCTV tập trung tại một trường quay trong trụ sở của đài để xem lại ba tập phim tài liệu dài 30 phút. Khi xem nó, sắc mặt của họ tối sầm lại. Vào cuối tập đầu tiên, một trong những phó giám đốc nói: “Chúng ta hãy dừng lại”.

“Thưa giáo sư Thái, giáo sư có biết tại sao giáo sư được mời làm phim “Ba đại diện” không?”, anh ta hỏi.

Tôi trả lời: “Đảng đã đề xuất một lý luận tư tưởng mới và chúng ta cần tuyên truyền nó”.

Vị quan chức này không hề bị lay chuyển. Anh ta tiếp tục nói: “Bà có thể nói về nghiên cứu và đổi mới của mình trong lớp học ở Trường Đảng, nhưng bà không thể nói về nó trên TV. TV phải rất an toàn”. Vào thời điểm đó, không có ai có thể xác định hàm nghĩa cuối cùng của “Ba đại diện”, anh ta lo lắng kịch bản của tôi có thể không phù hợp với quan điểm của Ban Tuyên truyền. “Nếu có bất kỳ sự khác biệt nào, tác động sẽ quá lớn”.

Một lãnh đạo đài khác phụ họa. “Năm nay là kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc!”, anh ta nói lớn. Một lễ kỷ niệm như vậy không đòi hòi cuộc thảo luận về những thách thức mà đảng phải đối mặt, mà là để kỷ niệm chiến thắng hào hùng của đảng. Vào lúc đó, tôi hiểu: Những người ở CCTV không quan tâm đến hàm ý thực sự của ý thức hệ, họ chỉ muốn làm cho đảng trông hào nhoáng và làm hài lòng cấp trên của họ.

Trong mười ngày tiếp theo, chúng tôi bận rộn làm lại bộ phim tài liệu. Chúng tôi đã cắt những từ nhạy cảm và làm việc suốt ngày đêm. Bài thuyết minh tôi viết được các nhóm quan liêu khác nhau trong đảng thẩm tra về mặt chính trị. Cuối cùng, hơn một chục quan chức đã họp để xét duyệt lần cuối cùng, nhưng lần này tôi càng nhìn thấy thói đạo đức giả trong đảng. Một quan chức cấp cao của ủy ban xét duyệt phát biểu tại cuộc họp. Trong tập thứ hai của bộ phim tài liệu, tôi đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình: “Nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội, phát triển mới là đạo lý cứng”.

Vị quan chức chất vấn: “Nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội? Chủ nghĩa xã hội là gì?”. Anh ta tiếp tục phê bình, giọng càng lúc càng lớn. “Phát triển mới là đạo lý cứng? Làm thế nào hai câu này có thể liên kết với nhau? Hãy chỉ ra cho tôi!”.

Tôi chết lặng. Đây là những lời nguyên văn của Đặng Tiểu Bình, nhưng lãnh đạo Cục Quản lý nhà nước về Phát thanh, Điện ảnh và Truyền hình, một quan chức cấp cao trong một tổ chức quyền lực chịu trách nhiệm giám sát tất cả các phương tiện phát thanh truyền hình, thậm chí còn không biết? Tôi nghĩ ngay đến lời phê bình của Mao Trạch Đông đối với các quan chức thời Cách mạng Văn hóa: “Đừng đọc sách, đừng đọc báo”.

TƯ TƯỞNG SÁO RỖNG

Trong năm 2001, để tuyên truyền lý luận của Giang Trạch Dân, Ban Tuyên truyền Trung ương đề ra việc xây dựng đề cương nghiên cứu “Ba đại diện” làm tài liệu trung ương để phát hành cho toàn đảng học tập và thực hiện. Có lẽ vì tôi đã tham gia một chương trình CCTV và bày tỏ quan điểm của mình về “Ba đại diện” tại một hội nghị học thuật nên tôi được mời hỗ trợ.

Tôi được cử đến trung tâm đào tạo của Ban Tuyên truyền Trung ương gần Tây Sơn ở Bắc Kinh, cùng với một học giả và 18 quan chức của Ban Tuyên truyền. Ban Tuyên truyền Trung ương đã xác định kết cấu tổng thể của đề cương học tập, việc của chúng tôi là điền nội dung vào kết cấu. Nhiệm vụ của tôi là viết phần xây dựng đảng.

Các văn kiện khởi thảo cho trung ương được bảo mật cao. Tôi và đồng nghiệp bị cấm ra khỏi nơi viết lách, sinh hoạt, cũng như không được tiếp khách. Nếu Ban Tuyên truyền Trung ương triệu tập một cuộc họp, những người không được mời tham dự không được phép đặt câu hỏi về nó. Soạn giả chúng tôi có thể đi ăn và đi dạo cùng nhau, nhưng chúng tôi không được phép thảo luận về công việc. Tôi là người phụ nữ duy nhất trong nhóm.

Vào bữa tối, những người đàn ông nói chuyện phiếm và kể chuyện cười. Tôi nghĩ những câu chuyện phiếm có hơi men mang tính khiêu dâm như thế này là vô cùng thô tục và thường lẻn đi sau khi ăn vài miếng. Sau đó, một người tham gia gọi tôi sang một bên và giải thích với tôi rằng nói về công việc chính thức sẽ chỉ khiến chúng tôi gặp rắc rối. Do đó, sẽ an toàn và dễ chịu hơn nếu giới hạn phạm vi trò chuyện trong các vấn đề tình dục.

Hỗ trợ viết “đề cương học tập” là công việc viết lách quan trọng nhất trong đời tôi, nhưng cũng là phi lý nhất. Công việc của tôi là đọc qua một đống tài liệu ghi lại những suy nghĩ của Giang Trạch Dân, bao gồm các bài phát biểu mật và văn kiện nội bộ. Sau đó, tôi trích xuất các trích dẫn thích hợp có liên quan, đặt chúng dưới mỗi tiêu đề phụ và ghi rõ nguồn. Tôi không thể thêm hoặc xóa văn bản, nhưng tôi có thể thay đổi dấu chấm thành dấu phẩy và nối một dấu ngoặc kép này với một dấu ngoặc kép khác. Điều làm tôi kinh ngạc là sự giải thích chính thức về thay đổi tư tưởng quan trọng nhất của đảng thời hậu Mao không hơn gì một công việc cắt và dán.

Bởi vì nhiệm vụ rất đơn giản, tôi mất rất nhiều thời gian chờ đợi công việc của mình được xem xét một cách nhàm chán. Một ngày nọ, tôi ngập ngừng hỏi một giáo sư ở Đại học Nhân dân, người cùng tham gia biên soạn: “Không phải chúng ta đang biên soạn một phiên bản khác của “Mao chủ tịch ngữ lục” sao?, (đề cập đến một cuốn sách bỏ túi màu đỏ trích các câu cách ngôn của Mao trong Cách mạng Văn hóa). Anh ta nhìn quanh, cười ranh mãnh và nói: “Đừng lo lắng quá. Phong cảnh đẹp như thế này, đồ ăn thức uống ngon lành, tản bộ thoái mái, đãi ngộ hậu hĩnh như vậy biết tìm ở đâu? Tìm một cuốn sách để đọc, miễn là cô có mặt khi họ gọi đi họp”.

Vào tháng 6 năm 2003, cuộc họp báo về “Đề cương học tập tư tưởng trọng yếu của Ba đại diện” được tổ chức một cách trang trọng tại Đại lễ đường nhân dân ở Bắc Kinh. Tất cả những người tham gia biên soạn được mời tham dự. Lưu Vân Sơn, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên truyền trung ương lúc bấy giờ trình bày báo cáo. Khi ông ta và các quan chức khác biểu diễn trên sân khấu, tôi có cảm giác chìm đắm liên tục. Hiểu biết của tôi về “Ba đại diện” như một điểm xoay trục quan trọng về ý thức hệ của đảng bị loại bỏ hoàn toàn khỏi tài liệu và được thay thế bằng những thứ khuôn sáo. Nhớ đến những câu chuyện phiếm dung tục trên bàn ăn hàng đêm, lần đầu tiên tôi cảm thấy hệ thống mà bấy lâu nay tôi coi là thiêng liêng lại quá vô lý đến mức không thể chấp nhận được.

(Còn tiếp)

Trang 2 / 2

Foreign Affairs

Đặng Sơn Duân dịch

6-12-2020

Tiếp theo Phần 1 và Phần 2

TRIẾT LÝ BÁN HÀNG

Kinh nghiệm soạn thảo “đề cương học tập” cho tôi biết cái gọi là lý thuyết thiêng liêng do ĐCSTQ chủ trương thực chất là một công cụ ích kỷ dùng để lừa gạt người dân Trung Quốc. Tôi nhanh chóng biết được nó cũng là một thủ đoạn kiếm tiền. Một quan chức mà tôi biết làm việc trong Tổng cục Báo chí và Xuất bản, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt các ấn phẩm và tạp chí, đã kể cho tôi nghe một sự việc đáng lo ngại liên quan đến cuộc đấu tranh giành giật doanh thu xuất bản trong ĐCSTQ.

Trong nhiều năm, Nhà xuất bản Hồng Kỳ là một trong ba cơ sở chịu trách nhiệm xuất bản sách giáo dục trong ĐCSTQ. Vào năm 2005, cơ quan này bắt đầu xuất bản một cuốn sách thông thường về giáo dục đảng thì bị một quan chức của Ban Tổ chức Trung ương (cơ quan chịu trách nhiệm về các quyết định nhân sự của ĐCSTQ) can thiệp và nhấn mạnh chỉ có Ban Tổ chức Trung ương mới có quyền xuất bản cuốn sách như vậy. Quan chức này đã yêu cầu Tổng cục Báo chí và Xuất bản ngăn chặn việc xuất bản cuốn sách.

Tuy nhiên, công việc chính của NXB Hồng Kỳ là xuất bản sách về ý thức hệ. Để thoát khỏi tình trạng khó khăn, Tổng cục Báo chí và Xuất bản đã thẩm tra cuốn sách, hy vọng tìm ra một cái cớ để ngăn chặn việc xuất bản cuốn sách, nhưng thật khó xử là không tìm thấy lỗi gì.

Tại sao Ban Tổ chức Trung ương lại coi quyền xuất bản sách là lãnh địa của mình? Tất cả đều quy về tiền bạc. Nhiều phòng ban có quỹ đen của riêng họ, những quỹ này được sử dụng cho cuộc sống xa hoa của các quan chức cấp cao và phân phối “trợ cấp phúc lợi” cho nhân viên trong bộ phận. Cách dễ nhất để bổ sung những kho bạc nhỏ này là xuất bản sách. Vào thời điểm đó, ĐCSTQ có hơn 3,6 triệu tổ chức cơ sở và mỗi tổ chức được yêu cầu mua ấn phẩm mới.

Nếu mỗi cuốn sách được định giá 10 nhân dân tệ, sẽ có ít nhất 36 triệu nhân dân tệ doanh thu, tương đương hơn 5 triệu đô la Mỹ hiện nay. Vì tiền đến từ ngân sách công của chi bộ đảng địa phương, nên kế hoạch này về cơ bản buộc đảng và chính quyền địa phương sử dụng công quỹ để mua sách, mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các tổ chức cấp cao của đảng. Hèn gì Ban Tổ chức Trung ương mỗi năm lại đẩy mạnh một chủ đề giáo dục chính trị mới. Không có gì ngạc nhiên khi hầu hết tất cả các tổ chức trong ĐCSTQ đều có bộ phận xuất bản của riêng họ. Hầu hết mọi bộ phận đều phát minh ra những cách mới để kiếm tiền và tham nhũng đã thâm nhập vào hệ thống ĐCSTQ.

Mặc dù tôi ngày càng thất vọng hơn, nhưng tôi không hoàn toàn cự tuyệt đảng. Giống như nhiều học giả trong hệ thống, tôi vẫn hy vọng ĐCSTQ có thể chấp nhận cải cách và tiến tới tới một phương hướng dân chủ nhất định. Trong phần sau của thời kỳ Giang Trạch Dân, ĐCSTQ bắt đầu dung túng các cuộc thảo luận tương đối thoải mái về các vấn đề nhạy cảm trong đảng, miễn là các cuộc thảo luận này không bao giờ được công khai.

Tại Trường Đảng Trung ương, tôi và đồng nghiệp có thể thoải mái thảo luận những vấn đề sâu xa trong thể chế chính trị của Trung Quốc. Chúng tôi thảo luận về việc giảm bớt vai trò của các quan chức đảng, để các quan chức hành chính phụ trách các công việc hành chính của chính phủ. Chúng tôi thảo luận về ý tưởng độc lập tư pháp đã được viết vào hiến pháp nhưng chưa bao giờ thực sự được thực thi.

Điều khiến chúng tôi vui mừng là ĐCSTQ đang thực sự thử nghiệm dân chủ trong nội bộ và trong xã hội cấp cơ sở. Tôi xem tất cả những điều này là những dấu hiệu đầy hy vọng của sự tiến bộ. Nhưng những sự kiện sau đó đã khiến sự vỡ mộng của tôi trở nên trầm trọng hơn.

MỘT CÁCH KHÁC

Một bước ngoặt quan trọng xảy ra vào năm 2008, khi tôi đến Tây Ban Nha trong chuyến thăm ngắn ngày dường như là định mệnh. Đến thăm đất nước này như một phần của cuộc trao đổi học thuật, tôi có thể tìm hiểu thêm về cách Tây Ban Nha chuyển đổi từ chế độ chuyên quyền sang dân chủ sau cái chết của nhà độc tài Francisco Franco vào năm 1975. Tôi không thể không so sánh kinh nghiệm của Tây Ban Nha với Trung Quốc.

Mao qua đời chỉ mười tháng sau cái chết của Franco và cả hai quốc gia đã trải qua những thay đổi to lớn trong ba thập niên sau đó. Tuy nhiên, Tây Ban Nha đã hoàn thành quá trình chuyển đổi dân chủ một cách nhanh chóng và hòa bình, đạt được ổn định xã hội và thịnh vượng kinh tế, trong khi Trung Quốc chỉ đạt được một phần chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế hỗn hợp, mà không tự do hóa chính trị. Tây Ban Nha có thể dạy gì cho Trung Quốc?

Kết luận bi quan của tôi là ĐCSTQ không có khả năng cải cách chính trị. Một mặt, sự chuyển đổi của Tây Ban Nha được khởi xướng bởi các lực lượng cải cách trong chế độ hậu Franco, chẳng hạn như Vua Juan Carlos I, người đã đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. ĐCSTQ nắm quyền bằng bạo lực vào năm 1949, bị ám ảnh bởi ý niệm rằng họ có được sự độc quyền vĩnh viễn về quyền lực chính trị. Lịch sử của ĐCSTQ, đặc biệt là việc đàn áp các cuộc biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn, cho thấy họ sẽ không từ bỏ sự độc quyền đó một cách hòa bình. Không một nhà lãnh đạo nào sau Đặng Tiểu Bình có đủ can đảm thúc đẩy cải cách chính trị mà chỉ đơn giản là muốn chuyển giao trách nhiệm này cho các nhà lãnh đạo tương lai.

Tôi cũng được biết sau cái chết của Franco, Tây Ban Nha đã nhanh chóng tạo ra một môi trường thuận lợi để cải cách, củng cố độc lập tư pháp, mở rộng tự do báo chí và thậm chí đưa các lực lượng đối lập vào quá trình chuyển đổi. Ngược lại, ĐCSTQ coi những đòi hỏi về công bằng kinh tế và xã hội là mối đe dọa đối với quyền lực của họ. Họ đàn áp xã hội dân sự và hạn chế nghiêm trọng quyền tự do của người dân. Trong nhiều thập niên, chế độ cộng sản Trung Quốc và nhân dân đối đầu nhau, khiến hòa giải trở thành chuyện khó có thể nghĩ đến.

Nhận thức mới về quá trình chuyển đổi dân chủ của Tây Ban Nha, cùng với nghiên cứu và hiểu biết của tôi về khối Liên Xô cũ đã khiến tôi từ bỏ căn bản ý thức hệ chủ nghĩa Marx mà tôi từng có niềm tin không thể lay chuyển. Tôi nhận ra lý luận mà Marx đưa ra trong thế kỷ 19 không chỉ bị giới hạn bởi trí tuệ của chính ông, mà còn bởi hoàn cảnh lịch sử thời đại của ông. Ngoài ra, tôi cũng nhận ra phiên bản chủ nghĩa Marx tập quyền cao độ và áp bức do ĐCSTQ chủ trương đến từ Stalin nhiều hơn chứ không phải từ chính Marx.

Tôi ngày càng nhận ra đó là một ý thức hệ được hình thành để phục vụ cho một chế độ độc tài tư lợi. Vì vậy, tôi bắt đầu ngụ ý trong các bài báo và bài giảng của mình rằng không nên coi chủ nghĩa Marx là chân lý tuyệt đối và Trung Quốc phải mở đường cho dân chủ. Vào năm 2010, khi một số học giả tự do xuất bản một chuyên đề “Hướng tới chủ nghĩa hợp hiến”, tôi đã đóng góp một bài báo thảo luận về kinh nghiệm của Tây Ban Nha.

Tầm nhìn chung của tôi với các học giả tự do khác là Trung Quốc sẽ bắt đầu bằng nền dân chủ nội đảng và sau một thời gian dài nỗ lực cuối cùng nó sẽ dẫn đến nền dân chủ hợp hiến. Trung Quốc sẽ có một quốc hội và thậm chí là một đảng đối lập thực sự. Trong thâm tâm tôi lo lắng ĐCSTQ có thể chống lại sự chuyển đổi này một cách thô bạo, nhưng tôi luôn giữ nỗi lo này cho riêng mình.

Ngược lại, khi nói chuyện với các đồng nghiệp và sinh viên, tôi nhấn mạnh sự chuyển đổi này có lợi cho Trung Quốc và chính đảng, đảng có thể củng cố tính chính danh của mình bằng cách tự chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhiều quan chức mà tôi từng dạy đã thừa nhận những vấn đề mà ĐCSTQ phải đối mặt, nhưng bản thân họ không thể nói ra. Họ thận trọng thúc giục tôi thuyết phục thượng cấp của họ.

THẤT VỌNG VỚI TẬP CẬN BÌNH

Vấn đề là vào thời điểm đó, người kế nhiệm Giang là Hồ Cẩm Đào đang đi theo hướng ngược lại. Năm 2003, khi Hồ Cẩm Đào vẫn đang trong quá trình tiếp quản và nắm quyền, ông ta đề xuất “Quan điểm phát triển khoa học” để thay thế “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân. Khái niệm này là một nỗ lực khác nhằm biện minh cho mô hình phát triển hỗn hợp của Trung Quốc với lớp vỏ mỏng là ý thức hệ mang âm hưởng chủ nghĩa Marx. Nó tránh được những vấn đề cơ bản mà Trung Quốc phải đối mặt.

Trên thực tế, sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc đang gây ra những xung đột xã hội, chẳng hạn như đất đai của nông dân bị thu hồi để phát triển và các nhà máy bóp nặn công nhân để kiếm thêm lợi nhuận. Số lượng người khiếu kiện tìm kiếm các biện pháp giải quyết của chính phủ tăng đáng kể, với hơn 100.000 vụ biểu tình trên toàn quốc mỗi năm. Theo tôi, những bất mãn này cho thấy trong bối cảnh không có tự do chính trị, việc phát triển kinh tế của Trung Quốc ngày càng trở nên khó khăn.

Tuy nhiên, Hồ Cẩm Đào không nghĩ như vậy. Năm 2008, trong buổi lễ kỷ niệm 30 năm cải cách và mở cửa, ông nói: “Đừng làm rối tung”. Tôi hiểu nhận xét của Hồ có nghĩa là những cải cách kinh tế, chính trị và ý thức hệ mà ĐCSTQ đã thực hiện cho đến nay có thể được duy trì, nhưng sẽ không được thúc đẩy. Hồ Cẩm Đào thực sự đang tự bảo vệ mình để tránh bị cáo buộc từ hai hướng: những người bảo thủ tin rằng cải cách đã đi quá xa, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng nó vẫn chưa đi đủ xa. Do đó, dưới sự giám hộ của Hồ, Trung Quốc bước vào thời kỳ trì trệ chính trị, một quá trình suy thoái tương tự Liên Xô cũ trong thời kỳ Brezhnev.

Vì vậy, tôi lạc quan tin tưởng về Tập khi việc ông ta sẽ lên nắm quyền trở nên rõ ràng. Những cải cách dễ dàng đều đã được thực hiện cách đây 30 năm, bây giờ là lúc giải quyết những vấn đề khó khăn. Với danh tiếng của cha ông Tập, một cựu lãnh đạo ĐCSTQ với khuynh hướng tự do, và phong cách linh hoạt mà chính Tập đã thể hiện trong các chức vụ trước đây, tôi và những người ủng hộ cải cách khác hy vọng nhà lãnh đạo mới của chúng tôi sẽ có can đảm thực hiện những thay đổi táo bạo đối với hệ thống chính trị Trung Quốc.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có niềm tin như vậy đối với Tập Cận Bình. Những người hoài nghi mà tôi biết được chia thành hai loại và cả hai đều đã được chứng minh là nhìn xa trông rộng.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.