Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

Bảy mươi năm vẫn không đọc nổi một bài báo

Bảy mươi năm vẫn không đọc nổi một bài báo

Nguyễn Khắc Mai
23-4-2020
Bảy mươi năm là tuổi thọ của cái Hội nhà báo của Việt nam hiện nay. Họ còn được mệnh danh là “Báo chí Cách mạng”, báo chí lề đảng.
Không đọc nổi vì họ bị bịt mắt và tự bịt mắt chứ không phải họ mù chữ. Có lẽ là họ vô học. Người xưa nói “bất học diện tường”. Nghĩa là kẻ không học chỉ như người úp mặt vào tường, không biết gì cả. Bởi nếu mở mắt ra và có học, nhất định sẽ đọc được.
Đây quả là sự khôi hài, bi kịch của hàng ngàn, vạn giáo sư tiến sĩ của ngành báo chí cách mạng của Việt Nam hôm nay. Điều nghịch lý này sẽ còn gây tội vạ nhiều nữa, nếu…
Bài báo: “Những Cuộc Tranh Luận Về Tự Do Báo Chí” của Các Mác đăng trên tờ Reinisch Zeitung (Nhật báo Tĩnh Ranh) của Đức vào đầu thế kỷ XIX. Hiện bài báo này đã được in trong Tập I, Toàn tập, Mác – Ăng ghen, do NXB Sự Thật – CTQG phát hành. Tôi mạo muội trích ít câu mà tôi thấy thích thú.
1.- “Báo chí nói chung là sự thực hiện tư do của con người. Do đó ở đâu có báo chí ở đó có tự do báo chí”. Sđd TI trang 84.
2.- “Bản chất của báo chí tự do – đó là bản chất dũng cảm, có lý tính, có đạo đức của tự do”. Sđd trang 89.
3.- “Báo chí tự do, đó là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình, là những dây liên hệ biết nói, gắn liền các cá nhân với nhà nước và với toàn thế giới. Nó là hiện thân nền văn hóa đang biến cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh tinh thần và lý tưởng hóa hình thức vật chất thô bạo của cuộc đấu tranh đó”. Sđd trang 100.
4.- “Báo chí tự do đó là sự sám hối công khai của nhân dân trước bản thân mình, mà lời thú tội thật tâm, như mọi người biết, thì có khả năng cứu rỗi”. Sđd trang 100.
5.- “Báo chí tự do đó là tấm gương tinh thần, trong đó nhân dân nhìn thấy bản thân mình, còn sự tự nhận thức là điều kiện đầu tiên của sự sáng suốt. Báo chí tự do đó là tinh thần quốc gia mà mọi túp lều tranh đều có thể có được với những chi phí thấp hơn phương tiện tháp sáng”. Sđd trang 100.
6.- “Báo chí tự do là toàn diện, nơi nào cũng có mặt, cái gì cũng biết. Báo chí tự do là cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực, và lại chảy về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí dưới hình thức của cái tinh thần ngày càng dồi dào”. Sđd trang 100.
7.- “Báo chí tự do đem tình trạng (bần cùng) của nhân dân dưới hình thái trực tiếp của nó, không bị khúc xạ qua bất kỳ giới quan liêu nào cả, tới ngưỡng cửa của nhà vua, tới trước quyền lực của nhà nước”. Sđd trang 237.
8.- “Trong hy vọng và lo lắng, có điều gì báo chí nghe được ở cuộc sống, báo chí sẽ lớn tiếng loan tin cho mọi người đều biết, báo chí tuyên bố sự phán xét của mình đối với những tin tức đó một cách gay gắt hăng say, phiến diện, như những tình cảm và tư tưởng bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó”. Sđd trang 237.
9.- “Luật báo chí là luật thật sự, bởi vì nó biểu hiện sự tồn tại khẳng định của tự do. Nó coi tự do là tình tràng bình thường của báo chí, coi báo chí là tồn tại của tự do…”. Sđd trang 91.
10.- “Tính cách của báo chí bị kiểm duyệt, đó là sự quái dị không có tính cách của sự thiếu tự do, đó là con quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tẩm nước hoa”. Sđd trang 89.
11.- “Kiểm duyệt là sự phê bình với tư cách là độc quyền của chính phủ”. Sđd trang 91.
12.- “Khi sự phê bình không phải công khai, mà là bí mật, không phải về mặt lý luận mà là về thực tiễn, khi sự phê bình không đứng trên các đảng phái mà bản thân trở thành đảng phái, khi sự phê bình tác động không phải bằng lưỡi dao sắc bén của lý tính, mà bằng cái kéo cùn của sự tùy tiện, khi sự phê bình chỉ muốn lên tiếng phê bình mà không muốn chịu sự phê bình, khi sự phê bình phủ nhận bản thân mình bằng sự thực hiện của chính mình, cuối cùng khi sự phê bình không có tính chất phê bình đến mức coi một cách sai lầm cá nhân riêng lẻ là hiện thân của trí tuệ phổ biến coi mệnh lệnh của sức mạnh là mệnh lệnh của lý tính, coi việc dùng sức mạnh thô bạo là luận cứ mạnh mẽ. Khi đó lẽ nào sự phê bình lại không mất tính chất hợp lý của mình?”. Sđd trang 91.
13.- “Luật kiểm duyệt không phải là luật, mà là biện pháp cảnh sát và thậm chí còn là biện pháp cảnh sát tồi, bởi vì nó không đạt được điều nó muốn và nó không muốn điều nó đạt được”. Sđd trang 98.
14.- “Ở nước có chế độ kiểm duyệt bất cứ sách nào bị cấm, tức là không qua kiểm duyệt mà xuất bản, là một sự biến. Sách ấy được coi là kẻ tử vì đạo, mà tử vì đạo, thì không thể không có vầng hào quang và những tín đồ…”. Sđd trang 99.
15.- “Tệ lớn nhất – tệ giả dối, gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt. Tệ xấu căn bản này của nó là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, thậm chí cả mầm mống của mỹ đức cũng không có. Tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất… Điều đó dẫn đến cái gì? Chính phủ chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối, và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn nhân dân hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lưng với cuộc sống quốc gia, biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư… Chế độ kiểm duyệt bóp chết tinh thần quốc gia như thế đó”. Sđd trang 105.
16.- “Trong lĩnh vực báo chí, những người cai trị và những người bị cai trị có khả năng như nhau để phê bình những nguyên tắc và yêu cầu của nhau, nhưng không phải trong khuôn khổ những quan hệ lệ thuộc, mà trên cơ sở ngang quyền với nhau, với tư cách là những công dân của nhà nước – không phải với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, mà với tư cách là những sức mạnh của trí tuệ, với tư cách là những người thể hiện những quan điểm hợp lý”. Sđd trang 290.
Như thế là đã có những quan niệm về Tự do Báo chí về nền báo chí kiểm duyệt, về quan hệ bình đẳng giữa chính quyền và báo chí. Chỉ thiếu là Đọc, Hiểu và Làm cho đúng để đạt tới Mỹ Đức, một phạm trù minh triết tuyệt vời cần có của chính trị Việt Nam.
Ôi! Chữ Nếu. Chữ nếu là sự khát vọng cháy bỏng cùng hiện ra trong nỗi thất vọng cũng khôn cùng. Nếu những người lãnh đạo cộng sản qua các thời kỳ của xứ ta mà biết đọc, họ sẽ hiểu ra, và chúng ta đã có một nền báo chí thứ thiệt. Nếu người dân không biến thành mê tín chính trị, thành những kẻ chỉ biết sống riêng tư, biết nắm lấy quyền sai khiến những “công bộc” phải đọc, phải hiểu chứ không được làm cái việc “cướp đêm cướp ngày” như đã xảy ra, thì chúng ta sẽ có một tinh thần quốc gia, làm cho Việt Nam trở nên siêu việt và vượt lên trong một thời mới Hậu Covid.
Nếu bảy mươi năm qua, chúng ta có một nền Báo Chí Tự Do…
Tôi viết bài này tặng riêng cựu nhà báo Nguyễn Phú Trọng, nhà lãnh đạo báo chí cách mạng Võ Văn Thưởng, cùng các vị công bộc đáng kính trong Chính phủ, Quốc hội, Tòa án và Cảnh sát.

Có những người như thế

Có những người như thế

23-4-2020
Ông Trần Đức Thạch (Thứ 4 từ phải qua) trong một lần ra Hà Nội thăm các nhà hoạt động. Ảnh: FB tác giả
Hôm nay 23/4/2020, trong khi cả nước hân hoan đón chào một ngày mới vui vẻ, với bát phở sáng nóng hổi, với ly cafe thơm phức sau thời hạn cách ly toàn xã hội dài đằng đẵng thì có một người lại bị bắt. Đó là ông Trần Đức Thạch, sinh năm 1952, nguyên là phân đội trưởng đội trinh sát Tiểu đoàn 8 – Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 – Quân đoàn 4, quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là tác giả cuốn hồi ký “HỐ CHÔN NGƯỜI ÁM ẢNH”, phản ánh những mặt trái, phi nhân tính trong chính lực lượng quân đội mà ông đã tham gia.
Đây không phải là lần đầu tiên ông Thạch bị bắt. Năm 2009 ông đã từng bị kết án 3 năm tù giam, 3 năm quản chế với cáo buộc vi phạm điều 88 bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam. Điều 88 là một điều luật ghê tởm thuộc bộ luật hình sự cũ 1999, với định nghĩa là: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiện nay điều 88 được sửa đổi theo bộ luật hình sự mới 2017 là điều 117, với định nghĩa là “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Từ năm 2012 đã từng có một cuộc vận động rất lớn thu hút hàng loạt trí thức tiến bộ Việt Nam và cộng đồng quốc tế lên tiếng, đòi hủy bỏ điều luật 88 này. Những người tham gia vận động nhận định rằng: điều luật 88 là một điều luật mơ hồ, tuỳ tiện, phản dân chủ, đi ngược lại với các công ước quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận mà nhà nước Việt Nam đã ký kết với quốc tế, hòng dập tắt và đàn áp những tiếng nói phản biện xã hội. Có lẽ trước sức ép mạnh mẽ của quốc tế về điều luật này, năm 2017 Việt Nam đã sửa đổi bộ luật hình sự, thay tên điều và sửa đổi nội dung một chút, nhưng thực chất vẫn là “bình mới rượu cũ”, hòng dập tắt mọi chỉ trích của người dân với chế độ mà thôi.
Người dân có quyền chỉ trích chính phủ không?
Ông Hồ Chí Minh, người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, nay đổi tên là Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từng khẳng định: “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” – (HCM toàn tập).
Năm 2016, tại Trung tâm hội nghị quốc gia tại Hà Nội, tổng thống Mỹ Obama phát biểu với người dân: “Tôi vẫn nghe những lời chỉ trích hàng ngày. Nhưng chính sự giám sát đó, những cuộc tranh luận công khai, chỉ ra những điểm không hoàn hảo của chúng tôi, và cho phép tất cả mọi người có tiếng nói đã giúp chúng tôi phát triển mạnh mẽ hơn, thịnh vượng hơn và công bằng hơn” – (trang web Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam).
Điều 117 (điều 88 cũ) bộ luật Hình sự có dập tắt được tiếng nói trái chiều trong xã hội không?
Ông Trần Đức Thạch không phải là người đầu tiên, và cũng không phải là người cuối cùng sẽ bị đàn áp bằng điều luật man rợ này. Có những người sẽ sợ hãi, tụt lại. Nhưng sẽ có nhiều người khác sẽ vẫn lên tiếng, bởi vì chúng ta là con người.
Con người là động vật bậc cao. Trong quá trình thoát thai, tiến hoá từ động vật bậc thấp, con người đã trở nên mạnh mẽ, làm chủ thế giới này bởi khả năng tư duy, nhận xét và lựa chọn những gì hữu ích cho mình. Và ngược lại, con người cũng biết phê phán và từ chối những gì có hại cho mình.
Trong quá trình đấu tranh và xây dựng xã hội loài người, có những dân tộc, bộ lạc… chấp nhận sự đàn áp, im lặng, cúi đầu. Kết cục là nhóm người đó sẽ trở thành những kẻ nô lệ, dân tộc nô lệ, và rồi bị diệt vong. Còn những đất nước, dân tộc và con người ngày nay chính là hậu duệ của những người đã không chịu khuất phục.
Không có người thông minh nào lại đồng ý trở thành thằng ngốc.
Không có ai có hiểu biết nào lại muốn trở thành người ngu dốt.
Không có ai có lương tâm và cảm xúc lại muốn trở nên ích kỷ và hèn hạ, kể cả khi họ bị thuyết phục rằng thằng ngốc, người ngu hay kẻ bất lương được an toàn và sung sướng hơn họ… vì điều đó chẳng khác gì việc từ bỏ tư cách của động vật bậc cao để quay về thân phận thấp kém hơn trong chuỗi tiến hoá.
Benjamin Franklin, nhà triết gia Mỹ từng nói: “Những người có thể từ bỏ tự do trân quý để đổi lấy sự an toàn tạm thời ít ỏi, không xứng đáng với cả tự do lẫn sự an toàn”. Những người đó là có, nhưng không phải là toàn bộ xã hội. Vẫn còn nhiều người khác, dù bị đàn áp khốc liệt đến đâu cũng không từ bỏ đấu tranh, để chấp nhận tụt xuống vị trí thấp hơn của bậc thang tiến hoá, mà ông Trần Đức Thạch chỉ là một đại diện.
Thấy sai trái, thấy bất công là phải lên tiếng. Đấy là đặc tính của động vật bậc cao. Một điều luật, một chế độ chỉ là nhất thời trong lịch sử tiến hoá của loài người, không thể bẻ gãy đặc tính tự nhiên này của con người.

Nhà “công vụ” của nghị sỹ Hoa Kỳ

Nhà “công vụ” của nghị sỹ Hoa Kỳ

23-4-2020
Bên Mỹ không có tiền của thì khó mà được bầu vào một trong hai viện (Hạ viện và Thượng viện). Lý vì họp hành liên miên, nhà ở tiểu bang thì có nhưng lên thủ đô DC phải thuê nhà mà ở, không có chế độ nhà công vụ.
Lương năm của nghị viên (cả hai viện) là 174.000$, chủ tịch Hạ viện là 223.500$, lãnh đạo Thượng viện (đảng cầm quyền và đối lập) là 193.000$.
Giá thuê studio (phòng bé như lỗ mũi, giường đơn, bàn nhỏ, bếp nhỏ, vệ sinh nhỏ…) năm 2019 ở DC là 1.642$/tháng, còn quanh tòa nhà Quốc hội là 1.808$/tháng, chưa bao gồm điện, nước, internet và các loại phụ phí khác đôi lúc đội giá từ 2.200$ đến 2.500$/tháng. Tổng chi phí cho chỗ ở tằn tiện này mất toi 30.000$/năm.
Nghị viên nhiệm kỳ 2 năm có gia đình ở quê, cũng mua hay thuê và thường bằng 1/3 tiền lương năm (60.000$). Thêm 30.000$ chi phí cho cái “lỗ mũi” ở DC thì nghị viên mất ½ lương cho tiền nhà cả hai nơi. Đi lại, đóng thuế, chi tiêu cho con cái học hành, ăn uống, xe cộ… 90K còn lại đủ cho một nghị viên sống trên mức…vất vưởng.
Vì thế không giầu thì đừng đầu tư vào Quốc hội. Mở tiệm café hay làm sushi nếu thuận lợi thu nhập trên 200K/năm là hơn đứt Cuốc viên không có cửa buôn chổi đót.
Thượng nghị sỹ (Thượng viện) thường khá giầu, có công ty, mối làm ăn riêng, giầu mới đủ tiền ứng cử Thượng viện nhiệm kỳ 6 năm.
Có một giải pháp cho các nghị viên là ngủ trong phòng làm việc ngay trong tòa nhà quốc hội hay mấy tòa xung quanh. Lợi đủ điều, không phải trả tiền nhà, điện nước, internet, lại có gym cao cấp, bảo vệ 24/7.
Tuy nhiên, phải chịu khổ vì ngủ trên sàn, hoặc giường gấp, tới giờ làm việc thì dọn nhanh vào tủ, vẫn tiếp khách như thường. Hiện có kha khá các cụ (1/5 số mới được bầu) ) comple chém gió trong phòng họp nhưng khi vở kịch ngày xong thì về nằm bàn.
Năm 1977 mới ra công tác ở viện Tin học tôi cũng nằm bàn 1 năm. Ban ngày làm việc, tối trải chiếu, mắc màn, cơm tập thể, đi ị ra công cộng, nên Cua hiểu các cụ nằm bàn khổ như thế nào.
Một số thành viên đảng Dân chủ đang tìm cách bỏ kiểu sống vạ vật này vì sự lạm dụng hệ thống. Tuy nhiên cánh vạ vật than, nếu bắt thuê nhà bên ngoài thì Quốc hội sẽ toàn triệu phú, không hiểu người nghèo.
Điều này đúng với các Bộ, Thứ trưởng lên DC làm việc, trả lương rồi, kệ bố các anh muốn thuê nhà, mua nhà, hay ngủ vạ vật, thì đó là sự lựa chọn cá nhân.
Bởi nhà công vụ là món hời ai cũng muốn chấm mút. Vào ở rồi cũng OK nhưng lúc đuổi ra rất khó vì nhà công vụ hàng chục tỷ, có khi vài trăm tỉ, tại sao không ỳ.

Công hàm 257-HC năm 2016 Việt Nam gửi LHQ đã khẳng định VNCH là một chính thể độc lập

Công hàm 257-HC năm 2016 Việt Nam gửi LHQ đã khẳng định VNCH là một chính thể độc lập

23-4-2020
Việt Nam đã hai lần gửi công hàm cho UN, giải thích công thư Phạm Văn Đồng 1958 bằng lập luận khẳng định chính thể Việt Nam Cộng hoà là một chính thể độc lập, có đủ mọi quyền pháp lý quản lý hai quần đảo HS và TS, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có quyền tài phán với hai quần đảo vào thời điểm đó cho nên công thư của Phạm Văn Đồng là vô hiệu.
Lần thứ nhất là Công hàm 257-HC năm 2016, lần thứ hai là Công hàm A/72/692 năm 2018.
Hai Công hàm này của Việt Nam rất quan trọng nhưng ít được phổ biến, thành ra ít người biết, nên có nhiều kiến nghị là nhà nước Việt Nam ngày nay cần phải thừa nhận nhà nước Việt Nam Cộng hoà trong lịch sử (như đúng thực tế trong lịch sử) thì mới vô hiệu hoá được Công thư Phạm Văn Đồng.
Những kiến nghị như vậy không cần thiết nữa, vì Việt Nam đã thừa nhận điều đó bằng hai Công hàm chính thức gửi UN.
Dưới đây là công hàm 2016. Tư liệu của Dự án Đại ký sự Biển Đông.
Trung Quốc lần này khơi lại công hàm Phạm Văn Đồng vì đó là điểm yếu của Việt Nam. Tuy vậy, trong câu chuyện năm 1958 này, không phải Trung Quốc không có điểm yếu để Việt Nam khai thác.
Bản thân tuyên bố của Trung Quốc mà ông Phạm Văn Đồng tán thành đã tự thân phủ nhận đường 9 đoạn. Nó tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc có 12 hải lý quanh các đảo trên Biển Đông. Như vậy, ngay cả khi các đảo này là của Trung Quốc (thực tế không phải là của họ), thì công hàm đó cũng chỉ đòi hỏi 12 hải lý quanh các đảo, chứ không đòi toàn bộ biển Đông bằng đường 9 đoạn. Nay Trung Quốc nhắc lại tuyên bố này, Trung Quốc chỉ có 2 lựa chọn về mặt logic: Hoặc tự phủ nhận đường 9 đoạn để bảo lưu tuyên bố 1958, hoặc tự phủ nhận tuyên bố 1958 để bảo lưu đòi hỏi về đường lưỡi bò.
Ngoài ra, bản tuyên bố của Trung Quốc năm 1958 cũng phản ánh cách hiểu mù mờ, lộn xộn của họ về các khái niệm liên quan đến biển, đảo trong công ước 1958. Không thể có lãnh hải bên trong nội thủy, nhưng điều 3 của tuyên bố này đã cấm tàu thuyền nước ngoài đi vào lãnh hải, coi lãnh hải như nội thủy.
Ảnh: Dự án Đại Sự ký biển Đông

“Ngồi ăn thì núi lở”

“Ngồi ăn thì núi lở”

Trúc Nguyễn
23-4-2020
Bạn tôi sống ở thành phố thuộc nhóm “có nguy cơ cao” phải “giãn cách” ít nhất đến ngày 22/4. Cuối buổi chiều ngày 18/4 sau khi đạp xe nhiều km qua những con phố thưa vắng cảm giác chưa đủ nên anh ghé vào một sân bóng để chạy bộ.
Trên sân cỏ rộng hàng ngàn mét vuông có 3 người và 1 con chó, đeo khẩu trang và giãn cách tốt, ai nấy lầm lũi chạy như những xác chết di động. Nhưng chỉ khoảng 5 phút, xe bán tải CA phường xuất hiện phát loa yêu cầu giải tán. Đó là “zoom cận cảnh” một sinh hoạt xã hội thời chống dịch ở 1 phường của Sài Gòn, phải nói là nghiêm và đa phần người dân tuân thủ, hợp tác.
Chúng ta đang ở tuần thứ 3 giãn cách xã hội, có khả năng tiếp tục qua tuần thứ 4 đến cuối tháng, nhiều địa phương lên kế hoạch cho học sinh nghỉ học qua đến tuần đầu tháng 5. VN là một trong những nước kết quả phòng chống dịch bệnh tốt nhất thế giới…
Nhưng mặt khác “ngồi ăn thì núi lỡ“, 3 tuần giãn cách cũng là 3 tuần người dân nín thở để sống. Nền kinh tế đã “ngấm đòn”, người lao động bế tắc, đã có người Anh (dân “Ăng -Lê”) cầm bảng xuống đường xin tiền. Ngàn doanh nghiệp, vạn hộ kinh doanh, người dân sống bằng vốn vay, mỗi sáng mở bát ra là cục nợ to dần.
Một diễn biến khác, làn sóng mua bán sát nhập công ty đang diễn ra: “Theo Cục Đầu tư nước ngoài, trong tháng 3 có đến 940 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp là hơn 1,172 tỉ đô la. So với cùng kỳ năm ngoái tăng gần 35%“. M&A là một hoạt động theo quy luật thị trường, nhưng xảy ra thời điểm này không tránh khỏi mất giá, bán rẻ gây thất thoát tài sản và thương hiệu, dù của tư nhân hay tổ chức thì xét cho cùng cũng là tài sản của quốc gia.
Dư luận chia hai phe: Tiếp tục cách ly hay phục hoạt lại nhịp sống xã hội… Từ những diễn biến nêu trên rồi đọc tin dịch bệnh hoành hành các nước châu Âu, Mỹ thì khó nói giải pháp nào hay hơn. Nhưng VN có những đặc thù riêng: nền kinh tế quy mô nhỏ, tích lũy thấp, đa phần doanh nghiệp sử dụng vốn vay, phúc lợi xã hội chưa phát triển, một bộ phận người dân chạy ăn từng bữa…
Hy sinh kinh tế để bảo vệ tính mạng người dân là quyết định chính trị có trách nhiệm nhưng sau hơn 3 tháng phòng chống dịch, 3 tuần cách ly xã hội chúng ta đã thu đạt kết quả tốt, đã rút ra được bài học kinh nghiệm là cơ sở để thực hiện nguyên tắc “Điều chỉnh tích cực” cùng với “Kiểm soát dịch bệnh” để tiến tới “Chung sống an toàn” như PTT Võ Đức Đam nêu trong cuộc họp BCĐ phòng chống dịch ngày 17/4.
Mỗi địa phương, tổ chức, đặc biệt là các viện, trường đại học… nên thiết kế những kịch bản chi tiết riêng để tái khởi động các hoạt động làm thí điểm. Đặt mục tiêu rủi ro mức độ nào là chấp nhận được, nếu vượt ngưỡng thì phải phong tỏa trở lại… rồi lượng giá kết quả rút kinh nghiệm tiến tới nhân rộng mô hình.
Một lãnh đạo trường Y nói “Trong cơ cấu chương trình đào tạo ngành y thì 2/3 thời lượng là sinh viên học lâm sàng. Sinh viên từ năm thứ 3 trở đi chủ yếu học lâm sàng. Mà học lâm sàng thì không thể học trực tuyến được”.
Bạn tôi, trưởng Khoa ngoai một  bệnh viện tuyến Trung ương nổi tiếng, tâm sự, đi chuyên tu nước ngoài như Mỹ, Nhật về, chủ yếu là làm việc với máy móc hiện đại, học cách quản lý chuyên nghiệp… còn chuyên môn thì môi trường thực hành không bằng VN vì ngày nào cũng có nạn nhân tai nạn giao thông cần mổ, bác sĩ cực nhưng cũng nhờ vậy tay nghề cao hơn hẳn so với đồng nghiệp cùng lứa ở nước ngoài.
Học ngành Y thì dịch bệnh là một cơ hội có một không hai để thâm nhập cọ xát với thực tế, nhưng thời gian vừa qua các trường Y “lock down” cùng với đất nước. Thiển nghĩ, đóng cửa trường Y để tránh dịch là một thiệt thòi cho sinh viên và tổn thất cho xã hội!
Nhà có người thân học Bách Khoa, những ngày đầu thực hiện giãn cách, tôi trông chờ trường đề xuất quy trình an toàn khép kín cho việc sinh viên đi học trở lại… thực tế thì sinh viên BK cũng học online, nghỉ miệt mài! Việc cho học sinh sinh viên nghỉ ở nhà bắt đầu thành quán tính nghỉ tiếp chắc cũng không sao, đến khi xuất hiện một lứa thanh niên tăng cân, phản ứng chậm, đầu óc tưng tưng… thành hiệu ứng xã hội mới cuống cuồng thấy “có sao” thì e là đã muộn!
Phát minh dễ thương cây “ATM gạo” trong mùa dịch là của một cá nhân, đội ngũ phòng chống dịch thì làm việc bở hơi, tai còn các Viện, các trường đại học… những nơi lý luận “đầy mình”, phòng nghiên cứu, cơ sở vật chất, nhân sự là hàng ngàn GS, TS, Thạc sĩ… thì đây là cơ hội để phát minh sáng kiến, ứng dụng, tiện ích thì không mấy động tĩnh, ngược lại nhất cử nhất động đều chờ và làm theo chỉ thị của Thủ tướng.
Nguyên nhân là do tâm lý thụ động, sợ trách nhiệm hay là vì vướng cơ chế? Nếu thế thì cần phải hạ bỏ gánh nặng cơ chế giải phóng năng lượng sáng tạo cho các nhà khoa học và lực lượng tri thức nước ta là một nhu cầu bức xúc! Có thể nói giới khoa học VN đang bỏ qua một cơ hội cống hiến, mang danh trí thức mà không bị thôi thúc của tâm thế phục vụ cuộc sống quả là đời buồn!
Mặt khác cũng có ý kiến cho rằng, nhờ lock down mà nhiều chỉ số môi trường khắp thế giới trong đó có VN tốt lên trông thấy, chẳng phải là tốt hay sao! Nhưng hơn 7 tỉ sinh linh trên trái đất này và một bộ phận không nhỏ trong gần 100 triệu dân VN phải lo sốt vó từng bữa ăn…
Ý thức về môi trường cần thể hiện trong mọi ứng xử sinh hoạt hàng ngày làm đều đặn năm này qua năm nọ cho thành kỷ luật mới hiệu quả chứ không phải hy sinh sinh mệnh kinh tế để cho Mẹ trái đất nghỉ mệt, hết dịch lại đâu vào đấy! Nếu lock down kéo dài đến cuối năm vẫn chưa có vaccine thì phải giải bài toán kinh tế làm sao?
Tham khảo

Hôm nay, tròn 40 năm trước, rất nhiều người lính Việt đã chết ở Takong Krao – Campuchia

Hôm nay, tròn 40 năm trước, rất nhiều người lính Việt đã chết ở Takong Krao – Campuchia

23-4-2020
Nếu không kẹt dịch Covid, năm nay thể nào anh em cựu binh Trung đoàn 4 Sư đoàn 5 (E4-F5) cũng tổ chức Giỗ Trận thật lớn cho anh em đồng đội mình, vì hôm nay là tròn 40 năm, ngày rất nhiều người lính trẻ chết ở Takong Krao 23-4-1980 — 23-4-2020.
Bốn mươi năm, nếu còn sống, những anh em đó giờ đã là những ông ngoại, ông nội cả rồi!
Tháng 4-2017 mình theo các cựu binh của E4 – F5 sang Cam, đi một vòng, qua gần 2/3 đất nước Chùa Tháp để cúng vọng đồng đội. Trong đó có ghé Takong Krao.
Khi chạy từ ngoài quốc lộ 5 vô Takong Krao trời sầm mây, chuẩn bị mưa, đường vẫn lầy và rất xấu, nếu vô đó cúng anh em xong mà mưa thì coi như hết đường ra. Hồi sáng đi vô phum Phnom Srok đã lầy mất một buổi sáng rồi.
Bọn tôi quay lại thắp nhang cho anh em đồng đội đây, sống khôn thác thiêng thì khoan mưa đã, đợi cúng xong ra tới quốc lộ rồi hẵng mưa nha”, anh Phạm Sỹ Sáu và mấy anh em cựu binh cứ khấn thầm như vậy trên chuyến xe từ quốc lộ 5 vào phum Takong Krao. Và quả vậy, khi vô tới Takong Krao, cúng xong ra tới đường lộ thì trời mưa tơi tả từ đó cho đến khi lên tận Poi Pet.
Anh Phạm Sỹ Sáu ghi lại trận này trong Nhật ký chiến trường: “23-4-1980/ 5 giờ sáng, thức giấc vì tiếng nổ của các loại súng hoả lực vọng về từ phum Tà-kong Krao. Điệu nầy thì chắc là trận đánh ác liệt lắm đây. Quả đúng như thế. Khoảng 8 giờ mình qua Ban tham mưu E nắm tình hình thì biết rằng bị mất liên lạc với D3 (tiểu đoàn 3) và địch đang phản kích, D3 đang gặp khó khăn.
Đến chiều thì liên lạc vô tuyến với D3 cũng được một lúc rồi mất luôn. Như thế là mọi phán đoán của ta đều không chính xác. Địch đông hơn ta tưởng và hoả lực cũng khá mạnh. Ta thì chủ quan, đánh giá địch thấp nên khi gặp phản ứng mạnh của địch thì không kịp trở tay. Thương vong khá cao. Một số vì trúng đạn và một số vì khát nước. Từ sáng đến giờ, anh em D3 có người nào được uống nước đâu, trong khi phải nằm chịu trận giữa rừng thưa với cái nóng bốc lửa trên đầu”.
Trận đó hơn 60 anh em của E4 hy sinh.
Anh Nguyên, một cựu binh sau này nhờ họa sĩ vẽ lại theo kí ức hình ảnh những người lính sống sót co cụm trong một cái hố, đang lả đi vì khát.
Vài tuần sau chuyến đi K về, anh em nhắn ngày 23-4 này anh em làm đám giỗ ở NT LS Thành phố, vậy là mình bay vào dự giỗ cùng anh em và hôm đó mới tận mắt nhìn thấy nhiều tấm bia mộ của anh em E4 ghi ngày hy sinh là 23-4-1980.
Bốn mươi năm qua rồi. Chắc hôm nay không có báo chí nào nhớ về trận đánh ấy trong hàng ngàn trận đánh. Không mấy ai biết có những trận chiến tổn thất đau thương như thế.
Nhưng đồng đội các anh thì không quên. Những bà mẹ, người vợ, con cháu các anh sẽ không quên. Và mình biên tút này như một nén nhang vọng về các anh, những người lính trẻ đã chết khi đang ở tuổi hai mươi. Máu tuổi 20 của các anh đã phải đổ ở bên ngoài Tổ quốc và những hy sinh này cũng ít khi được nhắc!
Và, nhớ đừng quên, đó là cuộc chiến mà kẻ đứng phía sau Pôn Pốt là Trung Quốc!
Một số hình ảnh của nhà báo Lê Đức Dục:

Vì sao giám đốc CDC Hà Nội bị bắt?

Vì sao giám đốc CDC Hà Nội bị bắt?

23-4-2020

Ông Nguyễn Nhật Cảm, giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội, bị bắt. Ảnh: Xuân Long/ TT

Theo điều tra báo chí, thời gian vừa qua CDC Hà Nội có mua thêm một hệ thống xét nghiệm realtime PCR, do số lượng mẫu nghi nhiễm COVID-19 cần xét nghiệm gia tăng.
Về giá thành thiết bị, loại Hà Nội đã mua là hệ thống bao gồm đầy đủ các máy kèm theo như máy tách chiết mẫu, máy phân tích mẫu (realtime PCR) khoảng 7 tỉ đồng.
Nguồn tin báo chí nêu rằng, một nhà cung cấp thiết bị xét nghiệm vào loại lớn trên thị trường cho biết, giá một hệ thống xét nghiệm như thế này không quá 4 tỉ đồng.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời nhà cung cấp giấu tên: “Chúng tôi đang bán máy realtime PCR khoảng 1,3 tỉ đồng, máy tách chiết mẫu có loại tự động và loại tách bằng tay, loại tự động có 96 giếng – nhiều giếng nhất, khoảng 2,4 tỉ đồng, số còn lại dành cho tủ an toàn sinh học 180 – 300 triệu. Mức giá này đã bao gồm lợi nhuận của nhà cung cấp và chi phí bảo hành, bảo trì về sau“.
Không chỉ Hà Nội có tình trạng mua hệ thống xét nghiệm giá cao mà có nhiều tỉnh thành mua thiết bị này với giá khoảng 7 tỉ đồng, cao hơn so với thị trường.
Đáng chú ý, dự trù trang thiết bị phòng chống dịch cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh (dự trù ký ngày 26-3) cho tình huống bệnh nhân gia tăng, giá một máy realtime PCR được dự trù tới 15 tỉ đồng, máy tách chiết 2 tỉ đồng.
Cả hệ thống xét nghiệm này nếu mua theo dự trù và báo giá của doanh nghiệp cung cấp lên tới 17 tỉ đồng, cao gấp 4-5 lần so với thị trường.
Hồi họp liên quan vụ việc này, Chủ tịch Hà Nội ông Nguyễn Đức Chung nói: “Việc này (mua máy móc, thiết bị có vấn đề về giá – PV) cũng liên quan đến một số tỉnh thành khác“, ông Chung cho biết.
Được biết có 4-5 tỉnh thành ở miền Bắc và miền Trung đã mua hệ thống thiết bị realtime PCR với giá xấp xỉ 7 tỉ đồng, mức giá cao hơn so với thị trường thông thường.
Thậm chí có 2 tỉnh đã mua hệ thống thiết bị cũng 7 tỉ đồng/hệ thống, nhưng khổ nỗi đó lại là hệ thống “đóng”, chỉ có thể xét nghiệm các virus, vi khuẩn gây bệnh theo danh mục sẵn, còn COVID-19 là bệnh mới, không bao gồm trong danh mục sẵn này.
Hồi tháng 3/2020 thông qua Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tập đoàn Vingroup đã đề xuất tài trợ gói trang thiết bị y tế, máy móc, hóa chất xét nghiệm virus corona trị giá 100 tỉ đồng.
Cụ thể, Tập đoàn Vingroup công bố tài trợ 100 máy thở cao cấp được nhập khẩu từ Mỹ và châu Âu, 20 máy PCR xét nghiệm COVID-19 và 800 bộ test và 200.000 test nhanh của Hàn Quốc.
Quảng Bình – Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh tiếp nhận 1 máy xét nghiệm Realtime – PCR từ Bộ Y tế cấp về. Tuy nhiên, lại thiếu nhiều thiết bị đi kèm như: không có máy tách chiết và các hóa chất liên quan, nên máy xét nghiệm không thể hoạt động.
Máy được Bộ Y tế cấp về có công suất thấp (8 tiếng đồng hồ chỉ xét nghiệm được 36 mẫu xét nghiệm).
Để cho máy hoạt động, Sở Y tế Quảng Bình phải đưa vào danh mục mua sắm công thêm 3 tỷ đồng máy mới hoạt động.
Đồng phạm có Nguyễn Vũ Hà Thanh, trưởng phòng tài chính kế toán; Lê Xuân Tuấn, nhân viên phòng tài chính kế toán; Đào Thế Vinh, giám đốc Công ty TNHH Vật tư khoa học và thương mại Việt Nam (MST); Nguyễn Trần Duy, tổng giám đốc Công ty cổ phần định giá và bán đấu giá tài sản Nhân Thành; Nguyễn Ngọc Nhất, nhân viên Công ty TNHH phát triển khoa học Vitech; Nguyễn Thanh Tuyền, nhân viên Công ty TNHH thiết bị y tế Phương Đông.
____

Vấn đề chủ quyền biển đảo: Cái bẫy của tranh luận

Vấn đề chủ quyền biển đảo: Cái bẫy của tranh luận

22-4-2020
Nhiều người chê mà như khen: “Thâm như Tàu!”. Nhưng tôi vẫn cho rằng, trí tuệ Việt chưa hẳn thua Tàu. Chỉ bởi trí thức Việt hiện đại ngày càng hoặc mê phục Tàu hoặc chống Tàu một cách võ biền. Còn ngày xưa đã từng có bao nhiêu sứ giả thông minh khẩu chiến trực tiếp với Tàu, buộc vua Tàu phải bái phục và thừa nhận chủ quyền của Việt Nam.
Xem Công hàm của Tàu vừa gửi Liên Hiệp quốc để “đấu khẩu” với Công hàm của Việt Nam, tôi nghĩ không nên chửi bừa mà cần tỉnh táo gỡ từng cái bẫy mà Tàu đã phô ra trong Công hàm của họ. Nên nhớ cái bẫy này không phải do Tàu tạo ra mà do chính ta giăng trước để cho Tàu tương kế tựu kế:
1) Cái bẫy lịch sử
Các học giả của ta dày công tìm kiếm chứng cứ lịch sử để chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Tôi đọc cả loạt tài liệu chưa in và sách in chính thức từ các học giả này thì thấy chứng cứ xưa nhất mà các ông đưa ra cũng chỉ quanh quẩn thời nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn có công phát hiện và giữ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa cho đến thời thực dân Pháp và sau Hiệp định Geneve 1954.
Công hàm của Tàu, cũng như điều họ loan truyền lâu nay, cho biết Tàu có đủ bằng chứng chứng minh Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) là của Tàu, vốn đã có từ thời cổ đại. Không nên chủ quan Tàu không có gì. Những gì các học giả ta làm họ điều biết cả. Và họ cũng mất nhiều công phu tìm kiếm trong di sản cổ của họ có Tây Sa, Nam Sa. Câu chuyện ngàn năm Giao Châu, Giao Chỉ thuộc Tàu thì Tây Sa, Nam Sa thuộc Tàu không phải là khó tìm ra bằng chứng!
Cho nên cách đây mấy năm, trong sự kiện tàu Hải Dương 981, các học giả của ta đưa ra chứng cứ lịch sử và nằng nặc đòi Chính phủ khởi kiện, tôi đã viết bài kêu gọi sự thận trọng. Rằng lịch sử như cái gậy ông đập lưng ông, cả phía ta lẫn phía Tàu. Ta lấy lịch sử đòi chủ quyền thì Champa, Cao Miên cũng đòi. Và chính Trung Quốc sẽ bị xé ra thành trăm mảnh, ít nhất phải trao độc lập cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng…
Lãnh thổ đã là một phạm trù lịch sử, thay đổi lớn nhỏ tùy từng lúc mạnh yếu khác nhau, thì không thể mang lịch sử ra làm chứng lý. Thổ dân châu Mỹ, châu Úc không thể đuổi người Tây ra khỏi lãnh thổ từng là của họ.
Đó cũng là cách tháo gỡ cái bẫy này. Chính Luật Biển và các Công ước khác của Liên Hiệp quốc về chủ quyền chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh trong thực tại mà không có chỗ nào nói về cái gọi là chủ quyền trong lịch sử xa xưa.
2) Cái bẫy “Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng”
Công hàm của Chính phủ ta gửi cho Chính phủ Tàu ắt Chính phủ Tàu lưu giữ như bửu bối và bây giờ không ngần ngại mang ra tranh luận giữa Liên Hiệp quốc. Tôi tin người Tàu xem cái bửu bối này có sức mạnh thực sự, chứ chứng cứ lịch sử trên kia chỉ là trò chơi vô nghĩa của trí thức dài lưng tốn vải. Nhiều người nói, Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn “vô giá trị”, vì sau Hiệp định Geneve, Hoàng Sa, Trường Sa do chính quyền Việt Nam cộng hòa quản lý.
Mới nghe tưởng chừng có lý, nhưng xem chừng cái lý đơn giản này lại sập bẫy do chính mình tạo ra. Chính quyền Việt Nam cộng hòa chưa bao giờ được nhà nước và sử gia chính thống công nhận là một chính thể (bây giờ vẫn luôn miệng gọi là “Ngụy”) thì làm sao quyền sở hữu Hoàng Sa, Trường Sa có thể được xem là hợp pháp? Tàu dại gì không đánh úp từ chiếc gậy thù địch văng ta từ bộ máy tuyên tuyền của chính người Việt?
Cho nên, muốn vô hiệu hóa cái bẫy Công hàm 1958 ấy, chỉ còn một cách thừa nhận sự tồn tại có tính lịch sử của chính thể Việt Nam cộng hòa, kể cả thừa nhận và vinh danh trận chiến Hoàng Sa 1974. Biết là khó, nhưng không phải không làm được vì chính Hiệp định các bên cùng ký tại Genneve cũng đã công nhận chính thể Việt Nam cộng hòa và chủ quyền của chính thể này từ nam vĩ tuyến 17!
3) Cái bẫy về “đứa con vô thừa nhận”
Công hàm của Tàu nói, một bằng chứng Việt Nam không sở hữu Tây Sa và Nam Sa là trên bản đồ và sách giáo khoa chính thống của Việt Nam không có hai quần đảo này.
Thì ra Tàu cũng đã lần nữa vượt xa trí tưởng tượng của các học giả Việt Nam. Họ chộp lấy cái khoảng trống thực tại (chứ không phải quá khứ), cái khoảng thời gian vì tình hữu nghị 4 tốt 16 chữ vàng, Hoàng Sa và Trường Sa gần như trở thành “đứa con vô thừa nhận”? Tôi tin họ có đủ các loại bản đồ và sách giáo khoa thời kỳ này nên mới dám to tiếng như vậy!
Cái bẫy này do ta tạo ra cho chính ta chui vào và rất khó gỡ. Tôi thật sự rối trí và xin nhường cho các sử gia, nhà giáo dục đã tạo ra cái bẫy nguy hiểm này!
Bây giờ thì giặc đã lộ ra hết các độc chiêu rồi đó. Nếu không gỡ nổi các cái bẫy trên thì việc đâm đơn kiện ra tòa dễ bị thua đau, trừ phi Tòa không như thằng WHO.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

Tồn vong chế độ hay thịnh vượng quốc gia

Tồn vong chế độ hay thịnh vượng quốc gia

22-4-2020
Chính quyền Việt Nam đối đãi với Facebook hệt như cái cách bà phó chủ tịch phường Bãi Cháy cư xử với chị gái bán rau: Muốn chặn thì chặn, muốn thả thì thả. [1]
Bấy lâu nay người dùng mạng vẫn không hiểu lý cớ gì mà Facebook chậm chạp hẳn đi. Hôm qua, Reuters mới tiết lộ rằng do phía Việt Nam đóng các máy chủ của Facebook trong một thời gian dài, buộc Facebook phải đồng ý đẩy mạnh việc kiểm duyệt các bài viết “chống đối nhà nước” để băng thông bình thường trở lại. [2]
Đối với mỗi người dùng mạng, việc bóp băng thông Facebook đồng nghĩa mỗi người mất đi mấy mươi giây hoặc vài phút để phàn nàn trong lúc chờ đợi. Song, đối với cả quốc gia, chúng ta còn đang tự đánh mất đi một lực lượng kinh doanh lớn đang xem xét bước chân vào thị trường Việt Nam. Sau sự vụ này, thử hỏi doanh nghiệp mạng nước ngoài nào còn muốn làm ăn ở nơi mà chính quyền có thể thò tay vào nội bộ doanh nghiệp, đóng cái này, tắt cái nọ, đòi kiểm duyệt cái kia?
Một trong những lý do khiến cho Luật An ninh mạng của Việt Nam dậy sóng trên trường quốc tế hồi giữa năm 2018 là bởi nó đặt ra những quy định siết chặt không gian kinh doanh. Thấy trước tác hại của Luật An ninh mạng đối với nền kinh tế quốc gia, các chuyên gia của mười ba hội và hiệp hội ngành công nghệ thông tin đã đồng loạt đề nghị Quốc hội hoãn thông qua luật này, song bất thành. [3]
Hiện nay, theo số liệu của We Are Social, trong số hơn 96 triệu dân, có khoảng 65 triệu người Việt Nam đang sử dụng mạng xã hội. [4] Facebook hiện là doanh nghiệp mạng xã hội lớn nhất mà còn bị chính quyền Việt Nam chèn ép bằng đủ cách từ luật pháp cho tới luật rừng. Vậy nên, cũng dễ hiểu khi những ông lớn như Facebook, Google, Microsoft lại chọn đặt dữ liệu ở các nước như Singapore, Đài Loan, Hongkong, thay vì Việt Nam.
Còn nhớ, mới cách đây nửa năm, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành nghị quyết số 52 về cách mạng 4.0, với mục tiêu “kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP vào năm 2025”, và “Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á vào năm 2045”. [5]
Vậy mà ngay lúc này, chính quyền Việt Nam đã ưu tiên đặt mục tiêu kiểm duyệt không gian tự do trên mạng xã hội nhằm dẹp bỏ những ý kiến bất đồng đang thách thức sự tồn vong của chế độ, lên trên mọi thứ khác, kể cả thịnh vượng quốc gia. Đúng như những gì ông Trọng đã tuyên bố khi nhắc tới việc thông qua Luật An ninh mạng, rằng “cần luật này bảo vệ chế độ này, không thể để muốn nói gì thì nói, muốn chửi ai thì chửi.” [6]
Song chính quyền cũng nên nhớ, nếu không có những tiếng nói trên Facebook, có lẽ giờ này chị gái bán rau vẫn còn đang bị nhốt trong đồn công an phường Bãi Cháy. Và, bị gỡ bài trên Facebook, không có nghĩa người dân sẽ hết giận dữ trước một chế độ luôn đặt nặng lợi ích của chính nó lên trên chuyện quốc gia.
_____
Chú thích: