Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Quyền lực của Đảng phải được kiểm soát

Quyền lực của Đảng phải được kiểm soát

bauxitevnSat 7:36 AM


Giáo sư Nguyễn Đình Cống trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành
Mới đây Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết 4 của Đảng cộng sản Việt Nam về chỉnh đốn, xây dựng Đảng. 
Dư luận xã hội có nhiều cách đánh giá khác nhau. Có người cho là nghị quyết thể hiên nhiều nội dung mới để ngăn đà suy thoái của đảng. Nhưng cũng có dư luận chỉ ra về mặt lý luận nghị quyết vẫn theo con đường mòn sáo rỗng, xơ cứng. 
Giáo sư Nguyễn Đình Cống qua cuộc trò chuyện với nhà báo Trần Quang Thành đã đưa ra một vài bình luận về nghị quyết 4 như sau – Mời quí vị cùng nghe. 
(Youtube PV GS Cống)
Nhà báo T.Q.T. gửi BVN

Phóng viên BBC bị côn đồ chặn gặp ứng viên độc lập ở Trung Quốc

Phóng viên BBC bị côn đồ chặn gặp ứng viên độc lập ở Trung Quốc

bauxitevnSat 7:22 AM


Suốt mấy tháng trước, nước Mỹ diễn ra bầu cử hết sức dân chủ, không ai đoán biết được người nào sẽ thắng cử cho đến phút cuối, và bất cứ công dân nào cũng được quyền ra ứng cử vào các chức vụ trong chính quyền , bao gồm chức vụ cao nhất là Tổng thống Hoa Kỳ . 
Trong thời gian đó , đảng CSTQ không ngừng cho DLV chửi bới, xuyên tạc, chê bai tiến trình bầu cử của Mỹ, nói rằng không dân chủ, không tự do bằng bầu cử ở Trung Quốc. 
Thế nhưng bây giờ, khi bầu cử ở Trung Quốc bắt đầu thì nhà cầm quyền CSTQ cho côn đồ đầu gấu, cầm kiếm Nhật, được chỉ huy bởi công an chìm, đổ ra cản trở không cho phóng viên đài BBC đến quay phim phỏng vấn 1 ứng cử viên độc lập. 
Mặc dù đài BBC trước đó đã xin phép, và đóng tiền để được cấp phép đến nhà 1 ứng cử viên độc lập để làm phóng sự, nhưng khi đến đó thì bị 1 đám đông côn đồ xông ra cản trở, hăm dọa, đuổi phóng viên đi. 
Mời các bạn xem đoạn video ngắn bên dưới, để xem CSTQ sử dụng côn đồ như thế nào, và để thấy đảng CSVN học theo y chang cùng 1 chiêu như thế nào nhé! 
Tự do, dân chủ của CS là như thế này đây! 
FB Ngoc Nhi Nguyen


John Sudworth bị ngăn gặp phụ nữ 45 tuổi ra tranh cử độc lập ở Trung Quốc.

John Sudworth BBC News, Bắc Kinh, tới gặp bà Liu Huizhen, người chẳng muốn gì khác ngoài quyền tham gia vào cuộc bầu cử. 
Bà đã giành được đủ 10 phiếu đề cử từ cử tri, theo luật pháp Trung Quốc, là số phiếu cần có để bà đưa tên mình ra tranh cử như một ứng viên độc lập, nhưng bà không tiến hành được việc vận động. 
Thay vào đó, bà đang bị quản thúc tại gia ngày đêm, và khi chúng tôi tới nhà bà thì ngay lập tức bị một nhóm người lạ đứng im lặng và chặn đường vào nhà bà. 
Và cuối cùng, nhóm người khoảng 20-30 người túm áo và kéo phóng viên đi tới nơi chỗ họ đỗ xe gần nhà bà. 
*** 

Bầu cử ở Trung Quốc: Ứng viên độc lập bị cản trở

John Sudworth
BBC News, Bắc Kinh 
clip_image001
Liu Huizhen, 45 tuổi, bị quản thúc vì ra tranh cử 
Hiến pháp của Trung Quốc cho phép các ứng cử viên độc lập ra tranh cử trong các cuộc bầu cử địa phương, nhưng đó là việc làm vô ích với những ai dám đưa tên ra tranh cử.
Ngay tại con hẻm cổ xưa ở Bắc Kinh, các điểm bỏ phiếu tràn đầy ánh nắng mùa thu. Quang cảnh khí khá bận rộn. Một người đàn ông tới đây cùng vợ trên chiếc xe ba bánh của mình. 
Ba y tá, giữ chặt lấy phiếu cử tri của họ. Họ đi bộ tới đây và nói chuyện thân mật với nhau trong khi giới chức bầu cử và cảnh sát giám sát toàn bộ quá trình bỏ phiếu. 
Nhìn bề ngoài thì đây là một cảnh dễ nhận thấy đối với cử tri ở các nước dân chủ trên toàn thế giới. Nhưng tất nhiên, đây là Trung Quốc và thực tế là rất khác. 
Chúng tôi lái xe đến vùng ngoại ô của Bắc Kinh để gặp Liu Huizhen, một phụ nữ 45 tuổi, người chẳng muốn gì khác ngoài quyền tham gia vào cuộc bầu cử này. 
'Không phải là con rối'
Bà đã giành được đủ 10 phiếu đề cử từ cử tri và, theo luật pháp Trung Quốc, cần có để bà đưa tên mình ra tranh cử như một ứng viên độc lập, nhưng bà không tiến hành được việc vận động. 
Thay vào đó, bà đang bị quản thúc tại gia ngày đêm, và khi chúng tôi tới nhà bà thì ngay lập tức bị một nhóm người lạ đứng im lặng và chặn đường vào nhà bà. 
Bằng cách vươn tay qua đầu họ tôi cũng đã gõ được cửa và một vài phút sau bà Liu xuất hiện ở cửa nhà mình. Nhưng khi bà bắt đầu kể cho tôi lý do tại sao bà muốn thực hiện quyền dân chủ của mình, họ đã đóng cửa lại và những người lạ mặt tựa vào cửa để bà không mở được. 
Bà cố gắng mở cửa sổ nhưng họ cũng dùng mọi cách để bịt lại và tiếp tục ngăn cản bà nói chuyện với chúng tôi. 
Trung Quốc gọi đây là thủ tục bầu cử trên toàn quốc 5 năm một lần, và là "cuộc bầu cử lớn nhất thế giới". 
Tuần này đến lượt Bắc Kinh, nhưng vào đầu năm tới, theo truyền thông nhà nước, 900 triệu người trên toàn Trung Quốc sẽ hoàn tất việc bỏ phiếu. 
Kết quả là hơn 2,5 triệu đại biểu sẽ được bầu vào hàng ngàn "đại hội nhân dân" tại địa phương. 
Những đại biểu địa phương sẽ lần lượt "bầu" cho các cấp thành phố và tỉnh, và cứ như thế lên tới cấp cao nhất. 
clip_image002
Bầu cử địa phương là cơ hội duy nhất hầu hết người Trung Quốc đi bầu 
Vì vậy, những cuộc bầu cử địa phương là cơ hội duy nhất hầu hết cho người Trung Quốc đi bầu. Thế nhưng có một điểm hết sức quan trọng mà không chính thức. Đó là Đảng Cộng sản quyết định ai có tên trên lá phiếu để cử tri bầu chọn. 
Đối với phần lớn các ứng viên độc lập thì nhiệm vụ thu thập mười người đề cử họ là việc khó khăn đến mức mà tham vọng tranh cử của họ tan biến ngay từ trong trứng nước. 
Chúng tôi tổ chức gặp một người muốn tranh cử khác 59 tuổi là Ye Jingchun tại căn hộ của bà ở Bắc Kinh. 
"Uỷ ban dân phố đã triệu tập một cuộc họp để giới thiệu danh sách ứng viên đã được thông qua, trong đó bà Ye không có tên, và chúng tôi hy vọng nói chuyện với bà sau khi phiên họp kết thúc. 
"Lần này là một viên cảnh sát chờ chúng tôi sẵn ở cửa nhà. 
"Chúng tôi không được phép vào và bà Ye không được phép ra ngoài nhưng một vài giờ sau đó chúng tôi cũng đã gặp được bà. 
"Họ lịch sự", bà nói với tôi khi đứng trên vỉa hè bên ngoài một trung tâm mua sắm. "Nhưng tôi không thể rời khỏi phòng. Có hơn chục người đứng canh". 
Động lực của bà ra tranh cử là đơn giản. 
"Tôi đã từng cố gắng tìm đại biểu ra tranh cử tại địa phương của tôi mà không thấy, tôi thậm chí còn không biết người họ để tên là ai nữa", bà nói với tôi. 
"Vì vậy, tôi tự nhủ là nếu tôi trở thành đại biểu, tôi có thể phục vụ cho những người ở tầng đáy của xã hội, những người thực sự cần đại biểu của họ giúp đỡ. Tôi sẽ không thể là một con rối". 
May mắn hơn người Mỹ?
clip_image003
Bà Ye quyết định ra tranh cử độc lập sau khi ngán ngẩm về danh sách ứng viên địa phương 
Nó là tiếng gọi cao cả, tiếng gọi được công nhận bởi những người chọn để đại diện cho cộng đồng địa phương. 
Nhưng ở đây, đó cũng chẳng hơn gì sự khát vọng viển vông. 
"Trước hết, chúng ta cần phải có các mẫu đề cử," bà Ye nói với tôi, "mà để nhận được các mẫu đề cử này là cực kỳ khó. Trên thực tế, giới chức cộng đồng đã cảnh báo người dân không được đề cử tôi". 
Truyền thông nhà nước đưa tin bầu cử địa phương rất ít ngoài các dữ kiện và con số khô khan. 
Tuy nhiên, có một cuộc bầu cử hoàn toàn khác cách xa Trung Quốc ngàn dặm lại được bộ máy tuyên truyền của Đảng cộng sản Trung Quốc quan tâm. 
Các nhà báo của Trung Quốc đã được đưa tin đầy đủ, không bị hạn chế trong hệ thống dân chủ của Mỹ và đưa tin tối đa. 
Họ đã đưa tin cuộc bầu cử Mỹ là một điển hình cho thấy dân chủ phương Tây là sai - sai vì sự bất mãn đối với giới chóp bu, sự cay nghiệt, chia rẽ trong chiến dịch tranh cử và những quan ngại về xu hướng thiên vị của truyền thông và ảnh hưởng từ các tập đoàn kinh doanh. 
Và độc giả Trung Quốc đọc tin của báo chí Đảng Cộng sản định hướng được nhắc nhở thường xuyên rằng họ nên tự thấy rằng mình may mắn. 
Chiến dịch tranh cử tại Hoa Kỳ được mô tả như là "gánh xiếc," một "trò hề chính trị náo loạn" và là "con tàu đắm". 
Tất nhiên, một số tình cảm đó có thể hoàn toàn được phản ánh từ ngòi bút của các nhà báo phương Tây. 
Dân chủ là khái niệm được công nhận, ngay cả khi những người ủng hộ dân chủ mạnh mẽ nói về những thiếu sót và điểm yếu mà nền dân chủ bị thao túng. Nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là dân chủ tồi tệ hơn so với các lựa chọn thay thế khác. 
Bất đồng quan điểm từ công chúng, mất đoàn kết xã hội và oán giận sôi sục đối với giai cấp cầm quyền không phải là thực trạng duy nhất xảy ra tại Hoa Kỳ hoặc Anh Quốc. 
Và kiểu dùng những kẻ côn đồ và kiểm soát nặng tay là dấu hiệu cho thấy đằng sau sự thống nhất chính trị bề ngoài của nhà nước độc đảng Trung Quốc có sự bất ổn bám rễ rất sâu. 
Nó khởi nguồn từ nhận thức rằng thậm chí một ứng viên độc lập có thể bị xem là một mối đe dọa cho chính tiền đề mà toàn bộ hệ thống này dựa vào. 
Trung Quốc không mời truyền thông nước ngoài vào đưa tin tự do và bình luận. 
Bên ngoài nhà bà Liu, những tên côn đồ thấy họ cần phải hành động. Nhóm lên tới khoảng 20-30 người túm áo và kéo chúng tôi đi tới nơi chúng tôi đỗ xe gần nhà bà. 
J.S.

Bắc Kinh dùng ngư dân Hải Nam để xác quyết đòi hỏi lãnh thổ ở Biển Đông

Bắc Kinh dùng ngư dân Hải Nam để xác quyết đòi hỏi lãnh thổ ở Biển Đông

bauxitevnFri 7:19 AM


clip_image001
Một tàu đánh cá tại cảng Tam Á, Hải Nam, Trung Quốc. RFI/Heike Schmidt 
Trung Quốc có đội tàu thuyền đánh cá lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, nhiệm vụ của đội tàu này không chỉ giới hạn trong các hoạt động đánh bắt hải sản. Vốn nuôi tham vọng trở thành cường quốc biển, Bắc Kinh cho rằng các ngư dân đóng vai trò quan trọng. Trong bối cảnh đó, ngư dân Hải Nam (Hainan) được khuyến khích chiếm giữ các vị trí tiền đồn và cho phép Trung Quốc kiểm soát được hầu như toàn bộ Biển Đông.

Liên quan đến chủ đề này, thông tín viên đài RFI Heike Schmidt có bài phóng sự về các hoạt động ngư nghiệp tại cảng Đàm Môn (Tanmen), Hải Nam, Trung Quốc. Các cuộc trao đổi với nhiều nhân chứng tại đây đều được ghi âm lén. 
Nguồn hải sản gần bờ khan hiếm
Vào một buổi sáng, khi các thuyền đánh cá vừa cập bến, người ta tranh nhau xuống chọn mua cá thu và đó là loại cá đánh bắt gần bờ. Một thương nhân buôn cá cho biết là cá ngày càng ít và bé. Trong tương lai thì sẽ còn ít hơn. 
Cho đến nay, chính quyền Trung Quốc mỗi năm chỉ cấm đánh bắt trong hai tháng. Có thể từ năm tới, lệnh cấm kéo dài tới bốn tháng. Thế nhưng nhu cầu của Trung Quốc về hải sản không ngừng tăng. Trung Quốc tiêu thụ khoảng một phần ba tổng sản lượng hải sản đánh bắt trên thế giới. Theo Ngân Hàng Thế Giới, từ nay đến 2030, nhu cầu của Trung Quốc sẽ tăng thêm 30%. Do đó, các ngư dân nước này ngày càng đi xa hơn. Họ cố tình không đếm xỉa đến phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực – La Haye, được công bố ngày 12/07/2016, có lợi cho Philippines, thừa nhận Manila có quyền đối với một phần của vùng biển mang tính chiến lược này. 
Để đáp ứng nhu cầu, khoảng 800 tàu đánh cá của ngư dân Hải Nam phải đi xa hơn, thậm chí đến tận vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, bất chấp sự phản đối, tức giận của Việt Nam, Philippines. Một ngư dân Hải Nam thừa nhận: «Đánh bắt gần bờ thì không có vấn đề gì, nhưng khi chúng tôi đi xa hơn, người nước ngoài xua đuổi và ngăn cản vì họ không muốn chúng tôi đánh bắt ở đó». 
Cô Lâm Xuân Yến (Lin Chunyan) rất tự hào là thành viên một gia đình có nhiều thế hệ là ngư dân ở Hải Nam vì họ được coi là những anh hùng, dám đương đầu với tuần duyên nước ngoài. Cô nói: «Những người trong gia đình tôi thường xuyên đi đánh bắt cá khoảng hai tháng, họ đi tới các bãi đá Nansha (Trường Sa – Spratly). Chính phủ khuyến khích họ tới đó. Trên thực tế, đó là nhằm bảo vệ vùng biển. Nhiều thế hệ ngư dân Đàm Môn, Hải Nam tới đó đánh bắt hải sản. Đích thân chủ tịch Tập Cận Bình tới đây để ủng hộ chúng tôi». 
Khuôn mặt cô Lâm tươi hẳn lên khi kể lại chuyện chủ tịch Trung Quốc tới Hải Nam hồi tháng Tư năm 2013: «Chuyến thăm của chủ tịch thật là hoành tráng. Chúng tôi đã nồng nhiệt đón tiếp ông. Chủ tịch căn dặn chúng tôi phải chú ý vấn đề an ninh. Chúng tôi rất vui mừng là chủ tịch đến tận đây để động viên chúng tôi và chúng tôi rất phấn khởi». 
Để tưởng nhớ sự kiện này, một tấm áp phích khổng lồ được dựng lên ngay khu ngã tư trung tâm thành phố có 30 ngàn dân. Trên ảnh, người ta thấy quây quần quanh chủ tịch Tập Cận Bình là các ngư dân Trung Quốc tươi cười, nét mặt thể hiện quyết tâm bảo vệ tổ quốc, những ngư dân yêu nước, sẵn sàng giương cờ Trung Quốc trên Biển Đông. 
Bắc Kinh hỗ trợ tài chính cho ngư dân đánh bắt xa bờ
Một ngư dân chỉ cho phóng viên RFI bốn chiếc tàu cá lớn và cho biết đó là quà của chủ tịch Tập Cận Bình tặng cho ngư dân Đàm Môn. Chủ tịch Trung Quốc đã cảm ơn các ngư dân và kêu gọi họ hãy tới tận Nam Sa (tức Trường Sa) để vừa đánh bắt cá vừa bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc. Chính vì thế, các ngư dân Đàm Môn cảm thấy yên tâm và không sợ gì cả. 
Theo phóng viên Heike Schmidt, đây không phải là những chiếc tàu đánh cá bình thường mà là tàu của du kích biển, một tổ chức bán vũ trang được quân đội huấn luyện. Ông Lâm Vĩnh Hâm (Lin Yongxin), thuộc Viện Nghiên cứu Biển Đông Quốc gia, trụ sở tại Hải Nam, cho biết: 
«Tại tỉnh Hải Nam, chúng tôi có rất nhiều du kích dự bị. Chúng tôi cải thiện khả năng phòng thủ của hải quân. Trong thời gian qua, đã từng xảy ra các vụ đụng độ. Người ta bắn vào ngư dân của chúng tôi. Do vậy, các ngư dân cần chính phủ bảo vệ họ. Tàu vỏ gỗ quá mong manh. Chính phủ khuyến khích ngư dân trang bị tàu vỏ sắt, vững chắc, vừa chống chọi với sóng bão, vừa chống lại được các vụ bị quân lính Philippines tấn công». 
Tàu vỏ sắt vững chắc rất cần cho hải quân Trung Quốc xây dựng cái gọi là «vạn lý trường thành bằng cát» ở Biển Đông. Các bãi đá, san hô được cải tạo, bồi đắp thành các đảo nhân tạo, trên đó có các phi đạo và cảng quân sự. Ông Lâm giải thích tiếp: «Các ngư dân đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp các bãi đá. Trong giai đoạn bị cấm đánh bắt cá, thì việc tham gia bồi đắp đảo nhân tạo mang lại một nguồn thu bổ sung cho ngư dân, giúp họ nuôi gia đình». 
Từ năm 2014, khoảng năm chục tàu vỏ gỗ được gia cố thành tàu vỏ sắt. Với trợ cấp của Nhà nước, khoảng ba chục tàu, có trọng tải 500 tấn, đang được đóng, một số đã được bàn giao. Các ngư dân tránh không nói nhiều tới trợ cấp của Nhà nước. Chọn lúc vắng người, ông Lí Hiền Lâm (Li Lin Xun) thổ lộ: «Các ngư dân vẫn liên tục tới đó (những nơi bồi đắp đảo nhân tạo). Ví dụ, chủ một con tàu như thế này sẽ được trợ cấp một khoản tương đương với 1500 € mỗi tháng. Nếu ở lại đó hai tháng thì sẽ được khá nhiều tiền. Đánh cá hay không, các tàu đều được trợ cấp, miễn là có mặt trong khu vực đó. Trung Quốc có khá nhiều tiền và không sợ bất cứ nước nào cả». 
Nếu đi đến bãi Scarborough mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham (Huangyan), nơi đang có tranh chấp với Philippines, một con tàu có trọng tải 500 tấn, có thể được trợ cấp tới 10000 € trong chuyến đi đầu tiên và 5000 € cho mỗi chuyến sau đó. 
Ngư dân Đàm Môn trên tuyến đầu
Năm nay đã 61 tuổi, Lí Hiền Lâm muốn nghỉ ngơi. Nhưng lúc còn trai trẻ, ông chấp nhận mạo hiểm, đi xa đánh bắt hải sản quý hiếm. Ông kể lại là khi khoảng ba mươi tuổi, ông đã bị phía Philippines bắt giam hai năm, sống rất khổ cực trong tù, vì đã đánh bắt rùa biển. Ngư dân Trung Quốc tới Scarborough và các vùng biển xa không chỉ đánh bắt cá mà cả các hải sản quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng, như sò tai tượng vì bán được rất nhiều tiền. 
Đàm Môn là thủ đô sò tai tượng trên thế giới và đắt nhất là sò tai tượng ở Scarborough. Ông Lí nói rằng ngư dân Trung Quốc đánh bắt ở đây từ hàng chục năm nay. Ngư dân Việt Nam không ra được vì chỉ có thuyền gỗ nhỏ. 
Ngư dân Đàm Môn luôn ở tuyến đầu trên mặt trận biển. Năm 2012, tám tàu cá Trung Quốc thách thức tàu chiến Philippines tại Scarborough và nhờ vậy Bắc Kinh đã kiểm soát được bãi san hô này. Năm 2014, Trung Quốc và Việt Nam đã đối mặt với nhau sau khi Bắc Kinh cho đặt giàn khoan HD 981 gần Hoàng Sa. Trong vụ này, ngư dân Đàm Môn cũng ở tuyến đầu. 
Trao đổi với Heike Schmidt, ngư dân Lâm Phong (Lin Feng) cho biết từ khi Bắc Kinh đứng ra bảo đảm an ninh cho các ngư dân, thì họ tỏ ra yên tâm. «Không còn lo ngại gì nữa, phía Philippines không dám tấn công chúng tôi nữa. Nếu xảy ra bất kỳ sự cố nào, ngư dân chỉ việc gọi lực lượng tuần duyên và họ tới ngay lập tức Xisha (Hoàng Sa – Paracel) và Nansha (Trường Sa). Tuần duyên Philippines không được trang bị đầy đủ và các đội tàu tuần duyên của chúng tôi giám sát khu vực này để bảo vệ ngư dân». 
Trong quán ăn hải sản Bafang, thực đơn rất phong phú, tôm, cua, mực xào dòn. Trên tường có dán một tấm bản đồ lớn vẽ vùng biển Trung Quốc tiến sát gần bờ biển của Việt Nam, Philippines, Đài Loan, Malaysia. Làm thế nào để chứng minh rằng đó là vùng biển của Trung Quốc? Theo nhà nghiên cứu Lâm Vĩnh Hâm thì từ thế kỷ XIV, ngư dân Đàm Môn đã đến tận Hoàng Sa và Trường Sa để đánh bắt hải sản. 
« Từ triều đại nhà Minh (Ming), nhà Thanh (Qing), ngư dân Trung Quốc đã đi đánh bắt hải sản ở biển Hoa Nam – Biển Đông. Trên các nhật ký hải trình, họ đã đánh dấu các tuyến đường qua lại, ghi lại khoảng cách giữa các bãi đá. Các nước khác không có những bằng chứng lịch sử này». 
Tàu đánh cá hay tàu du kích biển?
Theo truyền thông của Nhà nước, thì thuyền trưởng Tô Chánh Phấn (Su Chengfen), 81 tuổi, ở Đàm Môn, là một trong những người hiếm hoi tìm thấy một cuốn hải trình – Genglubu – viết cách nay 600 năm. Khi phóng viên RFI tới gặp thì ông Su lại tỏ ra kín đáo, ít nói. Ông cho biết ngắn gọn là nếu muốn nhìn thấy cuốn hải trình và nghe kể lại câu chuyện tìm thấy tập tài liệu quý giá này, thì cần phải có một cán bộ của Đảng đi tháp tùng nhà báo. Sau hơn một giờ thuyết phục nhà chức trách tại trạm cảnh sát Đàm Môn, khi phóng viên RFI quay lại, thì ông Tô đã đi vắng. 
Hy vọng là trong tương lai, mọi người sẽ được chiêm ngưỡng cuốn hải trình quý báu này tại Viện bảo tàng quốc gia về Biển Đông, rộng khoảng 3000 mét vuông, hiện đang được gấp rút hoàn thành. Chủ tịch Tập Cận Bình mong muốn có một viện bảo tàng như vậy tại Đàm Môn. 
Trung Quốc không ngần ngại chi tiền thực hiện các dự án khổng lồ để chứng tỏ sức mạnh hàng hải của mình. Tân cảng Sanya (Tam Á) vừa được xây dựng cách Đàm Môn khoảng ba giờ đi xe hơi. Đối diện với khu hậu cần cực kỳ hiện đại là bến cảng nơi neo đậu khoảng một chục tàu, trên đó có đầy đủ các thiết bị phục vụ đánh bắt cá như lưới, đèn cực sáng cho đánh bắt ban đêm. 
Thế nhưng, đoàn thủy thủ lại mặc quân phục và trông chẳng có gì giống ngư dân. Họ xua đuổi phóng viên RFI và không cho chụp ảnh. Phải chăng đó là tàu của hải quân hoặc du kích biển, được ngụy trang thành tàu đánh cá? Một người dân đứng gần đó nói nhỏ với Heike Schmidt: «Các tàu đậu ở đây là để bảo vệ chủ quyền, vùng biển của Trung Quốc. Tàu không dùng để đánh cá. Đó là những con tàu của Nhà nước. Nếu xảy ra đụng độ va chạm, các tàu này bảo vệ ngư dân cũng như chủ quyền của nước chúng tôi». 
Bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc đã tuyên bố: «Bắc Kinh cần phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh nhân dân ở Biển Đông». Và các ngư dân Trung Quốc đã được huy động vào cuộc chiến này. 
M.A.

THƯ CỦA NHÀ GIÁO DỤC PHẠM TOÀN VỀ NHÓM CÁNH BUỒM VÀ “HÀNH TRÌNH TRÍ TUỆ” CỦA TRẺ EM VIỆT NAM

THƯ CỦA NHÀ GIÁO DỤC PHẠM TOÀN VỀ NHÓM CÁNH BUỒM VÀ “HÀNH TRÌNH TRÍ TUỆ” CỦA TRẺ EM VIỆT NAM

bauxitevnFri 7:18 AM


Sáng thứ Ba, 15 tháng 11 năm 2016 
Thưa các anh chị, thưa các bạn 
Tôi là Toàn đây, hôm nay trong lúc chờ thùng sách giáo khoa cuối cùng từ nhà in vận chuyển về “trụ sở” nhóm, chuẩn bị cho buổi Hội thảo ra mắt sách vào 18 giờ ngày 19 tháng 11 năm 2016 mang tên HÀNH TRÌNH TRÍ TUỆ, lại được thay mặt nhóm Cánh Buồm gửi thư này tới tất cả các anh chị và các bạn. 
Nhóm Cánh Buồm buổi ra đời chỉ có “một con gà trống già và mấy con gà nhép” như lời miêu tả đầy nghi hoặc, sau khi hoàn thành bộ sách giáo khoa Tiểu học gồm 10 cuốn Văn và Tiếng Việt từ Lớp 1 đến Lớp 5, vài giờ nữa đã có thêm bọn “đàn anh” gồm 8 cuốn Văn và Tiếng Việt từ Lớp 6 đến Lớp 9. Công sức đó được tiếp nối vào công sức bọn “gà nhép” bởi… xin không ví von, vì có thể không “vừa ý” tác giả Nguyễn Thế Anh, 90 tuổi, có bài đủ cho hoạt động học Văn Lớp 9 trong hơn nửa năm học. Và cũng không “vừa ý” các tác giả khác, người ở Hồ Chí Minh, người ở Canada, người ở Huê Kỳ, nhiều người ở cộng hòa Pháp, cả em “gà nhép” của Nhóm đang học ở Australia, và số đông tác giả ở Hà Nội. 
clip_image001
Bộ sách năm nay được Nhóm đánh giá là đủ sức tự đứng vững để báo cáo toàn xã hội vốn đã ở dạng phôi thai chắc là từ năm học 1978-1979 khi người sáng lập Cánh Buồm gặp anh Hồ Ngọc Đại – người bạn và người thầy về ý tưởng đổi mới Giáo dục phổ thông; và cả việc gặp anh Nguyễn Quang A – người bạn đã cảnh tỉnh mộng mơ dạy Tiếng Việt cho người Việt khắp nơi bằng nụ cười “cho trẻ em Việt Nam trong nước trước, anh ạ!”.

Bộ sách năm nay được Nhóm phê duyệt công bố cả ở dạng sách giấy và sẽ ở cả dạng sách Open-Book đã từ hình thù phôi thai xa xôi – vài thập kỷ ở thời Internet là đủ để thuộc về Tiền sử thời Hiện đại – được trải nghiệm trên thực địa tương đối rộng để có thể chuốt lại như hình hài ngày hôm nay. Một bộ sách đi đúng đường được dắt dẫn bởi lý thuyết tâm lý học hoạt động–phát triển. 
Thư này hôm nay được thảo vào buổi sớm đẹp trời mà đêm qua lại có mặt trăng rất to – có đủ Âm và có đủ Dương. Cho bạn Toàn này được quyền lim dim mắt nhớ đến những bạn trẻ và già đã lao động hết mình cho hình thù 18 cuốn sách thành một hệ thống có tư tưởng riêng rõ ràng dễ hiểu và có một chuỗi kỹ thuật thực thi dễ áp dụng như đã được chứng thực ở nhiều chục cô giáo Tiểu học ở Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bắc Giang, cả ở một Trung tâm “dạy bù học bù” mang cái tên dễ thương Ô Xinh ở Hà Nội – chưa kể đến những gia đình đã chủ động dùng sách này cho riêng con em. 
Thưa các anh chị, thưa các bạn, 
Công việc đã xong được một khúc, nhưng là khúc rất quan trọng để những cuộc tranh luận về Cải cách Giáo dục không rơi vào viển vông hoặc phục vụ những ý đồ khó kiểm soát. Bây giờ, xã hội có thể lấy bộ sách 18 cuốn của Nhóm Cánh Buồm để bàn nhau “Giáo dục phổ thông là vậy sao?”; “Ngoài hai môn Văn và Tiếng Việt, cách làm các môn khác như thế nào?”; “Làm gì nữa để hoàn thiện những cái “mẫu” đã có?”… 
Nhóm Cánh Buồm không có trách nhiệm và giữ độc quyền trả lời tất cả các câu hỏi. Nhóm Cánh Buồm làm một công việc của phòng thí nghiệm. Sản phẩm của nó sẽ gợi ra nhiều sản phẩm khác của những ai có tấm lòng lo lắng cho sự phát triển bền vững của Dân tộc. Những ai có lòng sẽ TỰ DO đem sản phẩm dâng cho xã hội. Và xã hội chắc chắn sẽ đối đãi một cách DÂN CHỦ với mọi đóng góp. Một cách diễn đạt khác là: mọi người cùng chung tay vì đất nước, không vì điều gì khác, chỉ vì một nghĩa vụ hồn nhiên đóng góp hết sức mình cho nền Giáo dục quốc dân và là quốc dân Việt Nam ngay ngày hôm nay. 
Thư này gửi các anh chị và các bạn để thông báo, để chia vui, để cám ơn, và để mời các anh chị cùng các bạn tham dự cuộc Hội thảo ra mắt sách giáo khoa mới hồi 18 giờ ngày 19 tháng 11 năm nay tại Hội trường lớn của Trung tâm Văn hóa Khoa học Cộng hòa Pháp tại Hà Nội – cũng là một ân nhân của công việc làm của nhóm Cánh Buồm từ năm 2008 đến nay và mãi mãi. 
Rất thân thiết và kính trọng, 
Phạm Toàn

Suy nghĩ về đổi mới toàn diện triệt để giáo dục và đào tạo

Suy nghĩ về đổi mới toàn diện triệt để giáo dục và đào tạo

bauxitevnFri 7:17 AM


Trần Đình Sử
Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội 
clip_image002
Đã đúng ba năm chẵn tính từ ngày có nghị quyết TW kì họp thứ 8 khoá 11 (4/11/2013) về giáo dục đào tạo. Đây có thể coi là nghị quyết nêu vấn đề sâu sắc nhất, “kiên quyết” nhất,  “bức thiết” nhất, “dứt khoát” nhất, “quyết liệt” nhất của Đảng cộng sản VN về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. 
Tuy nhiên cũng giống như nhiều nghị quyết khác của Đảng đều nêu ra từ trên xuống, không dựa từ cở sở lên, thiếu điều kiện từ cơ sở để thực hiện, nói một cách khác là nghị quyết duy ý chí, cho nên thực hiện bao giờ cũng tốn kém, lúng túng và bất cập, mà kết quả không lấy gì làm hứa hẹn... Cần phải nói ngay rằng nghị quyết ngay từ khi ra đời đã không phải được dư luận đồng thuận. Sau khi nghị quyết ra đời cũng có nhiều ý kiến phản biện, trước hết là vấn đề triết lí giáo dục. GS Phạm Minh Hạc cho rằng triết lí giáo dục đã nằm trong đường lối của Đảng rồi, không cần thảo luận nữa, tuy nhiên nhiều trí thức cho rằng đào tạo con người phải đặt lên đầu mục tiêu con người nhân văn, dân tộc và tự do, trong khi đó mục tiêu của chúng ta nhấn mạnh ở việc đào tạo nhân lực. Có một số ý kiến cho rằng nếu mục tiêu đào tạo ra con người theo kiểu “con ngoan, trò giỏi”, sau thành công dân ngoan, làm việc giỏi theo kiểu vâng lời, bảo sao nghe vậy thì đó không thể là người công dân của một nước phát triển. Cho đến nay vấn đề triết lí giáo dục vẫn chưa ngả ngũ. Trên thực tế, khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” vẫn còn được thờ trong các nhà trường là một điều phi lí, trong khi khẩu hiệu của Unesco học để biết, học để sáng tạo, học để sống và để chung sốngvẫn chưa thật sự đi vào nhà trường. Điều này cho thấy tư tưởng bảo thủ trong giáo dục Việt Nam hiện rất nặng nề, nó cản trở giáo dục Việt Nam thay đổi.

Vấn đề thứ hai tôi muốn nêu lên là để thực hiện một nghị quyết lớn như thế chúng ta hầu như thiêú việc tổ chức nghiên cứu khoa học giáo dục và cập nhật các kinh nghiệm giáo dục tiên tiến trên thế giới. Các việc làm của Bộ giáo dục như dự án về ngoại ngữ tiếng Anh, dự án về trường học mới VNEN đều là dự án khép kín, xã hội nói chung là không biết, không ai được biết và tham gia ý kiến. Chỉ để sau khi đã tiêu hết tiền của dự án, sau khi các địa phương tỏ ra bất mản với dự án ấy đề nghị dừng thì xã hội mới biết. Ở đây phải nói rằng cách làm khép kín là rất cũ. Chúng tôi đã nêu kinh nghiệm của việc đổi mới giáo dục lần trước là do thiếu sự đồng thuận của xã hội, bởi vì thiếu công bố thông tin. Lần này lại lặp lại. Tôi nghe nói các vị chuyên gia, lãnh đạo giáo dục sang Columbia hình như vẫn không tiếp cận được chương trình và SGK đem về dịch tham khảo, mà họ chỉ tiếp cận ý tưởng rồi về triển khai riêng có tính chất nhóm. Cách triển khai đã có tiền của Ngân hàng thế giới cho nên họ không cần tham gia của các chuyên gia giáo dục trong nước. Vì quá tin vào một phương án VNEN, cho nên trong thời gian ấy không có phương án khác được thực hiện. Nếu có bây giờ cúng ta đã có các kết quả bổ sung cho nhau. Đến bây giờ thời gian không còn nữa. Bây giờ kêu gọi chắt lọc cái tốt của VNEN để kết hợp với cái khác thì lấy đâu ra? VNEN là nhà trường phát huy năng lực tự quản và năng lực tự học của HS đối với các lớp học ghép các lớp khác nhau, thích hợp với vùng núi, HS ít. Áp dụng cho lớp HS đông như VN là không ổn, phần lớn HS thực hiện theo lối diễn chứ không thực có tự học và tự quản. Trò diễn này chúng tôi đã thấy nhiều rồi. Vấn đề là phải làm sao cho HS VN biết tự học. Đây vẫn là vấn đề mà nhiều nhà giáo VN từ thời các thứ trưởng đáng kính như  các GS Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ đã nêu mà chưa có kết luận khoa học và thực tiễn. Thêm nữa, thiếu nhân tố khêu gợi và gây cảm hững của thầy thì quá trình học tập của HS khó mà khởi động, sẽ không được thực hiện đầy đủ. 
Tôi cho rằng để thực hiện một nghị quyết lớn như nghị quyết 29 thì cần triển khai một lúc nhiều đề tài về khoa học giáo dục, từ mục tiêu, phương pháp dạy học, cách thi, tổ chức thi, cách ra đề, cách soạn chương trình mới, phương pháp ra đề mở, cách tích hợp các môn học tự nhiên và xã hội, công bố các dự kiến để lấy dư luận trong xã hội. Cách làm việc của Bộ là có một nhóm nhỏ khép kín, danh sách ấy do ai phụ trách, gồm những chuyên gia nào cũng không thấy công bố. Vì thế cho nên khi đưa ra, về môn sử đã bị dư luận không đồng tình. Và vì lí do đó mà cho đến nay chương trình tổng thể vẫn chưa thông qua được. Mà chương trình này chưa thông qua thì chương trình bộ môn cũng chưa thể biên soạn. 
Các trường đại học cũng rất quan tâm, nhưng họ không được giao việc, hoặc chỉ giao các việc phụ như đề xuất form của SGK, mà không đề cập nội dung. Tôi cho rằng một núi công việc còn nguyên chưa đụng đến, ví như tích hợp các môn xã hội, các môn tự nhiên, việc tích hợp đó có thể có những variant nào, variant nào có ưu điểm, hình như chưa ai biết. Trong bộ môn ngữ văn trước đây chương trình phân bố theo lịch sử văn học. Khoa tôi làm chương trình, muốn thay mô hình đó nhưng bị quan điểm bảo thủ phản đối. Nay dạy theo năng lực nghe nói đọc viết, vậy chương trình các lớp sẽ phân hoá như thế nào, chưa thấy ai nghiên cứu và đề xuất, mà thiếu nguyên tắc ấy thì khó mà xây dựng chương trình ngữ văn từ 6 – 9 và từ 10 – 12. Một việc rất lớn như vậy mà chúng ta thiếu chiến lược động viên trí tuệ xã hội vào công việc. Phải chăng là vì tiền? Vì sợ phải chia chác cho nên phải thu thu giấu giấu trong nhóm nhỏ, mà cách làm như vậy rõ ràng đã không thành công. Nếu bộ giáo dục còn theo nguyên tắc lợi ích nhóm (nguyên tắc này chi phối từ trung ương đến địa phương, thì nó chi phối trong Bộ cũng là chuyện bình thường thôi), thì việc đổi mới giáo dục không thể thành công. Khi nói đến điều này tôi đã xác định là mình đã cao tuổi rồi, không có điều kiện tham gia nữa. Nếu có thì chỉ một vài việc không quá nặng nhọc. Cho nên không phải vì lợi ích mà nếu vấn đề này. Cứ nhìn cung cách làm dự án này tôi nghĩ rằng kết quả của đợt đổi mới giáo dục này sẽ khó đạt kết quả mong muốn. 
Bây giờ thì thời gian đã quá muộn. Chỉ còn một năm 2017, mà năm 2018 đã phải có sách làm theo cuốn chiếu để đổi mới giáo dục, tôi cho là vội vã và sẽ thất bại. Sách mới chưa có điều kiện thẩm định, thí điểm, rút kinh nghiệm, giáo viên chưa được bồi dưỡng, bồi dưỡng như cách chúng ta đã làm trước đây đã không có kết quả thì tôi cho rằng lần này nếu không thay đổi thì vẫn không kết quả. Chính vì vậy tôi đề nghị lùi thời gian thực hiện chương trình mới lại. Không theo kế hoạch 2018, vì đề ra chúng ta sẽ phải chạy cho kịp, và lúc đó sẽ bộc lộ thêm nhiều khiếm khuyết nữa. 
Về dự án dạy tiếng Anh, là lĩnh vực ngoài chuyên môn của tôi xin không góp ý. Mới đây bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ lại công bố sẽ thực hiện dự án dạy tiếng Trung như là ngoại ngữ thứ nhất, còn tiếng Anh được coi là ngôn ngữ thứ hai. Tôi xin nói ngay cách hiểu ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai như thế là trái với cách dùng thông thường được giới ngữ học chấp nhận. Đối với nước ta, tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất, tiếng Anh là ngoại ngữ thứ nhất, do đó không có chuyện tiếng Trung là ngoại ngữ thứ nhất được. Một nhà lãnh đạo mà dùng khái niệm sai lệch như thế là không thể chấp nhận, gây hiểu lầm trong xã hội.
Bây giờ xin góp ý về chủ trương thi trắc nghiệm.  Quyết định thi trắc nghiệm trong kỳ thi quốc gia năm 2017 là một quyết định hơi vội, khiến học sinh và giáo viên bị động, chuẩn bị không kịp. Nếu cách thi sẽ chỉ đạo cách học theo nguyên tắc thi thế nào học thế ấy thì học sinh sẽ học theo lối trắc nghiệm. Không học trình bày mạch lạc theo logic. Thêm nữa, có nhiều phương án trắc nghiệm. Chúng ta đã nghiên cứu hết các phương án chưa mà đã quy định hình thức trắc nghiệm. Theo tôi biết, về môn ngữ văn lối trắc nghiệm vẫn sử dụng lâu nay tỏ ra rất sơ lược và ấu trĩ. Chưa đi vào cơ chế đọc hiểu văn học của hoạt động đọc. Nếu không nghiên cứu mà đến khi phải sử dụng trắc nghiệm ở môn ngữ văn thì HS và GV chắc chăn sẽ lúng túng. Trắc nghiệm môn xã hội chưa tích hợp hoặc tích hợp sẽ là vấn đề mới, tôi chưa biết bộ đã tổ chức nghiên cứu như thế nào mà quyết định ra đề trắc nghiệm. Đề tự luận môn ngữ văn không có gì mới, HS có thể là được, nhưng các môn xã hội khác là cả một vấn đề đáng lo. Bây giờ thì Bộ đã quyết định rồi, các trường đều phải thực hiện. Nhưng tôi vẫn lo là chưa chuẩn bị chu đáo sẽ nảy sinh sự cố không mong muốn. 
Trên đây là một số ý kiến nêu ra để trao đổi, mong là sẽ có ích cho việc thực hiện nghị quyết 29TW về giáo dục đào tạo. Nếu có gì chưa ổn xin được lượng thứ. 
9 tháng 11 năm 2016 
T.Đ.S. 

Thử tìm hiểu quan điểm, tư tưởng của Văn Trinh Chu Văn An

Thử tìm hiểu quan điểm, tư tưởng của Văn Trinh Chu Văn An

bauxitevnFri 7:16 AM


Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam năm 2016
Nguyễn Thanh Giang
clip_image002
Chu Văn An sinh ngày 25/8 (có tài liệu nói 15/8) năm Nhâm Thìn, niên hiệu Trùng Hưng thứ 8 (1282), tại thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội và mất ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), hưởng thọ 78 tuổi, đã từng đỗ Thái học sinh (tương đương tiến sỹ ngày nay) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Tâm huyết với nghề dạy học, không màng danh lợi, Chu Văn An bắt đầu sự nghiệp với một mái tranh đơn sơ ở làng Huỳnh Cung, giáp với làng Quang quê mẹ. Tuy là trường ở làng quê, nhưng cũng có thư viện. Thầy Chu dạy học trò từ hạng ấu học, mộng học, trung tập và đại tập (tương đương với vỡ lòng, tiểu học, trung học và đại học). Học trò nhiều nơi, từ Kinh Bắc, Sơn Nam, Châu Hồng, Châu Hoan tìm đến theo học rất đông, tới 3.000 người. Trường Huỳnh Cung đã đào tạo nên rất nhiều trò giỏi. Khoa thi năm 1314, dưới thời vua Trần Minh Tông, trường có hai học trò đỗ Thái học sinh là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh, cả hai đều làm quan dưới triều Trần (Lê Quát được thăng đến chức Thượng thư).

  
Tài đức và danh tiếng của thầy Chu vang đến kinh đô Thăng Long, vua Trần Minh Tông (lên ngôi năm 1314) mời ông ra kinh thành dạy học tại Quốc Tử Giám, ngôi trường lâu đời, chuyên đào tạo các hoàng tử, con các vị quan lại. 
Vua Trần Minh Tông đã cắt cử thầy Chu Văn An chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương chức Phó Hiệu trưởng) và giao Thái tử Trần Vượng (sau này là vua Trần Hiến Tông) cho thầy Chu dạy dỗ. Đứng đầu Quốc Tử Giám lúc này là quan Tể tướng Trần Nguyên Đán (ông ngoại của danh nhân Nguyễn Trãi, cũng là ông nội của danh tướng Trần Nguyên Hãn). 
Theo thư tịch cũ thì Chu Văn An viết nhiều sách, ông đã để lại cho đời sau những tác phẩm: hai tập thơ Quốc ngữ thi tập bằng chữ Nôm và Tiều ẩn thi tập bằng chữ Hán. Ông còn viết một cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư nhan đề Tứ thư thuyết ước. Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây thì Chu Văn An còn là một nhà đông y đã biên soạn quyển Y học yếu giải gồm những lý luận cơ bản về chữa trị bệnh bằng Đông y. Khi ông mất, vua Trần đã dành cho ông một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Vua còn ban tặng tên thụy cho ông là Văn Trinh. Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phượng Sơn đã thích nghĩa hai chữ "Văn Trinh" như sau: “Văn, đức chi biểu dã.Trinh, đức chỉ chính cổ dã” (Văn là sự bên ngoài (thuần nhất) của đức, Trinh là tính chính trực, kiên định của đức). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông cũng đã giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời. 
Đồng thời với nhiệm vụ dạy học cho vua, thầy Chu Văn An đã cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn TrungNgạn tham gia vào công việc củng cố triều đình. 
Thời vua Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông trị vì, đất nước thanh bình, chính sự tốt đẹp. Đến khi vua Hiến Tông ở ngôi được 12 năm thì mất (1329 – 1341), người em là Trần Hạo (Trần Dụ Tông) nối ngôi. Qua những năm đầu chính sự vẫn còn tương đối yên ổn, nhưng sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông qua đời (1357) thì tình hình đất nước bắt đầu có những dấu hiệu đi xuống. Trong triều, bọn gian thần bắt đầu lộng hành, kéo bè kết đảng. Vua Trần Dụ Tông lơ là, bỏ bê việc triều chính. Việt Nam sử lược chép về vua Dụ Tông như sau: “Suốt ngày lo rượu chè, chơi bời, xây cung điện, đào hồ, đắp núi để thưởng ngoạn, lại cho người giàu vào cung đánh bạc”. 
Cảm xót trước vận mệnh nước nhà, Chu Văn An đã nhiều lần can gián nhưng bất thành. Dâng sớ xin chém bảy tên gian thần cũng không được chuẩn y vì bọn chúng đều là nịnh thần, đều là người quyền thế được vua yêu, ông bèn "treo mũ ở cửa Huyền Vũ", cáo quan về ở ẩn tại núi Phượng Sơn thuộc làng Kiệt Đắc, huyện Chí Linh (Hải Hưng) lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi), rồi mất tại đó. 
Theo cuốn "Vương triều sụp đổ", tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quốc Hải, thì bảy tên gian thần bị Chu Văn An xin nhà vua xử trảm gồm có: Trâu Canh, Mai Thọ ĐứcBùi KhâmVăn HiếnNguyễn Thanh LươngTâm Đức NgưuĐoàn Nhữ Cẩu
Trâu Canh là người Hán, cháu nội Trâu Tôn, đi theo quân Nguyên vào xâm lược Đại Việt, năm Ất Dậu (1285) thất trận bị quân Đại Việt bắt, y đã hàng phục và cúi đầu xin cư trú. Được cho làm ngư y y đã ra sức băng hoại triều dình bằng thú dâm đãng, dẫn dắt đức vua vào con đường thương luân bại lý, làm cho Hoàng thượng liệt dương từ năm 13 tuổi. Để bầy trò phục dương, y đã bắt cóc 21 đứa trẻ khỏe mạnh con nhà lương dân, giết đi lấy mật làm thang cho bài thuốc hồi dương. Y còn bày trò cho quan gia thông dâm với chị ruột mình, bảo đấy là phương thuốc tăng cường sinh khí. Trong khi chữa trị cho quan gia, y lại thông dâm với cung nhân của chính quan gia. 
“Thất trảm sớ” do Chu Văn An soạn là một tờ sớ mang dấu ấn lịch sử rất quan trọng. Dù chưa được biết nội dung cụ thể, ba tiếng “Thất trảm sờ” mỗi khi đọc lên người nghe đều thấy uy nghi, linh thiêng như lời phán thánh thần. Nhà sử học Lê Tung (thế kỷ XV) viết: “Thất trảm chi sớ nghĩa động quỷ thần”. Danh sĩ Nguyễn Văn Lý (thế kỷ XX) có thơ: “Thất trảm vô vi tồn quốc luận/ Cô vân tuy viễn tự thân tâm”, nghĩa là: “Sớ Thất trảm không được thi hành, cả nước bàn luận/ Đám mây lẻ loi tuy xa vẫn tự có tinh thần trong lòng”. Cao Bá Quát cũng từng ngợi ca:
“Thất trảm yêu ma phải rợn lòng/ Trời đất soi chung vầng hào khí/ Nước non còn mãi nếp cao phong”.
Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của thầy Chu là tấm gương sáng của thời phong kiến Việt Nam. Sự nghiệp của ông được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu
Chu Văn An được người đời coi như Sao Đẩu, Sao Khuê và tôn vinh là “Vạn thế sư biểu”. (Người thầy của muôn đời). Phan Huy Chú xiển dương: “Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cương thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”. 
Trên núi Phượng Hoàng, thuộc xã Văn An; cách khu di tích Côn Sơn khoảng 4 km hiện nay vẫn còn lăng mộ và đền thờ Chu Văn An. Đây là một điểm di tích văn hoá và danh thắng, với cảnh rừng thông đẹp trùng điệp, có đền thờ cũ và mới xây xong năm 2007. Lăng mộ Chu Văn An nằm trong khu di tích này. Lễ hội vào tháng Tám và tháng Giêng, trọng hội vào ngày 25-8 và 26-11. Khu di tích được xếp hạng năm 1998. Trong đền có đôi câu đối thờ: 
Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc
Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong
Dịch: 
Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là cái thú vui của bậc hiền giả?
Núi Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi mãi ngưỡng mộ phong thái của kẻ triết nhân!
Đôi câu đối trong đền thờ thần ở quê ông thì ghi như sau: 
Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận. 
Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô. 
( Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải. 
Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa). 
Trong đôi câu đối trên, ”Chu đình” có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, chỉ Chu Văn An. Hình ảnh “Mây lành từ nghiên mực bay lên” liên quan đến một huyền thoại vẫn được lưu truyền nói về ngôi trường và nhân cách, đạo đức của thầy Chu: 
Tương truyền khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, trong số rất đông học trò từ tứ xứ kéo đến theo học có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. Cho người dò la tìm hiểu thì thấy cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: "Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho". Được thầy khuyến dụ, người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng. Nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học, quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v. 
Sử sách từ cổ chí kim đều nhất trí tôn vinh đạo đức, tư cách, khí tiết Chu Văn An ở mức tột đỉnh. Tuy nhiên, nhìn nhận, đánh giá về quan điểm, tư tưởng của ông thì chưa được bàn thảo thấu đáo để xác định thật thỏa đáng. Ngô Sỹ Liên trong “Đại việt sử ký toàn thư” viết: 
Nội dung dạy học của ông ngày nay không còn được biết đến một cách đầy đủ, nhưng chắc chắn ông đã nỗ lực giảng giải học thuyết kinh điển của Nho gia, tạo điều kiện cho lý thuyết Khổng – Mạnh dần dần chiếm thế độc tôn. Ta biết rằng, dưới thời Lý cũng như thời Trần, đạo Phật là quốc giáo. Nhiều vị vua đi sâu vào Phật học và có những lý thuyết riêng cho Phật giáo Việt Nam, dân chúng cũng rất mộ Phật. Để làm cho Nho học có một vị trí lớn trong giáo dục thời bấy giờ không phải là điều đơn giản, nhưng Chu Văn An đã làm được điều này, khiến cho mọi tầng lớp vua quan sùng Nho về sau đều biết ơn ông. Ta không thấy ông trực tiếp bài bác Phật giáo, nhưng các học trò được ông dạy dỗ, khi ra làm quan lại phê phán đạo Phật. Bởi vì bài Phật để tôn Nho là theo đúng phương hướng, ý chí người thầy của họ”.
Võ đoán trên có lẽ xuất phát từ ý kiến của Bùi Huy Bích. 
Trong miếu thờ Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung còn ghi lời của Bùi Huy Bích (1744 - 1802) như sau: “Kính nghĩ phu tử, tinh thông về lý học, khi ra đời (xuất thế) cũng vì Lễ, khi ở ẩn (thoái ẩn) cũng vì nghĩa. Những học trò của ngài đã đem bày tỏ rõ ràng được đạo Nho, chống lại tà thuyết, gạt bỏ mê tín. Phong thái và ảnh hưởng của ngài dù đến trăm năm sau cũng cảm thấy như chính mình đang ở gần ngài. Trong Kinh thi, chẳng đã có câu: Núi cao, ngửa trông thấy càng cao, đường lớn càng đi càng thấy xa...” 
Theo Bùi Huy Bích, Chu Văn An chủ xướng 4 quan điểm sau: “Cùng lý: bàn cãi cho biết lý lẽ của sự vật. Chính tâm: luôn luôn giữ lòng mình cho chính, không làm điều gì trái với lương tâm. Tịch tà: chống lại tà thuyết, những điều nhảm nhí. Cự bí: đấu tranh vượt mọi khó khăn, chống lại những sự việc làm hại đến nhân tâm. Ở bốn quan điểm này, chúng ta thấy Chu Văn An quan tâm đầy đủ cả hai mặt trí dục và đức dục, học và hành”.
Lời võ đoán của Ngô Sỹ Liên có lẽ không đúng, Chu Văn An là một nho sỹ tiết tháo nhưng không sùng Nho và không hề “bài Phật để tôn Nho”. Bậc chân nho thì không thể xuất thế. 
Đạo Phật cho thế gian là vô thường, ảo hóa, trong đó có cả bản thân con người. Bước đầu của người tu Phật trong một hình thức nào đó phải xa lìa thế gian. Trong khi đó Đạo Nho đề cao thuyết Chính danh. Trong mối tương quan xã hội, mọi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận. Cách thức hành đạo của bậc quân tử theo Nho giáo phải là “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tu thân xong thì phải ra làm quan, làm chính trị, để bình thiên hạ. 
Sau khi tu thân đến mức đỗ Thái học sinh, Chu Văn An đã không ra làm quan ngay. Bất mãn vì “Thất trảm sớ” không được thực thi, ông bỏ triều đình về ở ẩn đã đành, khi vua Trần Dụ Tông vời về triều trao chính sự, ông cũng khăng khăng từ chối. Vua sai nội thần đem quần áo ban tặng, ông lạy tạ xong, liền đem cho người khác. Hiến tử Hoàng Thái hậu (bà nội vua) đành tiếc nuối: “Bậc sĩ phu sửa mình trong sạch, dẫu thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Sao có thể đem bổng cao chức trọng mà dụ dỗ người ta...”. 
Khi Trần Nghệ Tông (1370-1372) lên ngôi, Chu Văn An vui mừng ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng cũng không nhận chức tước gì, lại trở về núi cũ. Đông đảo học trò theo tiễn có hỏi: 
- Từ nhà vua đến đông đảo các sĩ phu và quan chức đều là học trò của Thầy, sao Thầy không ở lại để đảm đương một trọng trách? Thầy coi thường những chức tước của triều đình lắm sao? 
Nhà giáo Chu Văn An nói: 
- Cái quan trọng của con người không ở chỗ chức tước mà ở phẩm giá. Giữ một chức phận nhỏ mà có ích cho đời thì đáng quý biết bao nhiêu. Còn giữ chức tước lớn mà không làm gì có lợi cho dân, cho nước thì chức tước ấy có nghĩa gì. Các con có nhớ Đức Thái Tông triều Trần ta đã nói gì khi Trần Thủ Độ mời người trở lại làm vua không? Ngài nói: “Nếu làm vua mà làm cho dân giàu, nước mạnh thì hãy làm. Còn ngôi vua ư? Ta coi ngôi vua như chiếc dép rách mà thôi!”. 
Chu Văn An không hề bài Phật mà còn sùng Phật hơn Nho. Trong khi đấng “siêu đẳng”, “siêu việt” của Đạo Nho là “Thiên tử”, “Thánh hiền”; của Đạo Phật là “Phật”, là “Thần” thì Chu Văn An lập đền thờ “người học trò thủy thần” của mình, mặc dù người ấy đã bị Trời đánh. 
Để minh giải quan điểm, tư tưởng, tình cảm Chu Văn An, thử điểm qua thơ văn của Người. 
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng Chu Văn An rất đắc đạo với Phật, với Lão. Đoạn dẫn sau đây trích từ bài “Chu An ngạnh trực” của Giáo sư: 
“Trong thơ Chu Văn An, cảm thức về con người tự do được nhắc đi nhắc lại dưới nhiều hình ảnh, và đều là hình ảnh mượn từ những biểu thức nghệ thuật xưa cũ. Có khi đó là một cánh chim âu ung dung tự tại vốn đã thấp thoáng trong thơ Hà Tốn (480-520) đời Tấn. Cánh chim âu bay biểu đạt tư tưởng Lão Trang hiện diện từ trong nỗi thèm khát đoạn tuyệt nhanh với quãng đời quá khứ của nhà thơ để được sống tiêu dao, không còn băn khoăn lo nghĩ:
Đứng đếm thuyền về trước bến đình,
Sáo thu theo gió giật đầu ghềnh.
Nắng tàn ngâm dứt, phôi pha thắm,
Chiều tối ngút nghìn, vời vợi thanh.
Danh phận trôi theo cơn mộng ảo,
Hải hồ vui với kiếp lênh đênh.
Tự đi tự đến nào ai quản,
Thèm cánh chim âu giữa sóng xanh
(Bản dịch bài thơ “Giang đình tác”)
Lại có khi Chu An mượn hình ảnh cái giếng cổ không gợn sóng và đám mây cô đơn quyến luyến mãi hốc núi để bày tỏ chí mình. Giếng và mây rất tĩnh được nhà thơ đặt vào giữa một khung cảnh có chút gì chao động – sự tương phản hé mở một đấu tranh âm thầm trong nội giới:
Quạnh hiu nhà núi trọn ngày nhàn.
Liếp trúc che nghiêng, dịu khí hàn.
Biếc ngát sắc mây, trời chếnh choáng,
Hồng đầm cành nụ, móc chưa tan.
Lòng như giếng cổ không xao sóng,
Thân tự mây côi mải luyến ngàn.
Thông sắp hết hương, trà nhạt khói.
Chim khe cất tiếng, mộng xuân tàn.
(Bản dịch bài “Xuân hiểu”)
Cả bài thơ cho thấy một sự chống đỡ thụ động, từ cái rét nhẹ phải chống liếp tre che chắn, đến cơn say của màn trời thẫm biếc làm người ngắm cảnh cũng đâm ra chao đảo. Nhưng khi đã xác định “lòng như nước giếng xưa không gợn sóng” và “thân tựa mây côi không ra khỏi núi” thì mọi rung động chốc lát bị đẩy lùi. Sự cân bằng được lập lại bằng cái vẻ đạm nhạt thường thấy, và trong thẳm sâu của nhà thơ một tiếng nói cất lên: mộng xuân tàn. Bài thơ có thế nhằm bộc lộ kín đáo một thái độ cân nhắc dứt khoát, không nghiêng ngả trước những lời mời mọc phú quý của nhà Trần, mà cũng có thể là dấu hiệu của sự khai ngộ Phật Giáo ở Chu Văn An, bắt đầu tìm thấy cái tâm yên định. Sau này, Nguyễn Du (1765-1820) cũng dùng biểu tượng “giếng cổ” để nói đến cõi lòng trong lặng của ông: “Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh / Tinh thủy vô ba đào / Bất bị nhân khiên xỉ / Thử tâm chung bất dao / Túng bị nhân khiên xi / Nhất dao hoàn phục chỉ / Trạm trạm nhất phiến tâm / Minh nguyệt cổ thủy tinh” – (Trăng sáng soi giếng xưa / Giếng xưa không nổi sóng/ Không bị người khuấy động / Tâm này chung quy không lung lay / Nếu bị người khuấy động / Lay rồi lại trở lại lặng yên / Trong vắt một tấm lòng / Như trăng sáng lồng vào giếng xưa”. 
Một người bị dòng đời xô đẩy đến cùng cực cỡ Nguyễn Du mà tâm vẫn giữ được bình lặng và rỗng không, hệt như ánh trăng xuyên suốt lòng giếng, thì quả là một trình độ tu Thiền đã đến bậc thượng thừa. Chu Văn An kín đáo hơn Nguyễn Du, không giãi bày mọi ngóc ngách của cái tâm cho ai biết, nhưng ở nhiều bài ông đã mượn thiên nhiên để nói hộ mình. Thiên nhiên ấy thật trống trải và hồn nhiên như nó có, chính là phản chiếu sự vô tâm tức Phật của nhà thơ.
Trong bài “Đề Dương Công Thủy Hoa đình” – (Đề đình Hoa Sen của ông Dương), Chu Văn An còn nâng con người Lão Trang và Phật giáo lên một bậc. Ông muốn tìm đến một Bạch Liên xã ở giữa đầm sen Đông Lâm của Pháp sư Tuệ Viễn (334-416) (người chủ trương “Thần bất diệt luận”) đời Đông Tấn để luyện cho “hình” và “thần” của mình trở nên tinh khiết, sống giữa khung cảnh sen vây bốn phía mà không cần biết mình thanh tịnh, không ăn thức ăn phàm tục mà chỉ mong ăn hạt sen và uống sương móc, để nhập vào hàng ngũ “áo đen áo tía” của Đạo gia, thành con người vô ý hoàn toàn:
Nước biếc chứa ao vuông, 
Sen vây bốn phía đặc.
Trên xây đình Thuỷ Hoa,
Ý cùng sen sánh đức.
Thoang thoảng gió xa đưa,
Ghế ngồi thơm sực nức.
Thần diệu dạo chơi xem,
Nhởn nhơ lòng tự đắc.
Thân thanh tịnh chẳng hay,
Cùng sen chỉ gang tấc,
Trăng trong ấy bạn bầu,
Mây nhàn cùng thức giấc.
Khát nghiêng bầu móc trong,
Đói ăn chùm quả ngọc.
Ngoái trông gác chuyện đời,
Nhởn nhơ chơi tám cực
(Bản dịch bài “Đề Dương công Thủy Hoa đình”)
Cũng có thể Chu Văn An ngày càng đọc sâu kinh điển Đạo giáo và tự mình thực hành Đạo giáo như La Sơn Phu từ chứ không chỉ còn là mơ ước, bởi trong một bài thơ khác: “Kính họa thơ vua đề kinh sách Đạo giáo” ông đã đề cập đến điều này:
Ngoài sân hạc múa, cửa trùm mây,
Uống hết sương hoa sảng khoái thay.
Dưới rặng bích đào vô sự hết,
Muốn lau đàn đá gió Đông đây.
Uống sương, ăn hoa chính là một trong những phương pháp của Đạo giáo thần tiên (khác Đạo giáo phù thủy) giúp người tu hành đạt đến trường sinh bất lão. Nhưng cái chính mà ta muốn nói là trong khi luyện tập trường sinh, Chu An đã tìm thấy một phương diện thứ ba của con người tự do tự tại: con người vô sự. Thiên nhiên trong thơ ông đã có vô tâm, vô ý nay còn bao hàm cả cái ý vô sự của ông”. 
Thực ra Chu Văn An không hề “vô tâm, vô ý, vô sự”, cũng không “đoạn tuyệt nhanh với quãng đời quá khứ để được sống tiêu dao, không còn băn khoăn lo nghĩ” như Nguyễn Huệ Chi diễn giải. 
Trong Chu Văn An đâu đó vẫn mang mang một nỗi buồn vương vấn: “Đường quanh cỏ biếc vắng người / Tiếng chim khách núi đôi hồi kêu mây” (Bài thơ “Vịnh cảnh núi Chí Linh”), “Công danh quá khứ như là mộng /Hồ hải chu du một tang bồng” (Bài thơ “Cảm tác ở đình bên sông”); một nỗi buồn tàn tạ: “Hương tàn, trà nguội, mấy tuần/Chim khe, lãnh lót, kêu xuân, mộng tàn”(Bài thơ “Xuân sớm”). 
Không chỉ mang mang buồn mà còn vời vợi ngóng trông như những khi Chu Văn An ngày ngày ra tìm kiếm ở “Ao Rùa”, một cái ao lớn ngay gần am ở ẩn của Chu Văn An: 
Ao rùa 
Bên cầu trăng nước tịch dương
Lá hoa sen lặng tựa nương giữa hồ.
Rồng đâu? Ao cũ cá đùa
Mây đầy núi vắng hạc chưa trở về
Quế thơm đường đá gồ ghề
Nước đầm rêu biếc như che cổng tùng
Phải đâu tro đất lạnh lùng
Nhắc đời vua trước lệ lòng thầm rơi.
(Bản dịch bài “Miết trì”) 
Có trăng nước, lá hoa, có đường quế thơm, có cổng tùng, có rêu biếc, có núi đầy mây, có cá đùa … nhưng câu hỏi “Rồng đâu?” và lời thán “hạc chưa trở về” dội lên làm ta thấy nhà thơ vẫn buồn trơ trọi vì không tìm thấy những đối tượng cần tìm. Rồng hay hạc, hay vị vua anh minh đời trước Trần Minh Tông? 
Lòng không lạnh lùng như tro đất nên lệ cứ rơi. Lệ rơi khi nhắc đời vua trước. Ở đây khóc không vì buồn, vì tủi mà khóc vì nhớ, vì mong. Còn khóc tức là còn yêu, còn lưu luyến, còn trông chờ. 
Nỗi vấn vương lưu luyến trong lòng Chu Văn An đã một lần ta từng bắt gặp trong bài thơ “Vọng Thái lăng” làm khi nhà thơ đi qua lăng Trần Anh Tông ở Đông Triều: 
Tùng bách âm u trời sắp tối 
Cỏ như rêu phủ đá chìm nổi 
Ngàn non ảm đạm, gió thêm sầu 
Vạn thuở tiêu tan, mây khuất lối 
Hoa suối sắp rơi, mưa bụi mờ 
Chim đồng không hót. núi trơ trọi 
Mấy phen dùng dắng đi lại dừng 
Hoang rậm mênh mông xanh cỏ nội 
Không chỉ vấn vương, lưu luyến mà còn khắc khoải xót đau đến hãi hùng: 
Thân nhàn nhẹ tựa áng mây vần 
Gió mát bên tai dứt tục trần 
Xa cách cõi đời thanh cõi Phật 
Oanh kêu, hoa rỏ máu ngoài sân 
(Bản dịch bài “Thôn Nam sơ tiều phại”). 
Rõ ràng nhà thơ đã tự dối lòng. Thân nhàn đã thênh thênh nhẹ tựa mây mà sao trước cảnh thần tiên, có tiếng oanh thỏ thẻ, có gió mát bên tai mà vẫn thấy mầu hoa như máu rỏ. 
Chu Văn An vừa “hữu vi”, vừa “vô vi” ; vừa Nho, vừa Phật, vừa Lão. Khi Nho là Nho rất chính danh, lúc Phật là Phật rất mộ đạo, lúc Lão là Lão rất thanh tịnh. Nếu ‘Thánh hiền’ là con người lý tưởng của Nho Giáo; ‘Tiên’ là con người lý tưởng của Lão Giáo; ‘Phật’ là con người lý tưởng của Phật Giáo thì ông là con người của tam giáo đồng nguyên mang đủ tố chất của Thánh, của Phật, của Tiên. 
Một người chân chính trong hệ “Tam Giáo đồng nguyên” có thể theo Nho nhập thế hành đạo vào tuổi trẻ, có thể theo Lão – Trang để tiêu dao, thanh thoát trong lúc thất bại đau khổ, và có thể theo Phật để giảm trừ tham, sân, si bớt đi những hệ lụy gian trần. 
Liên hệ với thời nay, tôi bỗng nhớ Tổng Bí thư ĐCS Nam Tư Milovan Djilas khi ông nói: "20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu" 
Ở Việt Nam, những hậu duệ khả kính của Chu Văn An có thể kể: Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiến Giang, Phạm Quế Dương, Vi Đức Hồi …Vì chống áp bức, bất công, giành độc lập dân tộc, họ đã theo Cộng sản dấn thân vào lửa khói chông gai, đói khổ tù đầy đi làm cách mạng. Song họ khả úy hơn Chu Văn An ở chỗ khi nhận ra những mục tiêu cách mạng bị đánh tráo, họ không chán nản về ở ẩn mà vẫn tiếp tục đấu tranh kiên cường cho dù lại bị giam cầm, đầy đọa. 
Phải chi những người lãnh đạo ĐCSVN ít ra được như vua Trần Dụ Tông, không đủ sáng suốt thực thi “Thất trảm sớ” nhưng trước thái độ khinh khi, mạn thượng tự ý bỏ triều đình ra đi đã không nỡ trừng phạt mà vẫn trân trọng mời Chu Văn An về triều bàn chính sự. 
Hà Nội Ngày Nhà giáo Việt Nam 2016 
Nguyễn Thanh Giang 
Số nhà 5, ngõ 341 đường Trung Văn – Hà Nội 
Mobi: 0984 724 165
Tác giả gửi BVN

Café Luật Khoa: Aung San Suu Kyi – Tình yêu và tranh đấu



Café Luật Khoa: Aung San Suu Kyi – Tình yêu và tranh đấu


Aung San Suu Kyi (Sinh ngày 19 tháng 6 năm 1945) là chính trị gia người Myanmar và lãnh tụ của Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD).
Ngày 8 tháng 11 năm 2015, sau hơn 25 năm tranh đấu cho tự do dân chủ chống lại chính quyền quân sự độc tài của Myanmar, NLD giành thắng lợi áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử quốc gia khi giành được 126 ghế trong quốc hội Myanmar.
Chặng đường giai dẳng đi đến vinh quang của NLD là một chặng đường trải bước trên hoa hồng mà bản thân bà Aung San Suu Kyi cùng những người đồng chí của mình đã phải bước với những bàn chân thấm đau vì những mũi gai.
Trong muôn ngàn sóng gió dưới sự đàn áp kịch liệt của chính quyền quân sự Myanmar, bà Aung San Suu Kyi đã luôn bước hiên ngang đầu ngẩng cao. Ít người nhìn vào tư thế đó của bà mà hiểu được những hy sinh cá nhân to lớn của chính bà và gia đình.
Trước khi trở về Myanmar năm 1988 để chăm sóc người mẹ đang bệnh nặng, bà Aung đã có một cuộc sống gia đình yên ổn với chồng là nhà nghiên cứu Tây Tạng học người Anh ông Michael Aris. Họ có hai đứa con trai và một căn nhà nhỏ tại thành phố Oxford gần trường đại học danh tiếng cùng tên nơi ông Aris giảng dạy.
suu-burma_2080889a
Bà Aung San Suu Kyi cùng chồng và con.
Chuyến trở về Myanmar năm 1988 của bà Aung đã vô tình biến thành chuyến một đi không thể trở lại suốt nhiều năm, sau khi bà Aung chứng kiến sự tàn ác của chính quyền quân sự Myanmar và quyết định tham gia phong trào dân chủ của Myanmar.
Với việc có người cha là ông Aung San – người lãnh đạo nhân dân Myanmar giành độc lập từ thực dân đế quốc, bà Aung có một sức hút và uy tín lớn với người dân Myanmar. Cương quyết phong tỏa bà Aung, chính quyền quân sự tìm mọi cách để ngăn cản tự do di chuyển và tự do giao tiếp của bà.
Giáng Sinh năm 1995, ông Aris mới được gặp lại vợ mình sau bảy năm xa cách. Ngày chia tay, họ không hề biết đó là lần cuối cùng họ còn có thể nhìn thấy mặt nhau.
Đoạn trích sau đây từ quyển sách “Tiểu Sử Aung San Suu Kyi” của nhà báo người Thụy Điển Jesper Bengtsson cho chúng ta biết thêm về những tranh đấu và hy sinh của bà Aung.
Trích đoạn “Tiểu Sử Aung San Suu Kyi”- Jesper Bengtsson 
(Từ bản tiếng Anh năm 2012 của nhà xuất bản Potomac Books dịch từ bản gốc tiếng Thụy Điển):
“…Vào giữa thập niên 90, rõ ràng là đảng NLD có những vấn đề nội bộ của nó. Đầu tiên, đảng này không còn có sức mạnh mà nó đã xây dựng được trong chiến dịch bầu cử năm 1989. Phần lớn các cơ sở của đảng đã bị buộc phải đóng cửa. Việc hàng trăm nhà hoạt động hàng đầu của đảng bị cầm tù, và những hình thức áp bức hạn chế tự do đi lại của Aung San Suu Kyi đã ngăn cản việc tái xây dựng nhanh chóng của NLD.
Thứ hai, các hoạt động bắt giữ, tra tấn và quấy rối của chính quyền quân sự Myanmar đã buộc nhiều đại diện hàng đầu của NLD phải bỏ đảng và quay qua công khai chối từ Aung San Suu Kyi. Người đầu tiên bỏ NLD là Ma Thanegi, một thành viên nữ trong nhóm lãnh đạo của NLD, người từng đi bộ ngay phía sau bà Aung khi quân đội hướng mũi súng vào đoàn người của NLD tại Danubyu trong cuộc bầu cử năm 1989. Ma Thanegi đã phải ngồi tù ba năm và nay bà ta cáo buộc là bà Aung quá giáo điều, cố chấp và không sẵn sàng giải quyết các vấn đề của Myanmar.
Bà Ma viết một bài báo cho tờ Kinh Tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review) mà trong đó bà ta kêu gọi cộng đống thế giới đừng nhìn nhận tình hình ở Myanmar như là một cuộc xung đột giữa thiện và ác, giữa trắng và đen. Luôn luôn có những vùng xám, bà Ma viết, và câu trả lời cho các vấn đề của Myanmar không bao giờ đơn giản.
Trọng tâm của ý kiến phê bình của bà Ma là những cấm vận kinh tế lên Myanmar. Do ảnh hưởng bởi phong trào chống Apartheid tại Nam Phi, Aung San Suu Kyi đã kêu gọi thế giới áp đặt cấm vận kinh tế lên Myanmar. Các cấm vận bà kêu gọi dành cho các lĩnh vực giao thương, thương mại, và du lịch (Trong một đất nước như Myanmar, rất khó để có thể du lịch như một khách du lịch quốc tế mà không phải trả một đồng nào dù là trực tiếp hay gián tiếp cho chế độ quân sự).
Ma Thanegi không nói trắng ra các cáo buộc của bà ta nhưng đọc ẩn ý trong bài viết có thể thấy bà ta muốn dùng vốn và đầu tư kinh tế nước ngoài để giải quyết các vấn đề quốc gia của Myanmar. Bà Ma cáo buộc bà Aung San Suu Kyi đã ngăn cản việc đối thoại với chính quyền độc tài Myanmar. Thay vì chọn việc chủ động bàn thảo với đám tướng tá quân đội, bà Aung chọn việc gây sức ép lên chính quyền độc tài bằng cách yêu cầu các nước trên thế giới ngừng cung cấp cứu trợ và hỗ trợ kinh tế cho Myanmar.
Công kích của bà Ma Thanegi nhận được nhiều sự chú ý và ủng hộ của giới doanh nhân, những người đã tìm được cơ hội tại Myanmar sau khi nước này tiến hành tự do hóa kinh tế, cũng như của giới ngoại giao quốc tế ở thủ đô Rangoon, những người cho là việc áp dụng chính sách cô lập đã là một thứ của quá khứ…
… Những chỉ trích này có đúng không?
Một mặt, câu trả lời là không. Lối phê bình này, vốn đã trở thành là một phần trong các diễn ngôn chính trị từ khi nó được đưa ra, thật sự rất kỳ lạ. Người ta có thể mong đợi một phản ứng nào khác từ một người đã phải bị cầm tù tại nhà nhiều năm và đã phải chứng kiến bao bạn bè và đồng nghiệp của bà bỏ mạng trong các nhà tù quốc gia? 
Hơn nữa, ngay từ khi bà Aung mới bước ra làm lãnh đạo cho phong trào dân chủ, bà đã mong muốn được đối thoại với chính quyền quân sự. Khi được thả sau lần bị bắt tại nhà đầu tiên, bà Aung đã yêu cầu đầu tiên là những cuộc đối thoại chi tiết với chính quyền, bà không hề đòi hỏi sự thoái vị ngay lập tức và vô điều kiện của các vị tướng lãnh. Chính các tướng lãnh đã từ chối đối thoại với bà Aung.
Trong một cuộc phỏng vấn với báo Asia Week năm 1999, bà Aung còn gợi ý khả năng tiếp tục đối thoại với những thành viên cấp thấp hơn trong chính quyền quân sự và kể cả việc các cuộc cuộc đối thoại có thể không nhất thiết phải có sự có mặt của bà Aung. Nhiều lần trong suốt những năm 1990, bà Aung nhấn mạnh là bà không nhất thiết tìm kiếm một chức vụ chính trị chính thức cho bản thân bà. Điều đó thể hiện sự noi gương Mahatma Gandhi của bà Aung.
(NLD)_00000
Một thái độ như thế không thể bị xem là giáo điều hay cứng nhắc, và chỉ trích nói trên chống lại bà Aung phải được xem là một phần đến từ những tuyên truyềncủa chế độ quân sự độc tài, phần khác đến từ sự phẫn chí của nhiều nhóm trong phong trào dân chủ đối với sự bế tắc trong phát triển của cả đất nước và của phong trào.
Myanmar đã chạm đáy, và trong hoàn cảnh đó nhiều người đã hy vọng vào một thứ gì đó, bất kể gì, có thể châm ngòi cho một quá trình thay đổi.
Mặt khác, có lẽ vấn đề của phong trào dân chủ Myanmar chính là sự phụ thuộc của nó vào bà Aung San Suu Kyi, và thật sự không thể vừa phê bình bà Aung mà không cùng lúc tạo ra vẻ ủng hộ chính quyền quân sự. Có thể có một phần sự thật trong cáo buộc là bà Aung có một sự ương bướng rất khó uốn nắn – một điều vừa tốt vừa xấu – và thật sự là sau lần bị bắt giữ tại nhà đầu tiên bà Aung đã có một số tuyên bố có thể bị xem là vừa giáo điều vừa nặng nề.
Ví dụ “Chọn lựa chúng tôi hay chọn lựa sự hủy diệt”, đây là lời bà Aung tại một buổi họp báo vài tuần trước khi bà được thả. Nhiều năm sau, trong một bữa ăn tối tại bang Shan, bà Aung tiết lộ với một người bạn thân rằng nếu bà Aung có bất kỳ tiếc nuối gì về những năm 90 thì đó chính là lời nói này. Thực ra chính U Tin Oo mới là người dùng lời này của bà Aung để diễn tả sự quan trọng của phong trào dân chủ với tương lai Myanmar, và bà U lập đi lập lại lời này như một cách để tôn vinh người đồng chí lão làng của bà ta.
Tuy nhiên, lời nói đó quá là mang tính hùng biện, bà Aung thú nhận, và nó đã bị lợi dụng hết lần này đến lần khác bởi chính quyền quân sự để đóng khung bà Aung thành một người sẵn sàng hy sinh sự phát triển kinh tế của Myanmar vì sự nghiệp chính trị cùa bà ta.
Hình ảnh bà Aung San Suu Kyi vì thế, nói theo cách khác, không hoàn mỹ như một người có thể thấy lần đầu tiên. Bà Aung đã thể hiện là bà ta sẵn sàng thương lượng nếu và chỉ nếu như việc thương lượng dẫn đến sự cởi mở và dân chủ, và bà luôn đòi hỏi một số thứ cơ bản từ đối phương. Chính quyền quân sự được yêu cầu phải thả tất cả các tù nhân chính trị, cho phép đảng NLD hoạt động, và cho phép bà Aung tự do di chuyển.
Khi những yêu cầu này – hoàn toàn hợp lý – không được thỏa mãn, bà Aung có thể trở nến cứng đầu đúng như cáo buộc của những nhà phê bình.
Chính quyền quân sự Myanmar phải đối mặt với sự cứng đầu đó vào mùa hè năm 1998. Hơn hai năm liên tiếp họ từ chối bất kỳ đối thoại có ý nghĩa nào với bà Aung và ngăn không cho bà rời thủ đô Rangoon. Bà Aung đã làm tất cả những gì có thể để khôi phục hoạt động của NLD tại thủ đô, nhưng bà liên tục bị quấy rối khi làm công việc này.
Ngày 27 tháng 5, các thành viên NLD tập hợp tại một buổi đại hội được tuyên bố chóng vánh. Tại đây, họ ra yêu sách yêu cầu chính quyền quân sự phải tập hợp lại quốc hội đã được bầu năm 1990, muộn nhất là vào tháng 8 năm 1998. Như thường lệ, chính quyền quân sự đáp trả bằng việc bắt giữ vài tá những người đã được bầu vào quốc hội năm 1990, nhằm răn đe làm gương.
Trong tình hình đó, bà Aung San Suu Kyi quyết định thử thách những giới hạn lên tự do di chuyển của bà. Hai lần trong mùa hè năm 1998, bà Aung tìm cách rời Rangoon bằng xe hơi. Cả hai lần bà đều bị cảnh sát chặn lại. Ngày 22 tháng 7, bà thử lần thứ ba. Bà đi xe với một trợ lý và hai tài xế. Họ lái về hướng tây đến phía thành phố Bassein thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Irrawaddy.
Sau khoảng hai mươi dặm, họ bị cảnh sát vũ trang Myanmar chặn lại. Bà Aung từ chối đi ngược trở lại thủ đô, và trong suốt sáu ngày, cả nhóm bà Aung ngủ trong xe hơi dưới sự quan sát của cảnh sát và truyền thông quốc tế. Nhóm bà Aung không có thức ăn và chỉ có một lượng nước ít ỏi. Cảnh sát bảo đảm không ai có thể mang tiếp tế đến cho nhóm bà Aung.
Sau một khoảng thời gian, các sỹ quan cảnh sát quyết định rằng đã quá đủ. Họ phá khóa mở cửa xe hơi và lôi những người tài xế ra. Bà Aung đang nằm ngủ trên một ghế phía sau đã bị đẩy ép một cách bạo lực vào ghế xe hơi. Chiếc xe được lái đưa về lại nhà bà Aung.
Bà Aung đã nổi giận đùng đùng. “Họ bắt cóc tôi. Họ cướp xe tôi,” bà nói thông qua một phát ngôn viên, và bà hứa là sẽ tìm cách rời thủ đô ngay khi bà hồi phục…
…Mùa thu năm 1998, đảng NLD tổ chức một ủy ban để đại diện cho quốc hội đã được dân bầu năm 1990. Chính quyền quân sự lại đáp trả bằng cách tăng cường đàn áp. Hơn một ngàn nhà hoạt động của NLD bị cầm tù hoặc buộc bỏ đảng NLD. Một loạt những đại biểu quốc hội danh tiếng được dân bầu bị bắt và ép vào ở trong những nơi gọi là “nhà khách”. Chính quyền quân sự giải thích là họ phải ở những nơi đó cho đến khi họ hoàn thành việc “giáo dục cải tạo”.
Nếu đã có bất kỳ sự tin tưởng nào giữa Khin Nyunt, người đứng đầu chính quyền quân sự, và bà Aung San Su Kyi từ năm 1994 thì sự tin tưởng đó đã hoàn toàn bị hủy diệt. Tháng 1 năm 1999, NLD đâm đơn kiện vị quan chức đầy quyền lực của lực lượng an ninh cảnh sát với cáo buộc cảnh sat đã phá hoại, cả công khai và ngấm ngầm, một đảng chính trị có mọi quyền hoạt động thể theo luật pháp Myanmar.
Ngay lúc đó, khi tình hình tại Myanmar đang đi đến cao trào, một sự kiện diễn ra tại thành phố Oxford làm thay đổi mọi thứ: ông Michael Aris nhận được thông báo là ông bị ung thư…
…Ông Aris nhận được kết quả xét nghiệm cho thấy ung thư đã lan đến phổi và cột sống của ông. Ông hiểu rằng ông không còn nhiều thời gian nữa và lập tức xin thị thực đến Myanmar. Ông muốn gặp vợ lần cuối. Tuy nhiên đơn xin thị thực của ông bị từ chối ngay cả trong hoàn cảnh lúc đó.
Chính quyền quân sự giải thích là hệ thống y tế Myanmar không có khả năm chăm sóc cho ông Aris và họ đề xuất là bà Aung San Suu Kyi “người đang khỏe mạnh có thể tự do bay sang Anh quốc để gặp người chồng gần đất xa trời đang rất mong được gặp bà.” Đó đã là một quyết định vô cùng khó khăn cho cả bà Aung và ông Aris, nhưng sau khi nói chuyện nhiều lần trên điện thoại họ cùng đồng ý là bà Aung phải ở lại Myanmar.
Chính quyền quân sự không muốn gì hơn ngoài việc loại trừ bà Aung. Nếu bà rời Myanmar, các tướng lãnh sẽ tìm cách ngăn cho bà không quay trở lại, và những tranh đấu suốt những năm qua sẽ phí hoài.
Suốt mùa đông và mùa xuân năm 1999, khi ông Aris nằm bệnh viện, bà Aung nói chuyện với ông qua điện thoại mỗi đêm. Chính quyền quân sự vẫn không cho bà Aung có điện thoại tại nhà, thế nên bà phải tới tư gia một nhà ngoại giao quốc tế ở Myanmar để nhận điện thoại từ chồng. Họ nói chuyện mỗi đêm được một thời gian đến khi chính quyền quân sự phát hiện việc này. Và một đêm nọ, đường dây điện thoại phụt tắt sau khi hai người vừa nói chào nhau. Nhà ngoại giao kể lại rằng đó là lần đầu tiên ông thấy bà Aung khóc
… Một phong trào vận động quốc tế được triển khai để thuyết phục các tướng lãnh thay đổi quyết định của họ. Bill Clinton, Kofi Annan và cả giáo hoàng John Paul II thỉnh cầu chính quyền quân sự cho phép ông Michael Aris được đến Myanmar. Nhưng chẳng có gì thay đổi. Ông Aris qua đời vào ngày sinh nhật của ông: 27 tháng 3 năm 1999.
Họ rất giống nhau”, bà Debbie Stothard nói. Bà đã quen biết ông Michael Aris từ khi bà còn làm việc cho bà Aung San Suu Kyi. Debbie đến Châu Âu trong một chuyến thăm năm 1998 và Michael đã mời bà ghé qua Oxford.
Thật là thú vị khi được nhìn thấy căn nhà số 15 phố Park Town,” Debbie nói. “Micheal đã trang trí nó như là một sự kính trọng dành cho Suu Kyi. Chân dung của cô ấy treo khắp nơi cùng với huy chương và hình chụp các giải thưởng mà Suu Kyi được nhận suốt nhiều năm qua.” Sau khi họ nói chuyện vài tiếng đồng hồ, Michael cương quyết muốn lái xe đưa Debbie ra nhà ga để đảm bảo là Debbie đi đến nơi về đến chốn.
Michael luôn như vậy,” Debbie vừa nói vừa cười. “Tôi đã đi khắp thế giới và có thể tự mình đến nhà ga không vấn đề gì. Nhưng anh ấy cũng có một lòng thương người như Suu Kyi. Cô ấy luôn quan tâm đến đồng nghiệp. Lo lắng cho gia đình họ, đảm bảo họ ăn uống đầy đủ và pha trà cho họ mỗi khi đến giờ giải lao. Micheal cũng làm những điều tương tự. Họ như thể một cặp sinh đôi.”
Trên đường ra nhà ga, Micheal và Debbie đi ngang qua trung tâm thành phố Oxford và Michael chỉ ra những nơi Suu Kyi thường hay đến. “Đó là chỗ Suu của tôi hay đến khi bọn trẻ còn nhỏ,” ông nói khi lái xe ngang một công viên. Hoặc “đó là nơi Suu của tôi từng làm việc”, khi họ lái qua Thư viện Bodleian.
Cứ như thể Michael đã cắt riêng ra những phần cuộc đời chỉ có riêng ông và Suu Kyi, tương phản với cuộc sống như những người của công chúng mà ông bà đã có suốt những năm qua. Một bản đồ của những kỷ niệm chung.
Có lẽ nhà báo Ann Pasternak Slater đã nhận ra được điều gì đấy trong mối quan hệ giữa Michael và Suu Kyi trong bài tiểu luận của bà về Suu Kyi. Cuối bài, Slater trích dẫn những câu thơ của nhà thơ W. B. Yeats: “Bao kẻ yêu những phút giây em đẹp nhất, / Và yêu em với tình yêu giả thật khôn lường. / Riêng chỉ một người yêu tâm hồn kẻ hành hương trong em.”…”
Tìm đọc thêm:

Đọc thêm: