Thứ Ba, 2 tháng 5, 2023

Trao đổi với “Lính già Việt Nam Cộng hòa” Chu Tất Tiến (Kỳ cuối)

 

Trao đổi với “Lính già Việt Nam Cộng hòa” Chu Tất Tiến (Kỳ cuối)

Cù Huy Hà Vũ

30-4-2023

Tiếp theo kỳ 1

Ảnh: Cù Huy Hà Vũ, Chu Tất Tiến và những người bạn. Nguồn: Tác giả gửi tới TD

Chu Tất Tiến viết: “Thực tế, Hiệp Định Geneva 1954 là một sự thất bại chính trị nặng nề cho quốc tế, vì Miền Bắc không tôn trọng hiệp định này, trừ việc chấp nhận vĩ tuyến 17 và khu phi quân sự. Lý do thứ hai: Hiệp ước này đã được soạn thảo quá nhanh, chưa đầy hai tháng sau trận Điện Biên Phủ và chưa được mọi bên đồng thuận. Miền Bắc, do Hồ Chí Minh lãnh đạo, mới đầu cũng ngần ngừ không ký vì không tin là có tổng tuyển cử sau 2 năm, nhưng sau vì áp lực của Bắc Kinh và điện Kremlin, đại diện Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký vào biên bản. Ngay sau đó, Việt Minh đã chuẩn bị kế hoạch xâm lăng miền Nam bằng cách gài lại một số điệp viên, làm căn cước giả, hoặc tình nguyện vào các trường Quân Sự, hoặc làm việc với chính quyền miền Nam, “chui sâu, trèo cao”, có kẻ làm tới Phụ Tá của Tổng Thống! (Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ, Nguyễn Thành Trung…) Một số lợi dụng hệ thống chùa chiền lỏng lẻo, cạo đầu làm sư, biến chùa làm cứ điểm ém quân. Tinh vi hơn nữa, là tại một số làng xã xa xôi, trước khi di chuyển ra Bắc, du kích buộc các cô thôn nữ phải lấy du kích, ngay cả thương bệnh binh, cố tình gieo thai cho những cô thôn nữ này, để một mai quay lại, thì đã có sẵn vợ và con làm gián điệp. Đây là sự kiện chứng tỏ Cộng Sản Việt Nam, theo lệnh của Cộng Sản Bắc Kinh, đã chính thức phản bội hiệp định Geneva, nhằm thực hiện mưu đồ của Cộng Sản Quốc Tế là nhuộm đỏ toàn bộ Đông Nam Á Châu, dần tiến chỗ Quốc Tế Đại Đồng, tức là nhuộm đỏ cả Thế Giới.”

– Đảng cộng sản Việt Nam không hề giấu giếm rằng một trong những mục tiêu hàng đầu của Đảng là thống nhất đất nước bằng mọi giá. Do đó, Hiệp định Geneva 1954 mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp chỉ là bước đầu tiên trên con đường thống nhất hai miền Nam – Bắc. Việc Quân đội nhân dân Việt Nam và các tổ chức đảng cộng sản chôn dấu vũ khí, cài người ở lại miền Nam trước khi tập kết ra miền Bắc theo Hiệp đinh cho thấy họ đã tính tới khả năng Mỹ và chính quyền miền Nam do Mỹ gây dựng sẽ không tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vào sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956 như Hiệp định quy định (mà Chu Tất Tiến có nhắc tới) và như vậy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các lực lượng cộng sản ở miền Nam phải tiến hành chiến tranh để thống nhất đất nước. Trên thực tế, dưới sự chỉ huy của Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm đã không thực hiện tổng tuyển cử để thống nhất đất nước đồng thời thực hiện chiến dịch “Tố cộng – Diệt cộng”. Wikipedia cung cấp nhiều nguồn tin về chiến dịch này. Trong khoảng thời gian 1955-1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà, đã có 48.250 người bị tống giam. Theo 1 nguồn khác từ Mỹ, đã có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung.[22] Năm 2015, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng phát biểu rằng “Trong những năm 1954 – 1959, ở miền Nam đã có 466.000 đảng viên và những người yêu nước bị bắt giam, 400.000 người bị đưa đi đày và 68.000 người bị giết. Như vậy, việc Việt Nam Cộng hòa vi phạm Hiệp định Geneva 1954 đã dẫn đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các lực lượng cộng sản ở miền Nam vi phạm Hiệp định bằng tiến hành chiến tranh ở miền Nam để thống nhất đất nươc.

– Chu Tất Tiến nói “Cộng Sản Việt Nam, theo lệnh của Cộng Sản Bắc Kinh, đã chính thức phản bội hiệp định Geneva” là hoàn toàn sai sự thật. Ngược lại là đằng khác. Chính Trung Quốc không muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất đất nước vì một Việt Nam thống nhất sẽ tiệt tiêu tham vọng bành trướng lãnh thổ về phía Nam của họ. Đã có nhiều tài liệu cho thấy điều này mà mới nhất là “Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?” đăng trên RFA ngày 26/4/2023. Theo tài liệu này, Trung Quốc đã cho người đến gặp ông Nguyễn Xuân Phong, nguyên Phó trưởng phái đoàn Việt Nam Cộng hòa tại Paris và đưa ra một kế hoạch can thiệp quân sự của Trung Quốc nhằm ngăn chặn Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước. Cụ thể là Trung Quốc sẽ thả dù hai sư đoàn dù này xuống Biên Hòa trong khuôn khổ một “lực lượng quốc tế” sẽ được thành lập nếu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh yêu cầu quốc tế giúp đỡ

Chu Tất Tiến viết: “Về vấn đề hai quốc gia hay một quốc gia, thực tế cho thấy Việt Nam, được quốc tế gọi là “The State of Vietnam” hoặc “L’Etat du Vietnam”, dịch là Quốc Gia Việt Nam, là dòng chính của Lịch Sử, truyền từ đời Vua Hùng qua các thời đại đến Nhà Nguyễn, và Quốc Trưởng Bảo Đại là hậu duệ chính thức của Triều Nguyễn. Chính Quốc Trưởng Bảo Đại đã mời Ngô Đình Diệm, nguyên Thượng Thư Bộ Lại làm Thủ Tướng. Những yếu tố lịch sử này chứng minh Việt Nam là một Quốc Gia chính thức và hợp pháp. Sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã trở thành Tổng Thống, ông đã đổi tên nước là “Việt Nam Cộng Hòa”, được quốc tế chính thức công nhận là “The Republic of Vietnam”, một quốc gia có quan hệ ngoại giao cấp Đại Sứ với 101 quốc gia, và cấp Lãnh sự với 4 quốc gia khác. Năm 1957, Hoa Kỳ bảo trợ Viêt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc được Đại Hội Đồng bỏ phiếu, 40 thuận và 8 chống, trong đó có Liên Sô, Trung Cộng. Cuối cùng, Liên Sô dùng quyền lực phủ quyết (Veto) không cho quốc gia Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc với tư cách là thành viên chính thức, vì thế, cho tới 1975, Việt Nam Cộng Hòa vẫn chỉ là tham dự viên.”

– “Truyền” là “trao lại”, tức có sự kế thừa tự nguyện. Ở Việt Nam, không kể thời các Vua Hùng, đã có 10 triều đại phong kiến (vua đứng đầu quốc gia) là: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Tây Sơn và Nguyễn. Như vậy, các triều đại phong kiến kế tiếp nhau thông qua đảo chính hay lật đổ dưới hình thức này hay hình thức khác. Bản thân triều đại Nguyễn đã kết thúc vào ngày 30/8/1945 khi Hoàng đế Bảo Đại – Nguyễn Phúc Vính Thụy đọc tuyên bố thoái vị và trao lại ấn và kiếm vàng tượng trưng quyền lực của Nhà Nguyễn cho đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bộ trưởng Trần Huy Liệu và Bộ trưởng Cù Huy Cận (Bảo Đại có kể chuyện này trong hồi ký “Con Rồng Việt Nam” (Le Dragon d’Annam) của ông). Do đó, Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm quốc trưởng không phải là chính quyền được Nhà Nguyễn truyền lại, càng không phải chính quyền được các Vua Hùng truyền lại. Trên thực tế, Quốc gia Việt Nam là do Pháp dựng lên năm 1949 nhằm giúp Pháp chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi Pháp tái xâm lược Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Bản thân Việt Nam Cộng hòa ra đời trên cơ sở giải thể Quốc gia Việt Nam thông qua một cuộc “trưng cầu dân ý” do Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tổ chức, đồng nghĩa Việt Nam Cộng hòa không phải là chính quyền kế thừa Quốc gia Việt Nam vì không có sự chuyển giao tự nguyện chức vụ quốc trưởng Quốc gia Việt Nam từ Bảo Đại sang Ngô Đình Diệm. Như vậy, Chu Tất Tiến nói Việt Nam Cộng hòa là “truyền nhân” theo nghĩa chính thể thừa kế từ các Vua Hùng truyền lại là sai hoàn toàn so với lịch sử. Cũng như vậy, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là chính quyền được Nhà Nguyễn truyền cho, càng không phải chính quyền được các Vua Hùng truyền cho. Chỉ có Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “truyền nhân” của hai chính thể trước đó là Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam khi hai chính thể này cùng trao lại quyền lực cho nó vào ngày 2/7/1976.

– Theo Wikipedia, Việt Nam Cộng hòa được sự công nhận của 77 quốc gia, không phải 101 quốc gia như Chu Tất Tiến nói. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được sự công nhận của khoảng 20 quốc gia. Tuy nhiên, để trở thành “quốc gia” theo đúng nghĩa thì chính quyền phải thực hiện được quyền lực của mình đối với toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Với lý do này, Việt Nam Cộng hòa và ngay cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến trước ngày 30/4/1975 cho dù được sự công nhận của một số quốc gia khác không phải là “quốc gia” vì không thực hiện được chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ quốc gia gồm cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Chỉ sau khi thống nhất đất nước, đặt  toàn bộ lãnh thổ Việt Nam dưới sự kiểm soát của mình thì Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và tiếp đó Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới trở thành “quốc gia” theo đúng nghĩa. Việc Liên Hợp Quốc kết nạp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm thành viên vào ngày 20/9/1977 là sự xác nhận chính thức quy chế “quốc gia” của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chu Tất Tiến viết: “Trở lại việc xâm lăng hay nội chiến: Sự kiện chính quyền nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho hàng chục Sư đoàn kéo theo đại pháo, xe tăng, đi dọc đường mòn Trường Sơn, (mà sau này là Đường Mòn Hồ Chí Minh) tiến vào miền Nam thuộc Việt Nam Cộng Hòa, thì đã là khởi đầu một cuộc xâm lăng không tuyên bố, không khác gì Pháp xâm lăng Viêt Nam lần thứ hai dựa vào Hiệp Ước Fontainebleau do chính Hồ Chí Minh ký với Pháp. Đến năm 1975, khi từng đoàn xe tăng mang cờ đỏ sao vàng băng qua cầu Hiền Lương, vượt qua khu Phi Quân Sự của miền Nam, tấn công các thành phố miền Nam, thì là cuộc Xâm Lăng chính thức của thế kỷ 21, cũng không khác gì cuộc xâm lăng mà Nga chủ động tấn công Ukraine hiện tại, nghĩa là cực kỳ vô lý, vô chính nghĩa, và vô luật pháp.”

– Như trên đã nói, vĩ tuyến 17 theo Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva 1954 không phải là biên giới giữa hai quốc gia. Còn nếu Chu Tất Tiến phủ nhận hai văn kiện quốc tế này để tự ý chia Việt Nam thành hai quốc gia, Việt Nam Cộng hòa nằm phía Nam vĩ tuyến 17, thì Chu Tất Tiến giải thích thế nào Lời mở đầu Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956 ghi câu “Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”? Không lẽ Ải Nam quan nằm dưới vĩ tuyến 17!? Còn nếu Chu Tất Tiến thừa nhận Ải Nam Quan giáp giới với Trung Quốc là cực Bắc của Việt Nam Cộng hòa thì rõ ràng không có chuyện Việt Nam bị chia thành hai quốc gia, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cộng sản và Việt Nam Cộng hòa chống cộng, ở vĩ tuyến 17. Do đó, chiến tranh giữa Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyệt nhiên không phải là một cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia, mà là một cuộc chiến tranh giữa những người có chung một quốc gia là Việt Nam, còn gọi là “nội chiến” (civil war). Nói cách khác, không có chuyện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – miền Bắc “xâm lược” Việt Nam Cộng hòa – miền Nam vì thuật ngữ “xâm lược” chỉ áp dụng trong trường hợp quốc gia này tấn công quân sự quốc gia khác mà thôi!

Bên cạnh Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954, cùng ngày 21/7/1954, Chính phủ Mỹ còn ra một tuyên bố riêng, nhấn mạnh: “Chúng tôi chia sẻ hy vọng rằng các hiệp định sẽ cho phép Campuchia, Lào và Việt Nam đóng vai trò của mình với tư cách các quốc gia hoàn toàn độc lập, có đầy đủ chủ quyền, trong cộng đồng các quốc gia hòa bình, và sẽ cho phép người dân trong khu vực này quyết định định tương lai của chính mình.” Cùng trong Tuyên bố này, Chính phủ Mỹ khẳng định “Việt Nam là một quốc gia không thể bị chia cắt” khi tuyên bố: “Liên quan đến phát biểu trong tuyên bố liên quan đến bầu cử tự do ở Việt-Nam, Chính phủ Mỹ muốn làm rõ quan điểm của mình đã thể hiện trong tuyên bố tại Washington ngày 29 tháng 6 năm 1954, như sau: Trong trường hợp các quốc gia hiện bị chia cắt trái với ý muốn của họ, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm cách đạt được sự thống nhất thông qua các cuộc bầu cử tự do có sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để đảm bảo rằng các cuộc bầu cử được tiến hành một cách công bằng.”

Điều 1 Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng nhắc lại lập trường “Việt Nam là một quốc gia không thể bị chia cắt” của Mỹ và các nước khác khi quy định: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đã công nhận.”

Tóm lại, cả Hội nghị Genève 1954 lẫn Hội nghị Paris 1973 về Việt Nam nói chung, Chính phủ Mỹ nói riêng, đều khẳng định “Việt Nam là một quốc gia không thể bị chia cắt”. Từ đó toát lên một sự thật lịch sử là chiến tranh giữa Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một cuộc nội chiến (civil war) vì đây là một cuộc chiến tranh giữa những người có chung một quốc gia Việt Nam, Do đó, việc Chu Tất Tiến và những ai khác nói rằng từ năm 1954 đến 1975 ở Việt Nam có hai quốc gia có biên giới là vĩ tuyến 17 để từ đó nói Việt Nam Dân chủ Cộng đã “xâm lược” Việt Nam Cộng hòa rõ ràng là sai sự thật lịch sử.

Chu Tất Tiến viết: “Sau năm 1975, một số vị trí thức miền Nam cũ đã kêu gọi quốc tế mở lại Hiệp Định Geneva. Những vị này không hiểu tình thế, vì như đã nói trên, Việt Nam Cộng Hòa không ký tên vào hiệp định này! Đến gần đây, môt số dư luận cho rằng cuộc chiến 1954-1975 là cuộc nội chiến và không bên nào xâm lăng bên nào. Mong những vị đó nhìn vào thực tại của bán đảo Triều Tiên, hiện nay vẫn là 2 quốc gia đối nghịch nhau, hoặc nhìn vào Đài Loan và Trung cộng, để thấy cũng là hai quốc gia riêng biệt, dù cùng mầu da và tiếng nói, cho đến sang thế kỷ kế tiếp, không biết đã sát nhập nhau chưa.”

– HIệp định Geneva 1954 được ký ngày 21/7/1954 giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp. Đến tháng 10/1955, Việt Nam Cộng hòa mới ra đời thì lấy đâu ra Việt Nam Cộng hòa “không ký tên vào hiệp định này”!

– Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) và Hàn Quốc (Nam Triều Tiên) chỉ trở thành hai quốc gia độc lập từ khi gia nhập Liên Hợp Quốc vào tháng 9/1991. Do đó, chiến tranh Triều Tiên 1951-1953 giữa hai bên là chiến tranh giữa hai miền của cùng một quốc gia Triều Tiên và vì vậy là nội chiến.

– Đài Loan không phải là thành viên Liên Hợp Quốc. Năm 1979, Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và thừa nhận chính phủ nước này là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Do đó, Đài Loan không phải là một quốc gia độc lập.

Kết luận lại, sự thật lịch sử không thể là hệ quả của một sự áp đặt, nhất là sự áp đặt đó đến từ những người thắng trận, mà phải được xác định thông qua các cuộc tranh luận nghiêm túc và khoa học với các bằng chứng khả tín chứ không bằng cảm tính. Cũng cần nói ngay rằng các cuộc tranh luận nghiêm túc loại trừ mọi từ ngữ dung tục, tục tĩu, mang tính mạt sát, phỉ báng. Trên tinh thần này, tôi rất mong nhận được phản hồi từ “Lính già Việt Nam Cộng hòa” Chu Tất Tiến và những người khác, nhất là quý vị từng là quân, cán, chính Việt Nam Cộng hòa, hầu dựng lại một cách chính xác nhất có thể các cuộc nội chiến ở Việt Nam trong thế kỷ 20 nói chung, nội chiến trong Chiến tranh Việt Nam nói riêng.

Tôi cũng mong muốn và hy vọng rằng thông qua các cuộc tranh luận như thế này các bên trong cuộc chiến sẽ hiểu nhau hơn. Điều này là vô cùng cần thiết để xóa mọi hận thù, hướng tới đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam thành một khối nhằm xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ, Hùng mạnh và Thịnh vượng. Bởi chỉ có vậy Việt Nam ta mới đủ sức đánh bại mọi cuộc xâm lăng đến từ Trung Quốc bành trướng cũng như hóa giải mọi thách thức khác của thời đại!

Kỷ niệm 48 năm Ngày Thống nhất Đất nước (30/4/1975 – 30/4/2023)

Garden Grove, California, Hoa Kỳ, 29/4/2023

_______

Tác giả:Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ là một luật gia, học giả và nhà bất đồng chính kiến, cựu tù nhân chính trị Việt Nam, từng là cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam trong 30 năm. Hiện ông sống tại California, Hoa Kỳ.

Lưu ý của Tiếng Dân: Trong bài tranh luận này, một số nơi tác giả Cù Huy Hà Vũ sử dụng Wikipedia làm làm cơ sở để kiểm chứng thông tin. Tuy nhiên, Wikipedia không phải là nguồn tin đáng tin cậy. Chính Wikipedia có bài “Wikipedia is not a reliable source” (Wikipedia không phải là nguồn đáng tin cậy), vì nó có thể được bất kỳ ai đó chỉnh sửa vào bất cứ lúc nào, nhất là những thông tin về lịch sử, đôi khi được những người của “bên thắng cuộc” vào chỉnh sửa theo chủ ý của họ… Cho nên trang Wikipedia cảnh báo: Không nên coi Wikipedia là nguồn tham khảo dùng trong bài viết.

Trao đổi với “Lính già Việt Nam Cộng hòa” Chu Tất Tiến (Kỳ 1)

 

Trao đổi với “Lính già Việt Nam Cộng hòa” Chu Tất Tiến (Kỳ 1)

Cù Huy Hà Vũ

30-4-2023

Tôi và Chu Tất Tiến, tác giả của nhiều bài viết dưới bút danh “Lính già Chu Tất Tiến”, là những “người quen” theo đúng nghĩa đen của từ này. Để cho rõ ràng hơn, sau đây tôi sẽ gọi anh là “Lính già Việt Nam Cộng hòa” Chu Tất Tiến.

Ảnh: Chu Tất Tiến đến thăm và tặng sách Cù Huy Hà Vũ tại nhà ở Garden Grove, ngày 6/2/2023. Nguồn: Tác giả gửi cho TD

Trước khi tôi bị chính quyền Việt Nam bắt giam vào ngày 5 tháng 11 năm 2010 rồi sau đó kết án 7 năm tù và 3 năm quản chế về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Chu Tất Tiến đã phỏng vấn tôi nhiều cuộc về hiện tình Việt Nam. Cuối năm ngoái, ông đã đến thăm tôi và vợ tôi, Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, tại nhà chúng tôi tại Quận Cam (Orange County), Hoa Kỳ.

Quận Cam được mệnh danh “Little Sài Gòn, thủ đô của những người tỵ nạn cộng sản Việt Nam” bởi nơi đây người Việt trên đất Mỹ mà tuyệt đại đa số có liên hệ đến Việt Nam Cộng hòa sống đông đảo nhất. Đông đảo đến nỗi ra đường ở các thành phố Garden Grove, Westminster… chỉ nghe rặt tiếng Việt, thi thoảng mới thấy một người Mỹ bản địa, dù trắng dù đen. Vì lý do này mà có người Việt sống tại đây nói: “Đêm nằm mơ đi Mỹ”! Còn vợ chồng tôi thì bảo nhau: Đây không chỉ là “Little Sài Gòn” mà thực sự là “Little Việt Nam”.

Chu Tất Tiến là con người bộc trực. Anh kể: “Khi tôi đang học ở một trường quân sự ở Mỹ thì xảy ra vụ lính Mỹ thảm sát 500 người dân ở Mỹ Lai. Tôi lập tức nổi sùng, lớn tiếng lên án tội ác này của lính Mỹ. Thế là tôi bị nhà trường liệt vào đối tượng ‘anti – American’.” Rồi Chu Tất Tiến lấy ra một quyển sách nhan đề “The undaunted voices for human rights in Vietnam” (Những tiếng nói kiên cường cho nhân quyền tại Việt Nam) và ký tặng tôi. Anh nói: “Cuốn sách này tập hợp những bài tôi phỏng vấn các nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, trong đó có bài tôi phỏng vấn anh nhân ngày 30 tháng 4, đặc biệt sau khi anh gửi Quốc hội Việt Nam “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc” vào ngày 30/8/2010”.

Tôi nói với Chu Tất Tiến rằng Tòa án Việt Nam đã lấy Kiến nghị này làm một trong những bằng chứng để kết án tôi 7 năm tù và 3 năm quản chế về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Bản án ghi rõ: “Bài: ‘Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam cộng hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc’. Vũ trả lời phỏng vấn đài RFA ngày 31/8/2010, đồng thời gửi lên trang “Bauxite Vietnam”. Vũ bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phê phán Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gây chia rẽ, thù hằn dân tộc bằng lời lẽ: “ …Tiếc thay cho ban lãnh đạo nhà nước Việt nam thống nhất đã không làm được như thế mà ngược lại – phải nói thật – còn sát muối vào vết thương chiến tranh chưa kịp lên da bằng việc tập trung cải tạo trong hàng năm trời cả trăm nhìn quân nhân viên chức VNCH, ….đẩy không ít người Việt thuộc chính quyền cũ vào vòng xoáy thù hận, dẫn đến một số quay ra chống chính quyền mới để rồi bị kết tội xâm phạm An ninh quốc gia”.

Chu Tất Tiến còn là một con người tài hoa và có quan hệ rộng rãi. Anh dạy võ, viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc và hát khá hay. Vợ chồng tôi đã được anh đôi lần mời đến dự những buổi biểu diễn văn nghệ do anh cầm chịch, với sự tham gia của hai con trai anh với tư cách nhạc công. Mới đây, anh còn giới thiệu tôi gặp một số người bạn của anh là cựu quan chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, xuất thân Trường Quốc gia Hành chính để mạn đàm thời cuộc…

Những ngày cuối tháng Tư này, như mọi năm, những người Việt gốc gác Việt Nam Cộng hòa rầm rộ kỷ niệm “Ngày quốc hận 30-4” vì cho rằng ngày đó Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã cưỡng chiếm Việt Nam Cộng hòa dẫn đến họ “mất nước”. Chu Tất Tiến về phần mình viết bài “Hiệp định Geneva 1954 và hai quốc gia Việt Nam” và gửi cho các diễn đàn trên mạng vào ngày 26/4 vừa qua.

Đây là một bài viết công phu nhưng đáng tiếc là nhiều thông tin và nhận định trong bài của anh rất sai sự thật. Tôi, với tư cách “phản biện chuyên nghiệp”, sẽ chứng minh điều này như sau đây (các phản biện của tôi được đặt dưới các câu, đoạn trích từ bài viết của Chu Tất Tiến).

Chu Tất Tiến viết: “Sau khi Pháp thua trận ở Đông Nam Á, quân đội Nhật tiến vào Việt Nam giải giới Pháp, Pháp bỏ chạy. Năm 1945, Nhật thua trận, Pháp trở lại Việt Nam. Chính trong giai đoạn này, ngày 14 tháng 6, năm 1946, tại Hội Nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh, đại diện cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký thỏa ước mời Pháp trở lại Việt Nam”.

– Trên thực tế, chỉ ba tuần sau khi Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố Việt Nam độc lập vào ngày 2/9/1945, đêm 23/9/1945, thực dân Pháp được sự giúp đỡ trực tiếp của quân Anh đã nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Tiếp đó, ngày 28/2/1946 Pháp đã ký với Trung hoa dân quốc một hiệp ước cho phép Pháp hay thế quân đội Trung hoa dân quốc giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam và thiết lập quyền kiểm soát của Pháp tại đây cũng như tại Lào và Campuchia. Đổi lại, vẫn theo hiệp ước này, Pháp nhượng lại cho Trung hoa dân quốc một số quyền lợi về kinh tế. Do đó, việc Pháp tiến quân ra miền Bắc chỉ còn là vấn đề thời gian. Để tạo sự hòa hoãn nhằm củng cố năng lực kháng chiến của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp là Jean Sainteny một hiệp định sơ bộ. Theo thỏa thuân này, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp và Chính phủ Việt Nam đồng ý để 15.000 quân Pháp vào Việt Nam thay Trung hoa dân quốc để giải giáp quân Nhật, đạo quân này sẽ phải rút khỏi Việt Nam sau 5 năm. Như vậy, Hội nghị giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp tại lâu đài Fontainebleau ở Pháp từ ngày 6/7 đến ngày 10/9/1946 diễn ra sau khi quân Pháp đã vào Việt Nam. Mặt khác, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn mà không có sự tham dự của Hồ Chí Minh. Có thể kiểm chứng tại Wikipedia.

Chu Tất Tiến viết: “Chính Tướng Vy Quốc Thanh, nhận lệnh của Bắc Kinh, chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ, và ra lệnh cho Võ Nguyên Giáp thi hành, bất chấp sẽ phải hy sinh hàng vạn dân quân miền Bắc. (Võ Nguyên Giáp, sau này trả lời phỏng vấn của một phóng viên Pháp, đã nói: “dù có phải hy sinh cả trăm ngàn quân, mà dành được chiến thắng, chúng tôi cũng sẵn sàng hy sinh.”) Vì “chiến thuật Biển Người”, thí quân như thế, mà tổn thất cả hai bên rất cao, mỗi bên chết và bị thương vài chục ngàn người, chưa kể những người dân trong các vùng chung quanh bị buộc phải gánh đạn, vận chuyển lương thực cho bộ đội, đã chết vì bệnh, vì kiệt sức nhiều đến nỗi không thể đếm được. Vì thế, mà Pháp phải đầu hàng.”

– Không có tài liệu nào, kể cả của Trung Quốc, cho thấy “Tướng Vy Quốc Thanh chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ và ra lệnh cho Võ Nguyên Giáp”. Ngược lại, Hồi ức của Trương Đức Duy, cựu Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam; Văn Trang, nguyên cán bộ Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt nam và Vương Đức Luân, nguyên cán bộ Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam công bố nhân dịp 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2004) đăng trên Báo điện tử “Hoa Hạ kinh vĩ”(Trung Quốc) ngày 7-4-2007 ghi rõ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Vi Quốc Thanh là Tổng cố vấn quân sự. Cố vấn quân sự các cấp của phía Trung Quốc ra tiền tuyến dốc toàn lực hiệp tác giúp đỡ.”

– Không có tài liệu nào cho thấy Quân đội nhân dân Việt Nam dùng “chiến thuật Biển người” trong chiến dịch Điện Biên Phủ cả.  Ngược lại, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp theo phương châm “phải giành thắng lợi tối đa với xương máu tối thiểu.” Nhà cầm quân này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tâm sự với tôi, Cù Huy Hà Vũ, vào ngày 4/9/2003:  “Quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của tôi là “kéo pháo ra”, thay đổi từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” vì phương án đầu không bảo đảm chắc thắng. Khi tiễn tôi ra mặt trận, Bác chỉ dặn tôi: tướng quân tại ngoại, có chắc thắng thì hãy đánh, ngược lại là “hết vốn”. Mặt trận Nha Trang năm 1946 là một bài học xương máu. Được Bác cử đi thị sát mặt trận này, tôi nghiên cứu thấy thế địch mạnh hơn hẳn ta nên tôi đã yêu cầu các đồng chí chỉ huy mặt trận rút quân để bảo toàn lực lượng nhưng các đồng chí đó không nghe. Kết quả là mặt trận vỡ và quân ta bị tổn thất nặng nề. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) sau này cũng vậy, tôi không tán thành đánh tiếp sau đợt 1 vì chắc chắn sẽ tiếp tục bị thiệt hại bởi yếu tố bất ngờ đã không còn. Tựu trung lại là phải giành thắng lợi tối đa với xương máu tối thiểu. Tôi là Võ nhưng lại là Văn vì tôi thương người, thương anh em chiến sĩ lắm”. Tôi đã thuật lại tâm sự này của danh tướng họ Võ trong bài “Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chân dung một huyền thoại” được tôi viết nhân dịp kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, được nhiều sách báo Nhà nước Việt Nam và nước ngoài đăng (Sau khi bỏ tù tôi, chính quyền Việt Nam một mặt “đốt” các trang điện tử trong nước đăng bài viết này của tôi nhưng mặt khác, “cướp cạn” bản quyền của tôi đối với “Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chân dung một huyền thoại” để đặt tên cho các cuốn sách, bài báo, triển lãm vinh danh ông.) Theo ghi nhận tại Wikipedia, quân Pháp có 1.747 tới 2.293 người chết, 5.240 tới 6.650 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 bị bắt làm tù binh, Quân đội nhân dân Việt Nam có 4.020 người chết,[3] 9.691 người bị thương,[28] và 792 mất tích. Vậy không hiểu Chu Tất Tiến dựa vào nguồn tài liệu nào để khẳng định “mỗi bên chết và bị thương vài chục ngàn người”?!

Chu Tất Tiến viết: “Hiệp định được ký bởi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Pháp, Trung Cộng, Liên Sô, và Anh. Quốc gia Việt Nam lãnh đạo bởi Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, và Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ, từ chối ký vào hiệp định, còn Mỹ thì ghi nhận về sự đình chiến và tuyên bố rằng Mỹ sẽ kiềm chế những đe dọa hoặc sử dụng võ lực đề làm phiền họ.”

– Ngày 21/7/1954, tại Hội nghị Geneva, Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thay mặt Tổng tư lệnh Quân dội nhân dân Việt Nam và Tướng Henri Delteil, Quyền Tổng Tư lệnh Lực lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, đã ký Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Như vậy, Hiệp định này, còn gọi là Hiệp định Geneva 1954, là một hiệp định giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp. Do đó, Chu Tất Tiến nói Trung Cộng, (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), Liên Sô và Anh” ký hiệp định này là hoàn toàn sai.

– Bản thân Chu Tất Tiến trước đó viết: “Chính phủ hợp pháp của Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo, thập niên đó, quá yếu, vì thay đổi liên tục nên không được quốc tế tôn trọng, không được hỏi ý kiến. (Từ 1948 đến 1954, Quốc Trưởng Bảo Đại thay đổi 6 lần Thủ Tướng: Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn văn Tâm, Bửu Lộc, và cuối cùng là Ngô Đình Diệm 1954-1955).” Khoan bàn đến chuyện có phải chính phủ của Bảo Đại vì quá yếu hay bị Pháp coi là bù nhìn của Pháp nên bị nước này gạt ra khỏi tiến trình đàm phán hiệp định đình chiến với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì việc chính phủ Quốc gia Việt Nam không được tham gia đàm phán hiệp định này là một rất rõ ràng. Cũng rất rõ ràng rằng một chính phủ chỉ có thể từ chối ký một hiệp định nếu chính phủ này là một bên đàm phán hiệp định! Do đó, việc Chu Tất Tiến khẳng định “Quốc gia Việt Nam lãnh đạo bởi Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, và Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ, từ chối ký vào hiệp định” chẳng những hoàn toàn sai sự thật mà còn mâu thuẫn gay gắt với chính mình.

Chu Tất Tiến viết: “Để tránh những quan niệm rằng sự chia cắt này sẽ là vĩnh viễn, một bản tuyên bố không có chữ ký (The unsigned proclamation), nói trong điều 6: “Hội nghị nhận thức rằng mục đích quan trọng của hiệp định liên quan đến Việt Nam là chấm dứt những nghi vấn có tính chất quân sự về sự chấm dứt sự thù địch, và vùng trái độn quân sự chỉ là tạm thời và không thể được định nghĩa như là thiết lập một thể chế chính trị hoặc một biên giới chính tri…”

– Viện dẫn này của Chu Tất Tiến rất thiếu chính xác khi so sánh với Điều 6 trong Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva 1954 bằng tiếng Pháp và tiếng Anh.

Acte final de la conférence de Genève et déclarations annexes (21 juillet 1954).

6. La Conférence constate que l’accord relatif au Vietnam a pour but essentiel de régler les questions militaires en vue de mettre fin aux hostilités et que la ligne de démarcation militaire est une ligne provisoire et ne saurait en aucune façon être interprétée comme constituant une limite politique ou territoriale. Elle exprime la conviction que la mise en oeuvre des dispositions prévues dans la présente déclaration et dans l’accord sur la cessation des hostilités, crée les prémisses nécessaires pour la réalisation dans un proche avenir du règlement politique au Vietnam.

The Final Declarations of the Geneva Conference July 21, 1954.

6. The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Viet-nam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that the military demarcation line is provisional and should not in any way be interpreted as constituting a political or territorial boundary. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agreement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Viet-Nam.

Như vậy, “la ligne de démarcation militaire est une ligne provisoire et ne saurait en aucune façon être interprétée comme constituant une limite politique ou territorial” (tiếng Pháp) và “the military demarcation line is provisional and should not in any way be interpreted as constituting a political or territorial boundary” (tiếng Anh) tương đương trong tiếng Việt là “Đường ranh giới quân sự tạm thời không thể diễn giải theo bất cứ cách nào như là một ranh giới chính trị hay lãnh thổ.”

(Còn tiếp)

______

Tác giả:Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ là một luật gia, học giả và nhà bất đồng chính kiến, cựu tù nhân chính trị Việt Nam, từng là cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam trong 30 năm. Hiện ông sống tại California, Hoa Kỳ.

Lưu ý của Tiếng Dân: Trong bài tranh luận này, một số nơi tác giả Cù Huy Hà Vũ sử dụng Wikipedia làm làm cơ sở để kiểm chứng thông tin. Tuy nhiên, Wikipedia không phải là nguồn tin đáng tin cậy. Chính Wikipedia có bài “Wikipedia is not a reliable source” (Wikipedia không phải là nguồn đáng tin cậy), vì nó có thể được bất kỳ ai đó chỉnh sửa vào bất cứ lúc nào, nhất là những thông tin về lịch sử, đôi khi được những người của “bên thắng cuộc” vào chỉnh sửa theo chủ ý của họ… Cho nên trang Wikipedia cảnh báo: Không nên coi Wikipedia là nguồn tham khảo dùng trong bài viết.

Ngày đau buồn

 

Ngày đau buồn

Phạm Đình Trọng

30-4-2023

1. Thời gian qua đi. Lịch sử Việt Nam sẽ có thêm nhiều sự kiện, nhiều ngày vui, nhiều ngày buồn nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 mãi mãi là một ngày đau buồn lâu dài và mất mát quá lớn của người dân Việt Nam, của lịch sử cận đại Việt Nam. Là một cột mốc lớn của lịch sử, mãi mãi mai sau người dân Việt Nam, từ nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá, triết học, đến người dân lao động lam lũ còn phải soi vào cột mốc 30.4.1975 mà suy ngẫm để nhận ra những điều nhắc nhở của lịch sử. Thời gian càng qua đi, những áp đặt của tuyên truyền giả dối càng lộ rõ, càng giúp con người nhận ra sự thật lịch sử sáng rõ, minh triết.

Là người trong cuộc, dù ở bên thắng cuộc, có may mắn hơn cả chục triệu người đã phơi xác trong bom đạn trên khắp dải đất Việt Nam, có may mắn hơn mấy triệu người mất lí tưởng quốc gia để thờ phụng, mất danh dự, niềm tin, mất cơ đồ, sự nghiệp, phải sấp ngửa bỏ nước ra đi, dù có rủng rỉnh cả mớ huân chương lấp lánh của người lính thắng trận nhưng 30 4.1975 như một tia chớp loé sáng trong nhận thức của tôi. Tia chớp ấy đã đảo ngược hoàn toàn nhận thức mà tôi đã được nạp, đã được lèn bài bản, công phu, kĩ càng từ khi còn là đứa bé học trò dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, đến khi lớn lên là người lính của quân đội cách mạng chuyên chính vô sản.

Nhận thức tôi được nạp, được lèn là đường lên hạnh phúc rộng thênh thang của người dân miền Bắc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và cuộc sống lầm than, nghèo khổ, khốn cùng, mất tự do, mất phẩm giá con người của người dân miền Nam dưới chế độ nguỵ quyền Sài Gòn bán nước và trong ách cai trị thực dân kiểu mới của Mỹ. Vì vậy dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, người dân miền Bắc cũng quyết đánh Mỹ, diệt nguỵ, giải phóng miền Nam, cứu nhân dân miền Nam khỏi đau thương, nô lệ.

30.4.1975 đến. Những quyển sách lặng lẽ ở đường sách vỉa hè Sài Gòn cho tôi thấy đời sống văn hoá nhân loại, tầm vóc con người nhân loại của người dân miền Nam, khác với con người giai cấp, hằm hằm hận thù giai cấp và sắt máu đấu tranh giai cấp như con người tôi nhỏ bé, méo mó đến tội nghiệp. Người dân không những được đọc Aleksandr Solzhenitsyn, đọc Boris Pasternak, những nhà văn Xô Viết mà còn được đọc tất cả những nhà văn Việt Nam nổi tiếng đang là những công thần ở miền Bắc, từ Nguyễn Tuân đến Chế Lan Viên, từ Nguyên Hồng đến Tế Hanh, cho tôi thấy tự do tư tưởng có từ cách mạng dân chủ tư sản mấy thế kỉ trước, đến nay vẫn chưa có ở miền Bắc thì đang hiển hiện rạng rỡ ở miền Nam.

Xã hội nào cũng có người nghèo nhưng số đông gia đình người dân miền Nam có cuộc sống phong lưu, đầy đủ tiện nghi hiện đại, nhất là phong thái đĩnh đạc, tự tin, hồn nhiên bộc lộ con người thật, bộc lộ cá tính, chẳng cần e dè, chẳng có gì phải né tránh, chẳng có gì co ro, rúm ró làm cho tôi kinh ngạc.

Lại nghĩ đến cuộc sống thường xuyên thèm khát từ một bữa cơm no. Nghĩ đến quyền năng ban phát mọi tiêu chuẩn sống, mọi giá trị sống cho con người làm cho con người luôn sợ sệt không dám bộc lộ mình, phải giấu mình đi, luôn lựa mình theo quyền năng, luôn nghĩ theo, nói theo khuôn mẫu có sẵn trong xã hội, không dám bộc lộ cái riêng, cái khác biệt để thành lạc hậu, chậm tiến, cản trở cách mạng. Nghĩ và bỗng nhận ra kiếp người chưa được sống của mình, một nỗi buồn mất mát, một nỗi đau thân phận làm đảo ngược lại nhận thức của tôi. Nỗi buồn mất mát, nỗi đau thân phận cứ lớn lên theo năm tháng, làm cho nhận thức của tôi càng thay đổi mạnh mẽ, triệt để, quyết liệt, không khoan nhượng như để chuộc lại những năm tháng đã mất.

30.4.1975 cho tôi nhìn lại quãng đời dẫn tôi đến ngày 30.4.1975, cũng cho tôi nhìn lại một thời kì đất nước tôi vận động, chuyển mình đau đớn trong cách mạnh và chiến tranh, trong máu và nước mắt đến ngày 30.4.1975

2. Người ta bảo ngày 30.4.1975 có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn. 30.4.1975 có vui, có buồn, đó là cái nhìn chỉ thấy bề nổi hiện thực trong thoáng chốc. Cái nhìn đó tuy có bớt vô cảm, bớt nhẫn tâm nhưng vẫn là cái nhìn bề ngoài mà không thấy cốt lõi, cái nhìn hời hợt, dễ dãi mà bỏ qua, che giấu, quên đi cội nguồn dẫn đến cái kết thúc đau buồn, mất mát 30.4.1975.

30.4.1975 chỉ là ngày kết thúc, là điểm dừng của một biến cố, một tai hoạ lịch sử kéo dài ba mươi năm. Tôi là thế hệ trong cuộc, là người lính vào sống ra chết trong tai hoạ của đất nước tôi, của cuộc đời tôi. Tôi đã góp năm tháng cuộc đời, góp mồ hôi và cả máu trong tai hoạ lịch sử đó. Tôi đã mang cả quãng đời dài nhất, quí nhất, đẹp nhất, giá trị nhất làm cho đất nước tôi mất đi một thời đại, làm cho nhân dân tôi phải mang nỗi đau buồn thế kỉ. Soi vào điểm dừng 30.4.1975 của tai hoạ lịch sử ba mươi năm là soi vào chính cuộc đời tôi, tôi càng nhận thức sâu sắc cái mất mát đau buồn đó.

Có ngày đau buồn 30.4.1975 vì có cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 do những người cộng sản phát động cướp chính quyền của chính phủ chính danh, phù hợp tiến trình lịch sử rồi cho ra đời nhà nước ngược tiến trình lịch sử có tên là nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nhưng thực chất là nhà nước cộng sản phong kiến.

Nhà nước phong kiến xa xưa là nhà nước của một gia tộc, cha truyền con nối. Nhà nước phong kiến hiện đại là nhà nước của một tổ chức chính trị, quyền lực vừa truyền nối theo dòng máu gia tộc, trong nội bộ gia tộc, vừa truyền nối theo dòng máu đảng, trong nội bộ đảng. Nhà nước phong kiến xa xưa hay hiện đại đều tồn tại bằng độc tài tước đoạt quyền con người, quyền làm chủ đất nước của người dân, đưa con người về bầy đàn, đưa dân tộc vào nô lệ, đưa xã hội vào độc tài. Nhà nước phong kiến xa xưa hay hiện đại đều độc quyền chân lí, độc quyền lẽ phải, độc quyền luật pháp, độc quyền sự thật, độc quyền cả lãnh thổ quốc gia. Lãnh thổ quốc gia thời phong kiến xa xưa là của vua, thời phong kiến hiện đại là của đảng chính trị độc tài đương quyền.

Ra đời ngày 2.9.1945, nhà nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà lúc đầu còn che giấu nhưng càng ngày càng thể hiện đầy đủ đặc trưng, phẩm chất của một nhà nước phong kiến. Nhà nước phong kiến cộng sản đã chặt đứt tiến trình lịch sử Việt Nam, kéo Việt Nam lùi lại cả trăm năm. Ngày 30.4.1975 chỉ là hậu quả tất yếu của ba mươi năm máu và nước mắt khởi đầu từ ngày 2.9.1945.

Tôi xin diễn giải về nhà nước Việt Nam ra đời từ ngày 2.9.1945 đưa xã hội Việt Nam vừa chập chững bước vào văn minh công nghiệp, văn minh đô thị lại lùi trở về thời văn minh nông nghiệp từ ngàn năm trước, đưa dân tộc Việt Nam vào chiến tranh phong kiến liên miên và đẫm máu. 30.4.1975 ngày kết thúc cuộc chiến tranh giành lãnh thổ cho thế lực phong kiến mới, phong kiến cộng sản, ngày đại thắng của phong kiến cộng sản nhưng là ngày đại bại của cả dân tộc Việt Nam.

Chiến tranh phong kiến là cuộc chiến tranh do lãnh chúa phong kiến phát động núp dưới những mĩ từ giả dối, lừa bịp: giải phóng, độc lập, cứu nước nhưng thực sự chỉ để lãnh chúa cộng sản, thâu tóm quyền lực, áp đặt sự thống trị độc tài cộng sản trên cả nước. Chiến tranh Việt Nam ba mươi năm, 1945 – 1975 thực sự là cuộc chiến tranh phong kiến và ngày 30.4.1975 là ngày kết thúc. Giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh phong kiến tương tàn, áp đặt thể chế độc tài cộng sản trên cả nước, đảng cộng sản có cả xã tắc Việt Nam còn người dân Việt Nam thì mất trắng. Năm 1954, người dân nửa nước Bắc Việt bị lùa về thời bầy đàn. 30.4.1975, đến lượt người dân Nam Việt chung số phận với người dân Bắc Việt. Cả nước bị lùa về thời bầy đàn. Cả dân tộc Việt Nam trong ai oán nô lệ cộng sản. Cả xã hội Việt Nam trong ngột ngạt độc tài.

Trước 30.4.1975, bị hấp dẫn bởi những mĩ từ độc lập, giải phóng, cứu nước, hàng loạt trí thức miền Nam bỏ khoa học, bỏ sự nghiệp, bỏ nhung lụa, theo những người cộng sản vào rừng nằm gai nếm mật với niềm tin chống Mỹ cứu nước giành độc lập dân tộc. Sau 30.4.1975 những trí tuệ như Luật sư Trương Như Tảng, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mới cay đắng nhận ra độc lập, giải phóng, cứu nước chỉ là chiêu bài, chỉ là bánh vẽ! Sự thật là những quyền con người cơ bản, người dân cũng không có thì độc lập làm gì?

Người dân đang tung tăng tự do. Tự do kiếm sống. Tự do tiếp nhận thông tin. Tự do bộc lộ chính kiến chính trị. Tự do ra báo tư nhân. Tự do ứng cử, bầu cử. Tự do rầm rộ biểu tình phế bỏ chính phủ không thuận lòng dân. Nay người dân chỉ còn là bầy cừu, không được ho he điều gì trái ý quyền lực, người dân chỉ là rô bốt cầm lá phiếu bầu cử theo ý quyền lực thì giải phóng nỗi gì?

Người Việt giết người Việt, người Việt tước đoạt quyền sống của người Việt, người Việt có quyền lực nhà nước tù đày người Việt lương thiện mà là cứu nước ư? Nước Việt là sở hữu độc quyền của lãnh chúa cộng sản, người dân đâu còn nước mà cứu!

Vì vậy, 30.4.1975 là ngày đau buồn của cả dân tộc Việt Nam. Làm gì có triệu người vui!

3. Tiến trình lịch sử loài người là: Con người đi từ bầy đàn đến cá nhân, xã hội đi từ độc tài đến dân chủ và lịch sử loài người là lịch sử giải phóng. Giải phóng cá nhân khỏi bầy đàn. Giải phóng dân tộc khỏi nô lệ. Giải phóng xã hội khỏi độc tài. Cả ba cái giải phóng này, giải phóng khỏi bầy đàn, giải phóng khỏi nô lệ, giải phóng khỏi độc tài đều nhằm giải phóng sức sáng tạo vô tận của con người khỏi mọi tù hãm, trói buộc. Sức sáng tạo vô tận của con người được giải phóng mới có những con người khổng lồ Steve Jobs, Bill Gates, Elon Musk … Tất cả phải bắt đầu từ giải phóng cá nhân và giải phóng cá nhân là trung tâm, là cội nguồn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Nhưng lí luận của ông thuỷ tổ cộng sản K. Marx lại cho rằng lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp. Trang bị lí luận đấu tranh giai cấp và bơm liều doping cho giai cấp vô sản: Làm cách mạng vô sản, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay nhân dân, giai cấp vô sản chỉ mất xích xiềng nô lệ mà được cả thế giới, rồi ông Marx đẩy những người vô sản nghèo khổ, không của cải, không trí tuệ vào cuộc đấu tranh giai cấp ảo tưởng nhưng đẫm máu và triền miên.

Thế kỉ 20 là thế kỉ biến động dữ dội nhất của lịch sử loài ngươi. Thế kỉ chia đôi loài người. Nửa loài người rầm rộ bước vào văn minh công nghiệp thì cũng có nửa loài người sôi sục đấu tranh giai cấp, say máu chiến tranh ý thức hệ. Máu người Việt lênh láng trong cuộc chiến tranh ba mươi năm, kết thúc ngày 30.4.1975, ở nửa thế giới đẫm máu đó.

Trên thế giới, hầu hết những nơi có đảng cộng sản đều có lật đổ, cướp chính quyền, đều có chiến tranh ý thức hệ đẫm máu dân. Cướp được chính quyền, chiến thắng bằng máu dân, nhà nước phong kiến cộng sản ra đời lại đưa dân về bầy đàn. Lịch sử Việt Nam ba mươi năm qua là một minh chứng xác đáng. 2.9.1945, nhà nước phong kiến cộng sản ra đời. 1954, người dân nửa nước Việt Nam phía Bắc về bầy đàn. 30.4.1975 người dân cả nước về bầy đàn.

Con người còn là bầy đàn công cụ trong tay lãnh chúa phong kiến thì xã hội mãi mãi trong nền sản xuất nông nghiệp theo thói quen, theo kinh nghiệm. Ngàn năm sau vẫn như ngàn năm trước. Cách mạng tư sản dân quyền 1789 thực chất là cuộc cách mạng giải phóng cá nhân khỏi bầy đàn. Cái Tôi được nhìn nhận, trí tuệ tài năng con người được khai thác mới tạo ra dồn dập những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, đưa loài người vào xã hội công nghiệp. Văn minh công nghiệp với luật pháp dân chủ nhân quyền lại đưa xã hội đi từ độc tài đến dân chủ. Đó là tiến trình lịch sử tất yếu của xã hội loài người.

Cách mạng tư sản dân quyền rầm rộ ở Tây Âu thế kỉ 18 đã đưa nước Pháp từ nền sản xuất nông nghiệp trì trệ bước vào nền sản xuất công nghiệp phát triển. Công nghiệp hoá cho nước Pháp sức mạnh chinh phục thế giới, xâm chiếm thuộc địa, tìm nguyên liệu, tìm thị trường cho nền sản xuất công nghiệp. Thế kỉ 18, 19, Pháp xâm lược Việt Nam và nhiều nước chậm phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh để làm công nghiệp hoá nước Pháp, khác với suốt mấy ngàn năm trước, hết lần này đến lần khác, Đại Hán xâm lược Việt Nam chỉ nhằm bành trướng mở rộng lãnh thổ Đại Hán.

Biến lãnh thổ Đại Việt thành lãnh thổ Đại Hán thì phải xoá sổ văn hoá Việt, xoá sổ giống nòi Việt bằng cách tuyệt diệt nền văn hoá làm nên linh hồn người Việt, tuyệt diệt tầng lớp trí thức tinh hoa người Việt, nơi kết tinh nền văn hoá Việt và đồng hoá khối dân thường còn lại bằng cách thay dòng máu Đại Việt bằng dòng máu Đại Hán trong con người Việt. Các triều đại nhà Hán xâm lược Việt Nam từ Hán, Tống, Nguyên, Minh đều triệt để đồng hoá, xoá sổ dân tộc Việt Nam. Hàng ngàn năm Bắc thuộc, Đại Hán không đồng hoá được cộng đồng người Việt bé nhỏ bởi hồn văn hoá của nền văn minh sông Hồng bền bỉ trong lời ăn tiếng nói, trong phong tục tập quán, trong văn hoá làng xã người Việt. Như trống đồng Đông Sơn bền bỉ trong lòng đất phù sa sông Hồng.

Pháp xâm lược Việt Nam, đàn áp dã man tinh thần dân tộc Việt Nam, bóc lột tàn bạo tài nguyên Việt Nam nhưng nước Pháp của cách mạng tư sản dân quyền, của văn minh công nghiệp vẫn chăm chút giữ gìn, bảo tồn nền văn minh sông Hồng tạo nên hồn vía dân tộc Việt. Xây khá nhiều bảo tàng trên khắp đất nước Việt Nam từ rất sớm bảo tồn văn hoá Việt. Xây dựng nhiều trường học hiện đại từ tiểu học tới đại học và thực hiện nền giáo dục khai sáng, nhân văn, đào tạo lớp người Việt tài năng, phát hiện và nuôi dưỡng những tinh hoa người Việt.

Xâm lược Việt Nam, đưa những nhà cai trị của triết học Ánh sáng đến Việt Nam, Pháp cũng đưa lí tưởng cách mạng tư sản Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác ái đến Việt Nam và đưa luật pháp dân chủ tư sản, nhìn nhận sự có mặt của cá nhân vào Việt Nam, tạo ra sự xuất hiện đội ngũ trí thức khai sáng người Việt.

Khai thác thuộc địa, Pháp cũng tạo nên nền móng cơ sở vật chất đầu tiên của văn minh công nghiệp, văn minh đô thị, tạo ra những trung tâm công nghiệp và đô thị thương mại sầm uất, tạo ra môi trường sản xuất kinh doanh công nghiệp, làm xuất hiện tầng lớp tư sản dân tộc Việt Nam khá đông đảo, đầy tài năng làm giầu và sắt son lòng yêu nước.

Đội ngũ tư sản non trẻ và nồng nàn lòng yêu nước cùng đội ngũ trí thức tài năng trẻ trung và đông đảo mang hồn Việt Nam: Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Lâm Triều Phát, Trương Văn Bền, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Phạm Chấn Hưng, Ngô Tử Hạ, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn… đang đua tranh cùng tư sản Pháp đưa Việt Nam vào văn minh công nghiệp, hoà nhập với thời đại công nghiệp hoá trên thế giới.

Thế kỉ 20, đội ngũ tư sản non trẻ và trí thức tài năng là lớp người tiêu biểu, lớp người tiên tiến tạo ra động lực mạnh mẽ chấn hưng đất nước Việt Nam. Đội ngũ tư sản non trẻ và trí thức tài năng đang gắng gỏi mở ra thời kì mới cho đất nước Việt Nam, chấn hưng đất nước bằng công nghiệp hoá, đưa xã hội Việt Nam ngàn đời dậm chân trong văn minh nông nghiệp chập chững bước vào văn minh công nghiệp cùng tiến trình lịch sử nhân loại.

Văn minh công nghiệp không chỉ là động lực của kinh tế. Văn minh công nghiệp còn là động lực của lịch sử. Sức mạnh thời văn minh nông nghiệp chỉ là sức người. Do đó đấu tranh giành độc lập dân tộc thời phong kiến Trung Cổ chỉ có con đường máu, con đường bạo lực, khởi nghĩa vũ trang. Sức mạnh của văn minh công nghiệp là sức mạnh khoa học kĩ thuật, là trí tuệ sáng tạo, là dân trí và luật pháp dân chủ tư sản mà lí tưởng cao nhất của luật pháp dân chủ tư sản là: Mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng và mọi dân tộc đều có quyền tự quyết.

Khi loài người đã bước vào văn minh công nghiệp, đấu tranh giành độc lập dân tộc không còn là con đường bạo lực đẫm máu nữa mà là con đường luật pháp, con đường khai dân trí để người dân sử dụng luật pháp dân chủ tư sản giành quyền dân tộc tự quyết, giành độc lập. Mahatma Gandhi (1869 – 1948) đã đưa Ấn Độ đi con đường không bạo lực, con đường đấu tranh chính trị, đấu tranh nghị trường và Ấn Độ đã giành được độc lập không đổ máu từ 1947.

Khai dân trí, đưa người dân vào cuộc đấu tranh không bạo lực, giành độc lập bằng luật pháp dân chủ tư sản cũng đưa người dân vào tư thế làm chủ đất nước. Người dân tự do lập đảng chính trị, tự do tham gia đảng chính trị đấu tranh giành độc lập, người dân tự do cầm lá phiếu bầu chọn đảng chính trị lãnh đạo đất nước. Không bạo lực, giành độc lập không bằng máu dân mà bằng luật pháp dân chủ tư sản, bằng sức mạnh công lí và sức mạnh thời đại, từ 1947, Ấn Độ giành được độc lập thực sự và có nhà nước dân chủ thực sự.

Từ đầu thế kỉ 20, Phan Châu Trinh cũng đã nhận ra con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc không bạo lực mà cách mạng dân chủ tư sản mở ra là con đường của Việt Nam. Khai dân trí, tập hợp sức mạnh nhân dân và sức mạnh luật pháp dân chủ tư sản đấu tranh giành độc lập là con đường duy nhất đúng khi loài người đang từ bỏ văn minh nông nghiệp bước vào văn minh công nghiệp. Phan Châu Trinh mất. Chính phủ Trần Trọng Kim tập hợp những trí thức và tư sản dân tộc mang tinh thần cách mạng dân chủ tư sản cũng mang tinh thần Phan Châu Trinh có sức ảnh hưởng và có vai trò dẫn dắt xã hội lúc đó thực sự là chính phủ cần thiết của Việt Nam, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử

Dù bị những người cộng sản gán cho tội thân Nhật, do Nhật dựng lên nhưng chính phủ Trần Trọng Kim còn tồn tại khi Nhật đầu hàng thì lực lượng đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật sẽ giải tán chính phủ Trần Trọng Kim và lập chính phủ mới vẫn mang tinh thần cách mạng dân chủ tư sản, vẫn tập hợp những trí thức và tư sản dân tộc đưa Việt Nam hoà nhập với thế giới đang công nghiệp hoá trong bình yên của luật pháp dân chủ tư sản. Việt Nam vẫn trong tiến trình đi tới cùng loài người văn minh.

Nhưng những người cộng sản đã cướp chính quyền của chính phủ phù hợp tiến trình lịch sử nhân loại, chính phủ hội tụ trí thức và tư sản dân tộc, dựng lên chính phủ công nông mang ý chí sắt máu đấu tranh giai cấp, ngược tiến trình lịch sử của loài người.

Chính phủ của trí thức và tư sản dân tộc đương nhiên phải đưa Việt Nam đi cùng nửa loài người đang rầm rộ làm cách mạng công nghiệp. Cướp chính quyền của chính phủ trí thức và tư sản dân tộc, đương nhiên chính phủ công nông đấu tranh giai cấp phải đưa Việt Nam đi với nửa loài người đang sôi sục đấu tranh giai cấp, đang say máu chiến tranh ý thức hệ. Và Việt Nam đã bị chính phủ cộng sản Hồ Chí Minh đẩy vào vòng xoáy máu lửa cách mạng vô sản thế giới từ năm 1945 đến tận 30.4.1975

Kết thúc cuộc nội chiến đẫm máu người Việt cộng sản bắn giết, thanh toán người Việt không cộng sản suốt ba mươi năm bằng chiến thắng của những người cộng sản, những người sắt máu phát động cuộc chiến tranh tương tàn chỉ để giành lãnh thổ Việt Nam cho đảng cộng sản Việt Nam, cho giai cấp vô sản thế giới, chỉ để áp đặt lên cả nước Việt Nam thể chế độc tài cộng sản còn đau thương, bạo liệt hơn cả độc tài Trung Cổ.

Ngày 30.4.1975 chỉ là ngày đau buồn của cả dân tộc Việt Nam. Làm gì có triệu người vui!

Lệnh cấm đánh cá của Tàu Cộng

 

Lệnh cấm đánh cá của Tàu Cộng

Song Phan

30-4-2023

Ngày mai 01/5/2023 lệnh cấm đánh cá đơn phương mùa hè của Tàu Cộng bắt đầu có hiệu lực ở biển Đông, tạm bỏ qua chuyện 30/4 xưa, bàn một chút về vụ này.

Kể từ năm 1999, hàng năm cứ đến khoảng thời gian này thì Tàu Cộng lại tung ra lệnh cấm đánh cá đơn phương mùa hè từ vĩ tuyến 12° N về phía Bắc ở biển Đông, với thời gian cấm có thể dao động trong khoảng từ 2,5 tháng đến 4,5 tháng, phạm vi cấm về cơ bản không thay đổi, riêng năm nay chỉ gộp chung phần phía Nam biển Hoa Đông và phía Bắc biển Đông lại (so sánh bản đồ 1 và 2):

Lý do mà họ nêu ra cho lệnh cấm này nghe khá bùi tai với thế giới: bảo vệ nguồn cá, đảm bảo khai thác bền vững, cải thiện môi trường sinh thái biển.

Quy định về phạm vi áp dụng trước nay đều khá chung chung, ví dụ như lệnh điều chỉnh do Bộ Nông nghiệp Tàu Cộng đưa ra ngày 13/4 năm nay nêu là:

Bột Hải, Hoàng Hải, biển Hoa Đông và biển Đông (bao gồm cả Vịnh Bắc Bộ) ở phía bắc vĩ tuyến 12° N”….. “Vùng biển biển Hoa Đông và biển Đông có vĩ độ 26°30′ N đến 12°N là từ 12 giờ ngày 01/5 đến 12 giờ ngày 16/8”.

Đây là lệnh cấm đơn phương nên phạm vi đó lẽ ra phải được hiểu trong những vùng biển mà Tàu Cộng có quyền tài phán. Tuy nhiên, có thể do lời lẽ chung chung đó hoặc do được mớm mà một số công ty tư nhân của họ đã lập ra bản đồ hướng dẫn, đã thể hiện phạm vi cấm bao gồm cả vùng biển của các nước khác (xem bản đồ 1).

Ví dụ như ở Hoàng Hải, vùng biển cấm đánh cá được vẽ gần như tới tận bờ biển của Hàn Quốc; ở biển Hoa Đông thì có vẻ vẽ tận lãnh hải của Nhật; ở biển Đông thì ‘nhân nhượng’ hơn chút ít chỉ vẽ bên trong đường Lưỡi Bò (và trong Vịnh Bắc Bộ thì chỉ vẽ phần phía Đông đường phân giới theo hiệp định năm 2000) (1)

Không thấy phía chính phủ Tàu Cộng có ý kiến về cách vẽ này hay làm rõ phạm vi được quy định. Tuy nhiên, hành động của lực lượng thực thi pháp luật của họ trên biển dường như xác nhận cách vẽ đó là đúng như ý định của chính quyền. Kiểu quy định hay kiểu vẽ thế này hoàn toàn không có cơ sở trong luật pháp hay thông lệ quốc tế, và do đó, ngoài lý do tốt đẹp như đã nêu, không nghi ngờ trong đó có ý đồ (và có thể thực chất là) muốn thể hiện quyền kiểm soát các khu vực biển đó làm cơ sở cho việc yêu sách chủ quyền.

Khi bắt đầu chế độ cấm đánh cá từ năm 1999 ở biển Đông cho đến trước năm 2009, lúc Tàu Cộng chưa chính thức công bố yêu sách đường Lưỡi Bò, lực lượng thực thi của họ còn mỏng và yếu nên việc thực thi khó có thể nghiêm ngặt, ít xảy ra va chạm lớn và do đó chỉ có Việt Nam phản đối là chính, còn phản ứng quốc tế không đáng kể. Chỉ sau khi công bố đường Lưỡi Bò trong công hàm gởi LHQ vào năm 2009, Tàu Cộng mới bắt đầu tăng cường cưỡng chế bắt giữ tàu cá, ngư dân Việt Nam, phá hủy ngư cụ, tịch thu sản phẩm… thì thế giới mới chú ý đến nhiều hơn.

Có thể để giảm nhẹ sự chỉ trích của dư luận và cũng như đối phó với thực tế nguồn cá đã bước vào tình trạng cạn kiệt, từ năm 2012 (2)họ bắt đầu thực hiện nghiêm ngặt chế độ cấm đánh cá ở Bột Hải, Hoàng Hải và biển Hoa Đông, và mở rộng việc thực thi đến bãi Scarborough ở biển Đông. Đáng chú ý là, từ năm 2013, khi các lực lượng thực thi tản mạn (ngư chính, hải giám, hải cảnh…) của họ được thống nhất thành cảnh sát biển, được trang bị tàu bè lớn hơn (thường là từ tàu hải quân chuyển sang) và nhất là từ năm 2018 được đặt dưới sự chỉ đạo của Quân Ủy trung ương Tàu Cộng, thì họ càng hung hăng hơn.

Về phạm vi cấm ở biển Đông, cho tới giờ vẫn không bao gồm vùng biển Trường Sa mà chỉ ở phần phía bắc vĩ tuyến 12° N. Điều này có thể là do ban đầu họ thấy ở khu vực này họ có khả năng kiểm soát thực tế nhiều hơn (gần đảo Hải Nam và đã kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, còn phía Nam vĩ tuyến 12° N họ chỉ mới kiểm soát mấy đảo đá chìm với chỗ trú đóng là các nhà giàn đơn sơ, chưa xây thành đảo nhân tạo). Hiện nay, ở khu vực phía Nam vĩ tuyến 12° N, dù họ đã có các căn cứ kiên cố trên các đảo nhân tạo, có khả năng thực hiện sự kiểm soát rộng hơn nhưng họ cũng cần có ngư trường để ngư dân họ giải toả trong mùa cấm và hơn nữa họ cũng cần đội ngũ dân quân ngụy trang dưới dạng ngư dân để giúp lực lượng chấp pháp chính quy thực thi chủ quyền trong đường Lưỡi Bò như quấy phá, cản trở việc thăm dò, khai thác của các nước khác… Có lẽ vì vậy mà họ vẫn giữ nguyên phạm vi cấm chỉ gồm phần phía Bắc vĩ tuyến 12° N’ như trước đây.

Ảnh: Phạm vi Hải Nam đòi quản lý đánh cá. Nguồn: Song Phan

Thật ra, vào năm 2014, có vẻ để thăm dò phản ứng dư luận, chính quyền Tàu Cộng đã để cho tỉnh Hải Nam ra quy định yêu cầu phải có giấy phép mới được đánh cá / khảo sát trong phạm vi họ quy định. Phạm vi này kéo dài tới tận bãi ngầm James ở 4° N, phủ gần trọn đường Lưỡi Bò, thậm chí vượt qua đường Lưỡi Bò về phía Việt Nam (xem hình 2). Quy định này gây tranh cãi, bị Việt Nam và các nước liên quan phản đối, và cũng bị dư luận quốc tế phê phán khá mạnh mẽ, nên cho tới nay không nghe họ nhắc tới nữa.

Chủ trương cấm đánh cá đơn phương này của Tàu Cộng đặt Việt Nam và các nước liên quan vào thế tương đối khá tế nhị. Nếu Việt Nam và các nước liên quan phản đối và không tuân theo lệnh cấm đánh cá của Tàu Cộng thì Tàu Cộng có thể rêu rao với dư luận quốc tế rằng Việt Nam và các nước này không hợp tác và quan tâm đến việc khai thác bền vững thủy sản, đặt lợi ích quốc gia lên trên tính bền vững của môi trường sinh thái (3); ngoài ra ngư dân Việt Nam và các nước này cũng bị đặt trong tình trạng nguy cơ bị lực lượng chấp pháp Tàu Cộng xâm hại, cũng như nguy cơ đối đầu giữa lực lượng chấp pháp của họ và của Tàu Cộng.

Nhưng nếu Việt Nam và các nước liên quan chấp nhận chủ trương đơn phương không đánh bắt cá trong thời gian Tàu Cộng cấm, thì có thể bị diễn giải là Việt Nam và các nước này đang ngầm công nhận Tàu Cộng có quyền thực thi lệnh cấm đó ở vùng biển theo lý thuộc chủ quyền của mình, về cơ bản đồng nghĩa từ bỏ chủ quyền đối với vùng biển đó. Đặc biệt đối với Việt Nam, phán quyết phủ định đường Lưỡi Bò của tòa trọng tài 2016 về nguyên tắc cũng như trên câu chữ chỉ có hiệu lực và liên quan tới vùng biển của Philippines nên Việt Nam càng bất lợi.

Hiện nay, có vẻ không còn nhiều người không rõ dã tâm của Tàu Cộng trong vụ cấm này nên các nước liên quan, nhất là Việt Nam đã chọn cách phản đối và không tuân theo lệnh cấm đơn phương của Tàu Cộng. Đây gần như là lựa chọn bắt buộc đối với Việt Nam và có bao hàm những nguy cơ như đã nêu, nhất là đối với ngư dân phải liều mạng sống và dĩ nhiên cả tài sản để kiếm sống và qua đó cũng góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, và cũng dĩ nhiên lực lượng chấp pháp VN khó lòng có sự bảo vệ đầy đủ và hiệu quả cho họ.

________

Chú thích:

(1) Thực tế trước đây, lực lượng chấp pháp của Tàu Cộng hoạt động lấn cả qua đường phân giới này.

(2) Thật ra, chế độ cấm đánh cá đưa ra ở Bột Hải, Hoàng Hải, biển Hoa Đông trước vào năm 1995, và đến 1999 mới mở rộng xuống biển Đông. Nhưng có vẻ chuyện này chỉ đưa ra cho có lệ chớ không có thực thi vì không hiếm thấy các nguồn quốc tế đề cập tới, và có lẽ tới năm 2012, 2013 trở đi mới có kèm theo thực thi bài bản

(3) Điều 123 UNCLOS đòi hỏi các nước ven bờ một biển kín hay nửa kín phải hợp tác với nhau để quản lý nguồn tài nguyên sinh vật biển và bảo vệ môi trường biển.

Vẫn còn đó vết thương và nỗi đau của dân tộc!

 

Vẫn còn đó vết thương và nỗi đau của dân tộc!

Lâm Bình Duy Nhiên

30-4-2023

Năm nay, để “kỷ niệm” 48 năm sự kiện 30/4/1975, dường như nhà nước Việt Nam ít ồn ào hơn với những màn ăn mừng, ca nhạc ầm ĩ, duyệt binh rầm rộ như trong quá khứ.

Nhưng không phải vì họ đã thay đổi thái độ và cách nhìn về cuộc chiến, về sự kiện bi thương của dân tộc. Đơn giản, đó chỉ là vấn đề tổ chức, năm chẵn, năm lẻ, con số tròn trịa mà thôi. Cứ chờ sự kiện vào năm 2025 thì sẽ rõ. Sẽ hoành tráng hơn thôi!

Dẫu ít náo nhiệt hơn nhưng trên thực tế, nhà cầm quyền lại tỏ ra hết sức tinh vi thông qua ban Tuyên giáo. Ngay từ tháng 2, tháng 3, trên hệ thống báo chí và nhất là truyền hình, đã có nhiều phim tài liệu, phóng sự, được cho là mang tính lịch sử, nhưng thật ra vẫn là những luận điệu tuyên truyền về ngày 30/4/1975. Vẫn là tội ác “Mỹ nguỵ”, vẫn là “tay sai cho đế quốc”, vẫn là tội ác của một chế độ VNCH thối nát và tồi tệ,…

Đã 48 năm trôi qua, dẫu chiến thắng, nhưng chế độ này vẫn còn “dành” cho phân nửa đất nước và một thể chế chính trị đã bị xoá bỏ, những lời nguyền rủa, chê bai thâm độc nhất và tiểu nhân nhất. Vẫn là những chiêu bài tẩy não người dân, bất chấp thời đại thông tin toàn cầu. Họ vẫn miệt mài, thông qua sự độc quyền về hệ thống truyền thông và cả bộ máy an ninh sẵn sàng đàn áp và khủng bổ những tiếng nói phản kháng, tiếp tục cho ra đời những thế hệ trẻ bị nhồi sọ, vô cảm về lịch sử, nhưng lại rất “tư bản” để hưởng thụ, làm giàu và làm giàu…

Sự tuyên truyền nặng nề, đậm mùi giáo điều vẫn còn đó, tất nhiên cũng tinh vi hơn. Tất cả đều nhắm vào một mục đích duy nhất: tính chính danh của chế độ, của đảng cầm quyền.

Nhà nước vẫn hô hào giải, hoà hợp dân tộc và cho rằng đó là một “chủ trương, chính sách nhất quán” của chế độ nhưng thực tế thì vẫn là những chia rẽ, hận thù mà họ đang duy trì và kiên định theo đuổi.

Chúng ta được quyền đưa ra những câu hỏi hết sức cơ bản: Giờ này mà còn “giải phóng” và “thống nhất” đất nước làm gì nữa?

Không chỉ riêng chế độ, ngay cả nhiều người được cho là “trí thức cấp tiến” của miền Bắc, kêu gọi dân chủ hoá đất nước nhưng vẫn hô hào “giải phóng là đúng” và “thống nhất là cần thiết” và qua đó đánh giá cao vai trò và sứ mệnh “lịch sử” của đảng cộng sản!

Đối với họ, sai lầm sau đó là do những kẻ kế thừa…

Họ vẫn tin tuyệt đối rằng, đó là một cuộc chiến vĩ đại và họ mang một sứ mạng lịch sử đối với dân tộc. Họ vẫn không nhìn thấy rằng, chính lòng yêu nước của họ đã bị lợi dụng một cách hoàn hảo bởi những người lãnh đạo cộng sản, chủ trương bằng mọi giá, “giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước”.

Với những suy nghĩ và nhận thức vấn đề của “kẻ cả”, của kẻ thắng trận thì làm sao hy vọng những vết thương của cuộc chiến đẫm máu dần dần được hàn gắn?

Muốn xoá bỏ đau thương và cả hận thù thì chế độ này có quá nhiều giải pháp nhưng nỗi lo sợ bị “mất Đảng” đã khiến họ tiếp tục duy trì và dung dưỡng sự hận thù và vết thương chiến tranh ấy.

Người viết còn nhớ, cách đây 5 năm, một cậu học trò người Thuỵ Sĩ, đã hỏi tại sao người cộng sản “thống nhất đất nước” nhưng lại có hàng triệu người phải bỏ nước ra đi và đỉnh điểm là thảm hoạ thuyền nhân với hàng trăm ngàn người bị chết nơi biển sâu?

Một câu hỏi hết sức căn bản nhưng vẫn còn quá nhiều người Việt vẫn không chịu hiểu hay muốn hiểu!

Cách đây gần 10 năm, người viết có gởi bài về sự kiện 30/4 cho một tờ báo mạng nhưng ban biên tập từ chối không đăng với lý do chủ đề cũ, không mang tính… thời sự, vả lại nhà nước Việt Nam không còn ăn mừng, chào đón sự kiện ấy một cách thái quá nữa! Hơn nữa, vẫn theo ban biên tập, những bài học lịch sử về biến cố ấy đã được tỉa rút hết rồi, không còn gì đáng nói nữa…

10 năm sau, vẫn không có gì thay đổi!

48 năm qua, cuộc chiến tranh này với điểm mốc lịch sử đen tối là ngày 30/4/1975 vẫn còn mang trong lòng nhiều câu hỏi quan trọng và nhiều sự thật lịch sử chưa được giải mã một cách nghiêm túc và khách quan.

Vì lịch sử vẫn đang được viết và ca ngợi bởi bên chiến thắng!

Chừng nào lịch sử vẫn thuộc về kẻ mạnh với những mỹ từ giáo điều hay những màn ăn mừng kỷ niệm, bất chấp oan hồn của hàng triệu nạn nhân cả hai bên, thì ngày ấy vết thương chiến tranh và nỗi đau của dân tộc Việt Nam vẫn còn hiện hữu.

Tiếc thay, đó là một sự thật không thể nào chối bỏ!

NHỮNG GÌ CẦN BIẾT NHẤT KHI CUỘC CHIẾN UK BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN MỚI?

NHỮNG GÌ CẦN BIẾT NHẤT KHI CUỘC CHIẾN UKRAINE BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN MỚI? 


Cuộc chiến này là cuộc chiến căn cước. Putin xâm lăng vì phủ nhận chủ quyền của Ukraine trong khi người Ukraine chiến đấu để bảo vệ căn cước dân tộc của mình như họ đã từng chiến đấu trong suốt dòng lịch sử. Đây là cuộc chiến đấu giữa một đạo quân và một dân tộc. Điều khác là lần này họ được thế giới ủng hộ và cũng được sự chuyên chở của cả một làn sóng dân chủ. Họ chỉ có thể thắng.

________________

Cuộc chiến tranh Ukraine đã bước vào một giai đoạn mới. Với mặt trận Kherson Ukraine đã chuyển từ thế thủ sang thế công trong khi quân Nga đã lùi từ thế công về thế thủ. Quân Ukraine liên tục mạnh lên trong khi quân Nga ngày càng bối rối. Đây là lúc để nhận định những gì nên được chú ý nhất trong cuộc chiến này.


Thắng bại đã rõ ràng


Điểm đầu tiên cần được nhận định là mặt trận Kherson sẽ quyết định số phận cuộc chiến.


Từ gần hai tháng qua, sau khi chiếm được Severodonetsk và Lysychansk, hai thành phố kế cận nhau tại tỉnh Luhansk, quân Nga hầu như không còn tiến công nữa.


Luhansk và Donetsk là hai tỉnh thuộc vùng Donbass phía Đông Ukraine giáp ranh với nước Nga, nơi có nhiều người gốc Nga và tiếng Nga thông dụng hơn tiếng Ukraine. Năm 2014 các lực lượng thân Nga với sự hỗ trợ của quân đội Nga nổi dậy chiếm cứ bán đảo Crimea và khoảng một nửa vùng Donbass. Quân đội Ukraine vào lúc đó gần như không có sức mạnh nào để có thể phản kháng. Bán đảo Crimea lập tức được sáp nhập vào Nga sau một cuộc trưng cầu dân ý dàn dựng, hai khu ly khai tại Donbass tiếp tục tấn công để chiếm trọn vùng này. 


Như vậy tại đây Nga đã có sẵn lực lượng và cũng có hậu thuẫn địa phương. Mặt khác quân đội Ukraine dần dần được tổ chức và mạnh lên nhờ cuộc nội chiến này. Một cách âm thầm từ năm 2014 Mỹ và Châu Âu cũng đã giúp Ukraine tăng cường lực lượng để tự vệ. Thực lực và tinh thần chiến đấu của quân đội Ukraine sau 8 năm thử thách đã là một bất ngờ rất lớn cho Putin khi ông ta phát động cuộc xâm lược, bắt đầu từ ngày 24 tháng 2.


Trước sự ngạc nhiên của cả thế giới, Ukraine sau khi đã đẩy lùi được cuộc tấn công ồ ạt phía Bắc của quân Nga với mục tiêu chiếm thủ đô Kiev, lật đổ chính quyền Zelensky và thiết lập một chính quyền tay sai. Sau đó Ukraine đã không quyết tâm giữ vùng Donbass mà chỉ ngăn chặn quân Nga được chừng nào hay chừng đó để tập trung cố gắng phản công ở phía Nam, trước hết là chiếm lại thành phố Kherson. Họ hoàn toàn có lý vì miền Nam và Kherson có tầm quan trọng chiến lược hơn hẳn.


Kherson là chặng đường bắt buộc để quân Nga có thể chiếm miền Nam Ukraine, khiến Ukraine mất bờ biển, trở thành một nước lục địa không thể xuất khẩu ngũ cốc –nguồn lợi chính của Ukraine- và bắt buộc phải lệ thuộc vào Nga. Không những thế, nếu chiếm hết được bờ biển phía Nam Nga còn tiếp nối được với Moldavia nơi họ đã chiếm được vùng Trasnistria và đồn trú khoảng 3.000 quân. Quan trọng hơn, tỉnh Kherson, mà thủ phủ là thành phố Kherson, còn tiếp giáp và kiểm soát đường vào lục địa của bán đảo Crimea mà Nga đã chiếm được của Ukraine và ngang nhiên sáp nhập vào Nga năm 2014. 


Chính vì thế mà ngay từ đầu Nga đã dồn quân đánh chiếm được Kherson nhưng sau đó phải khựng lại trước sự chống trả quyết liệt của quân đội Ukraine. Hiện nay Quân đoàn 3 của Nga đang đóng giữ Kherson. Mất Kherson, hay đúng hơn không giữ được Kherson, có nghĩa là mộng chinh phục miền Nam Ukraine của Putin không những tan tành mà Nga còn có thể mất luôn bán đảo Crimea bởi vì đối với thế giới Crimea vẫn là một phần của Ukraine bị chiếm đóng trái phép. Sau đó vùng đất Transnistria mà Nga chiếm đóng của Moldavia cũng sẽ rơi vào tình trạng cô lập tuyệt vọng.


Thực tế là Nga đang thua tại Kherson. Thành phố Kherson có đặc điểm là ở phía Bắc sông Dniepr nối liền với phần còn lại của tỉnh Kherson chủ yếu bằng hai cây cầu Antonovski (ở ngoại ô Kherson) và Nova Kakhova (cách Kherson khoảng 50 km). Cầu lớn và quan trọng nhất là cầu Antonovski. Quân đội Ukraine nhờ có giàn pháo Himars, chính xác và có tầm xa 80 km, đã bắn phá khiến cầu Antonovski này không còn sử dụng được nữa. Cầu Nova Kakhova vì đồng thời cũng là một đập nước quan trọng cho Ukraine nên không thể bị phá hủy mà không gây tai họa lớn nhưng cũng đã trở thành rất khó sử dụng và ngày càng khó sử dụng hơn. Đường tiếp liệu của Quân đoàn 3 của Nga đang chiếm đóng Kherson gần như đã bị chặn và có mọi triển vọng sẽ bị chặn hẳn trong tương lai gần. 


Quân Ukraine cũng đã tái chiếm được khoảng 50 làng chung quanh và đã tiến đến sát thành phố Kherson. Ngay tại Crimea họ cũng bắt đầu phản công bằng các toán đặc công gây cho quân Nga những thiệt hại rất lớn. Putin bị đặt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Rút quân khỏi Kherson là thú nhận thất bại, điều mà Putin không thể làm bởi vì ông ta không ngừng tuyên bố với nhân dân Nga là sẽ chiến thắng, nhưng nếu không rút thì Quân đoàn 3 sớm muộn cũng sẽ bị tiêu diệt và hậu quả còn bi đát hơn. 


Cuối cùng Putin có vẻ đã chọn giải pháp liều lĩnh là đem viện binh tới cứu Kherson. Hiện nay theo các nguồn tin từ hiện trường, Nga đã đem thêm 22.000 quân tới Kherson. Như vậy lực lượng Nga tại đây hiện nay là khoảng 50.000 người. Ukraine cũng đang tăng cường lực lượng với quyết tâm đánh bại quân Nga. 


Các cấp chỉ huy Ukraine tin rằng họ có thể lấy lại được thành phố Kherson một cách khá nhanh chóng. Họ có lý do để tin như vậy nhưng giải phóng được Kherson là một chuyện, giải phóng phần còn lại của tỉnh Kherson ở bên kia bờ sông Dniepr là chuyện khó hơn nhiều. Quân Ukraine sẽ phải chủ yếu tấn công từ Odessa.


Đàng nào thì Kherson cũng sẽ quyết định số phận của cuộc chiến Ukraine, giống như trận Verdun đã quyết định số phận của Thế Chiến I năm 1918. Mặt trận Kherson sẽ rất khốc liệt. Ukraine có mọi triển vọng sẽ thắng vì quân Ukraine ngày càng mạnh hơn và được trang bị hơn trong khi Nga ngày càng gặp khó khăn về mọi mặt và yếu đi như mọi nghiên cứu nghiêm chỉnh chứng tỏ. 


Hơn nữa Nga còn có vấn đề tiếp vận cực kỳ nan giải. Một câu hỏi đang được đặt ra trong lúc này là uy tín của Putin đối với người Nga còn kéo dài được bao lâu nữa ; nhiều dấu hiệu cho thấy là người Nga ngày càng nhận ra rằng cuộc chiến này là một sai lầm bi đát. Một câu hỏi khác là Mỹ và Châu Âu còn kiên nhẫn giúp Ukraine được bao lâu nữa ; câu hỏi bắt đầu được đặt ra dù cho tới nay quyết tâm của Mỹ và Châu Âu chưa hề bị lay chuyển.


Putin muốn gì và đã được gì ?


Gần sáu tháng xung đột đã chứng tỏ Putin không có tầm nhìn và chiến lược nào cả.


Khởi đầu cuộc chiến xâm lược Putin tuyên bố đây chỉ là một cuộc "hành quân đặc biệt", ông ta tin rằng có thể đánh gục chính quyền Kiev trong một vài ngày để dựng lên một chính quyền bù nhìn tay sai. Nhưng thực tế đã trái hẳn, quân Nga đã phải tháo chạy khỏi mặt trận phía Bắc sau khi thiệt hại nặng. Quân Ukraine đã mạnh hơn ông ta tưởng và ngày càng mạnh hơn trong khi quân Nga ngày càng bối rối.


Putin tuyên bố mục tiêu của cuộc xâm lăng này là để ngăn chặn sự bành trướng của NATO và Liên Hiệp Châu Âu, trước hết là không cho Ukraine gia nhập Liên Hiệp Châu Âu. Kết quả là NATO đã mạnh hơn hẳn, tiếp nhận thêm hai thành viên mới là Phần Lan và Thụy Điển, hai nước từ trước đến nay vẫn chủ trương trung lập. Liên Hiệp Châu Âu chính thức nhận đơn xin gia nhập của Ukraine và Moldavia.


Putin hy vọng sự chia rẽ trong nội bộ NATO, trong nội bộ Liên Hiệp Châu Âu, trong nội bộ nước Mỹ và giữa Châu Âu và Mỹ sẽ càng nghiêm trọng hơn trước thử thách của cuộc xâm lăng này và Nga sẽ không gặp phản ứng đáng kể nào. Kết quả đã ngược hẳn, NATO, Mỹ và Châu Âu đã đoàn kết như chưa bao giờ thấy trong một quyết tâm chung là đánh bại Putin.


Cái giá mà Putin bắt nước Nga phải trả đã rất kinh khủng. Nước Nga hoàn toàn bị cô lập, bị nhìn như một nước côn đồ và phải chịu đựng những biện pháp trừng phạt về cả kinh tế lẫn chính trị như chưa bao giờ thấy.


Theo chính quyền Ukraine, hơn 40.000 quân Nga đã thiệt mạng, khoảng 120.000 binh sĩ Nga đã bị thương. Theo giới chức quân sự Mỹ và Anh số quân Nga chết và bị thương là từ 80.000 đến 100.000 người, nghĩa là gần một nửa lực lượng ban đầu đã bị loại khỏi vòng chiến. Nga đã phải tuyển quân từ các nhà tù và phải sử dụng một số lượng lính đánh thuê ngày càng đông. Một quân đội như vậy có giá trị gì ?


Về thiệt hại vũ khí của Nga, các ước lượng của Ukraine, Mỹ và Anh không khác nhau bao nhiêu. Tất cả đều đồng ý rằng Nga đã mất khoảng 2.000 xe tăng, 4.000 xe bọc thép, 1.000 khẩu pháo, trên 200 máy bay, trên 200 giàn phóng tên lửa và gần 200 giàn pháo phòng không. Kho vũ khí của Nga còn lại bao nhiêu ? Điều chắc chắn là Nga không có khả năng sản xuất vũ khí một cách nhanh chóng và vũ khí của Nga về phẩm chất thua xa những vũ khí mà Ukraine nhận được ngày càng nhiều.


Về mặt kinh tế, một nghiên cứu của Đại học Yale cho thấy chính quyền Putin đã ngụy tạo các con số, thậm chí sửa đổi cả các con số đã được công bố trước chiến tranh để cố che giấu những thiệt hại năng nề do các biện pháp trừng phạt. Nhưng làm sao có thể bịa đặt ra những số liệu trong thời đại truyền thông này? Người ta vẫn có thể cộng tổng số xuất khẩu của các nước khác sang Nga để biết rằng nhập khẩu của Nga đã giảm hơn 50% so với trước chiến tranh.


Và cũng có những sự kiện không thể phủ nhận. Thí dụ như hơn 1000 công ty nước ngoài sử dụng trên 12% lực lượng lao động Nga đã bỏ ra đi. Tác dụng dây chuyền sẽ khiến ít nhất ba lần số công nhân của các công ty khác không thể làm việc. Như vậy gần một nửa số công nhân Nga phải bị thất nghiệp, thất nghiệp chính thức hoặc thất nghiệp kỹ thuật. Một thí dụ khác là 86% số lượng khí đốt xuất khẩu của Nga bán sang Châu Âu. Lượng khí đốt này hiện đã giảm 60% và sẽ xuống gần số không vào cuối năm. 


Nga không thể bán khí đốt sang Trung Quốc hay Ấn Độ như nhiều người nghĩ. Khí đốt cần đường dẫn và đường dẫn cần nhiều năm để xây dựng. Dầu của Nga không còn bán sang Châu Âu và các nước dân chủ nữa, một phần được bán sang Trung Quốc và Ấn Độ nhưng hai nước này hiện nay mới chỉ có sức tiêu thụ giới hạn và còn đòi Nga giảm giá 35 USD mỗi ba-rin, nghĩa là hơn 35% (giá mỗi ba-rin hiện nay là 93 USD trên thị trường). Kết luận của nhóm nghiên cứu Đại học Yale rất thuyết phục : kinh tế Nga đã thiệt hại rất nặng, đã lùi ít nhất ba thập niên.


Tóm lại cuộc xâm lược này đã có tác dụng ngược hẳn lại với những gì mà Putin mong đợi, ông ta đã thất bại trong mọi địa hạt, trên mọi phương diện và theo mọi tiêu chuẩn.


Nhìn lại nước Nga và Putin


Sau những trình bày rất tóm tắt trên đây, chúng ta có thể nhìn lại những những nét đậm của nước Nga và Putin.


Trước hết Putin không điên như nhiều người nghĩ. Ông ta có những lý do khá chính xác dù không chính đáng để quyết định xâm lăng Ukraine và cũng có những dữ kiện làm cơ sở cho những lý do đó. Đừng quên rằng Putin nguyên là một sĩ quan tình báo đã nhẩy vọt qua các cấp bậc để nhanh chóng trở thành bá chủ nước Nga. Một người như vậy chắc chắn phải rất xuất chúng, nhất là biết thu thập và sử dụng các dữ kiện.


Putin lo sợ vì Ukraine đang ngày càng mạnh lên về quân sự và ngày càng dứt khoát dân chủ hóa, ngày càng là một đe dọa cho chế độ độc tài Nga, do đó phải ra tay ngay bây giờ trước khi quá trễ. Về điểm này Putin hoàn toàn đúng.


Putin thấy rằng nước Mỹ đã quá chia rẽ và mất ý chí, một cố gắng nhỏ như yểm trợ Afghanistan mà cũng không làm được, phải bỏ chạy để mất hết thể diện trước thế giới ; NATO đã quá rã rượi, bị tổng thống Mỹ Donald Trump đánh giá là lỗi thời và tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho là đã chết lâm sàng ; Liên Hiệp Châu Âu lủng củng, nước Anh vừa rút ra, Ba Lan và Hung đang có những đảng cầm quyền dân túy. 


Nếu có thời điểm nào thuận lợi nhất để xâm chiếm Ukraine mà không sợ Mỹ và Châu Âu phản ứng mạnh thì chính là lúc này. Trên điểm này Putin cũng hoàn toàn có lý.


Putin cũng tin rằng với lực lượng hùng hậu –hơn 200.000 quân, hơn 10.000 xe tăng và xe bọc thép, hơn 1.000 máy bay và trực thăng v.v.- Nga có thể tấn công thần tốc, đánh gục chính quyền Zelensky của Ukraine trong một vài ngày. Sự thực đã trái ngược hẳn nhưng niềm tin của Putin có cơ sở, bằng cớ là cả tổng thống Mỹ lẫn tổng thống Pháp cũng tin như thế và phần lớn các chính quyền trên thế giới cũng tin như họ. Cả Mỹ và Pháp đều đề nghị cho Zelensky tỵ nạn nếu bỏ chạy. Phản ứng của chính quyền và nhân dân Ukraine đã là một bất ngờ cho cả thế giới, không riêng gì Putin.


Những câu hỏi thực sự cần được đặt ra sâu xa hơn nhiều. Đó là tại sao Putin lại sợ Ukraine mạnh lên và trở thành một nước dân chủ đúng nghĩa ? Tại sao ông ta lại thấy cần phải xâm lăng Ukraine ? Và tại sao ông ta lại có thể ngang ngược tự cho mình quyền đem quân xâm chiếm một nước khác bất chấp cả đạo đức và luật pháp quốc tế, làm chết hàng trăm nghìn người và khiến hàng chục triệu người phải tản cư, mất nhà cửa và tài sản? Những câu hỏi này liên quan tới lịch sử, đạo đức, tư tưởng và tầm nhìn xa về tương lai thế giới, nhưng đó là những phạm trù mà những bạo chúa, những nhà độc tài và những tay điệp viên, tình báo như Putin không biết tới và không quan tâm.


Lich sử nước Nga rất phức tạp nhưng một cách tổng hợp có thể nói là từ ngàn xưa Nga và các nước lân cận vẫn là một thế giới riêng, xa xôi, bao la, băng giá và tách biệt với phần còn lại của thế giới. Trong vùng đất đó, các sắc dân cướp phá và thống trị lẫn nhau, chiến tranh và bạo lực là quy luật tự nhiên và duy nhất. Đế quốc Nga đã được thành lâp từ thế kỷ 14 bởi một băng đảng cướp Viking mới đầu chiếm đóng và thống trị Kiev và vùng phụ cận từ thế kỷ 10, đến thế kỷ 14 bỏ đi vì bị chống đối từ cả trong lẫn ngoài và đến lập nghiệp tại Moskva rồi dần dần bành trướng ra và mạnh lên. Do điều kiện địa lý khắc nghiệt, đế quốc Nga gần như bất khả xâm phạm. 


Các mưu toan chính phục dù là Napoleon thế kỷ 19, Hitler thế kỷ 20 hay Ba Lan trước đó đều thảm bại vì lý do thời tiết. Có một câu nói đùa rằng Nga có hai vị tướng đại tài bách chiến bách thắng là Giêng (January) và Hai (February). Sự an toàn đó và tập quán bạo lực của vùng đã khiến các vua chúa Nga thoải mái cai trị bằng bàn tay sắt. Tất cả các Nga Hoàng đều là những bạo chúa và được đánh giá qua những thành tích chiến tranh và chinh phục. Những Nga Hoàng được tôn vinh nhất – Ivan Kinh Khủng, Peter Đại Đế, Catherine Đại Đế và gần đây Stalin- cũng là những bạo chúa hung ác nhất. 


Họ có thể học hỏi những kỹ thuật của Phương Tây, như Peter Đại Đế, nhưng không bao giờ chấp nhận văn hóa Phương Tây. Họ không chỉ bác bỏ mà còn thù ghét dân chủ. Họ không hề bị nhân dân lên án về những tội ác bởi vì trong cấu trúc tâm lý của xã hội Nga chủ quyền, nhân quyền và nhân đạo hoàn toàn vắng mặt. Chúng chỉ mới ló dạng một cách yếu ớt gần đây. Cho tới nay Nga vẫn là một ngoại lệ, một thế giới riêng.


Putin không ngu xuẩn như nhiều người nghĩ, trái lại ông ta rất thông minh, nhưng ông ta là một sản phẩm và một tù nhân của lịch sử Nga. Putin muốn để tên lại trong lịch sử như một đại anh hùng đã khôi phục lại sự vĩ đại của Đế Quốc Nga và Liên Bang Xô Viết. Chính vì thế mà cho đến nay ông ta vẫn được đa số người Nga tôn sùng. Người Nga sau hàng ngàn năm bị ép buộc phải tôn sùng bạo lực và chiến tranh đã mắc tâm lý tôn sùng bạo lực và chiến tranh. Sai lầm chết người của Putin là không biết rằng thế giới đã thay đổi, ngoại lệ Nga phải chấm dứt và dù muốn hay không nước Nga cũng phải cố gắng để thích nghi.


Cuộc chiến dù chưa kết thúc nhưng sự thắng bại đã rõ ràng. 


Ukraine sẽ thắng và quả quyết xây dựng dân chủ. Nga sẽ thảm bại, bằng cách này hay cách khác Putin sẽ bị đào thải, chế độ độc tài sẽ sụp đổ và phần đất đóng kín với thế giới sẽ vĩnh viễn mở ra. Kết quả nổi bật nhất của cuộc chiến này là thành trì kiên cố nhất, cho tới nay bất khả xâm phạm, của độc tài chuyên chế sẽ thất thủ. Làn sóng dân chủ thứ tư sẽ tràn tới Nga.


Ngoại lệ Ukraine


Nếu Đế quốc Nga là một ngoại lệ trong lịch sử thế giới thì Ukraine cũng là một ngoại lệ trong vùng chịu ảnh hưởng Nga. Được mô tả trong vài truyện tích Hy Lạp như là một thiên đường trên mặt đất, vùng đất Ukraine đặc biệt phì nhiêu và dồi dào lương thực nên con người ở đây không cần cướp bóc và giết nhau để sống. Thành phố Kiev được thành lập rất sớm, khoảng thế kỷ thứ 6, và cư dân sinh sống với nhau trong hòa bình. Nhưng cũng chính vì có lương thực dồi dào mà Ukraine nhanh chóng trở thành mồi ngon cho các thế lực hiếu chiến bên ngoài. 


Từ thế kỷ 10 họ bị đảng cướp Viking chinh phục và thống trị. Từ thế kỷ 14, khi đảng Viking này bỏ đi, họ bị Lithuania rồi Ba Lan thống trị và bóc lột. Sau cùng, từ thế kỷ 18, là Đế quốc Nga. Lịch sử của Ukraine là lịch sử đau thương của một dân tộc luôn luôn bị chiếm đóng và phải chiến đấu chống ngoại xâm, nhưng cũng vì thế mà hơn mọi dân tộc Đông Âu người Ukraine có tinh thần dân tộc của những con người cùng chia sẻ một số phận và cùng mong muốn tự do. Ukraine là nước duy nhất trong vùng có tinh thần dân chủ rất sớm, chính vì vậy mà Ukraine đã có thể có những cuộc cách mạng dân chủ Màu Cam năm 2004 và Maidan năm 2014. Trong suốt mười thế kỷ người Ukraine đã chiến đấu rất quyết liệt để giành lại chủ quyền. 


Chỉ riêng trong 27 năm của nửa đầu thế kỷ 20, từ 1918 đến 1945, họ đã ba lần nổi dậy chống Liên Xô đòi độc lập và khoảng 15 triệu người Ukraine, một nửa dân số vào lúc đó, đã thiệt mạng, 3 triệu người khác đã bị Stalin lưu đày sang Siberia. Trái với khẳng định bá quyền hồ đồ của Putin, Ukraine không hề là một phần của Nga. Quan hệ giữa hai nước chỉ là quan hệ thù địch và cũng không dài, trong đó Nga thống trị và đàn áp rất dã man còn Ukraine là nạn nhân đau khổ.


Bất ngờ lớn đã khiến cả thế giới sửng sốt là sự chống trả anh dũng của Ukraine, nhưng nếu nhìn lại lịch sử quan hệ Nga - Ukraine thì người ta không mấy ngạc nhiên. Người Ukraine không bao giờ tháo chạy trước quân Nga, bởi vì khi họ đối diện với Nga thì sự căm thù và phẫn nộ còn lớn hơn nỗi sợ, kể cả cái chết.


Cuộc chiến này là cuộc chiến căn cước


Putin xâm lăng vì phủ nhận chủ quyền của Ukraine trong khi người Ukraine chiến đấu để bảo vệ căn cước dân tộc của mình như họ đã từng chiến đấu trong suốt dòng lịch sử. Đây là cuộc chiến đấu giữa một đạo quân và một dân tộc. Điều khác là lần này họ được thế giới ủng hộ và cũng được sự chuyên chở của cả một làn sóng dân chủ. Họ chỉ có thể thắng. Ukraine sẽ khẳng định dứt khoát là một quốc gia có đầy đủ chủ quyền. Một nước dân chủ lớn sẽ được thành hình trên phần đất Liên Xô cũ kéo theo trong một tương lai không xa là Kazackhstan.


Cuộc chiến Ukraine sẽ thay đổi hẳn bối cảnh thế giới. Giờ này còn quá sớm để nói trật tự thế giới mới sẽ như thế nào. Điều chúng ta có thể quả quyết là trật tự đó sẽ là trật tự dân chủ và các chế độ độc tài không chịu thích nghi kịp thời sẽ có số phận rất bi đát bởi vì đà tiến hóa của lịch sử luôn luôn rất tàn nhẫn với những kẻ ngoan cố chống lại nó.


Nguyễn Gia Kiểng

TRUNG QUỐC ĐƯỢC LỚN HAY THUA LỚN ?

 TRUNG QUỐC ĐƯỢC LỚN HAY THUA LỚN ? 


(Nguyễn Gia Kiểng)


Nhiều nhà bình luận cho rằng Trung Quốc đang ở vị trí thoải mái của một ngư ông đắc lợi trong cuộc chiến Ukraine và họ khiến nhiều người cũng nghĩ như thế. Đúng không ?


Nhận định này không phải không có lý do. Trong khi Liên bang Nga đang khốn đốn vì sa lầy, Mỹ, Châu Âu và các nước dân chủ đang chật vật vì vừa phải giúp đỡ Ukraine vừa phải tiếp đón thêm hàng triệu người tỵ nạn mới và đương đầu với những khó khăn nội bộ do chính những biện pháp trừng phạt mà họ quyết định đối với Nga thì Trung Quốc gần như đã chiếm được thị trường Nga và còn được mua dầu khí của Nga với giá đặc biệt rẻ. Không những thế, Nga còn phải bắt buộc nhìn Trung Quốc như đàn anh và chỗ dựa duy nhất. Quá đẹp để có thể đúng.


Một số nhà bình luận bình luận bị ấn tượng vì ngoại thương Nga – Trung đã gia tăng 50% trong vòng một năm nhưng họ không lưu ý rằng kinh tế Nga rất yếu, tổng sản lượng nội địa (GDP) của Nga, 1.450 tỷ USD, chỉ là 1,4% GDP của thế giới. Ngoại thương của Nga lại càng yếu, chưa bằng một nửa ngoại thương của Việt Nam. Xuất nhập khẩu Nga – Trung năm 2021 chỉ là 125 tỷ USD, chưa tới 2% ngoại thương Trung Quốc, nếu có tăng lên 50% thì cũng vẫn chưa tới 3%, nghĩa là không đáng kể. Một cách cụ thể, theo những ước lượng thuận lợi nhất cho Trung Quốc, ngoại thương Nga – Trung có thể đã đạt con số 190 tỷ USD năm 2022 nhưng vẫn chỉ sấp xỉ bằng 10% xuất nhập khẩu của Trung Quốc với Mỹ và Châu Âu. Số gia tăng 50 tỷ USD, nếu đúng, cũng không thấm vào đâu so với sự sút giảm của ngoại thương Trung Quốc với các nước khác do hậu quả của cuộc chiến Ukraine. Trong ba tháng cuối năm 2022 Trung Quốc đã nhập siêu hơn 11 tỷ USD. Tóm lại Trung Quốc được lợi nhỏ tại Nga nhưng thiệt hại lớn trên thế giới.


Nhức nhối hơn nhiều cho Trung Quốc là quan hệ với các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ, như Tadjikistan, Kirghistan, Turmenistan, Azakhstan, Azerbaidjan, Georgia, Amenia. Các nước này đều sống trong sự lo âu phẫn nộ đối với Nga bởi vì những cuộc xâm lăng của Nga vào Georgia năm 2008 và Ukraine năm 2014 và hiện nay cũng rất có thể xảy ra cho họ. Các nước này đều đòi Trung Quốc phải can thiệp để Nga rút quân và chấm dứt cuộc xâm lăng Ukraine và họ có vị thế để đòi Trung Quốc như vậy vì họ đang là đối tượng tranh thủ của Trung Quốc trong tham vọng mở rộng ảnh hưởng, đồng thời cũng là những chặng đường đầu tiên và quan trọng nhất của Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường của Trung Quốc. Trung Quốc bắt buộc phải chiều ý họ nhưng lại không thể thuyết phục Putin chấp nhận thua. Sự bối rối của Trung Quốc có thể thấy rõ. Bắc Kinh bỏ phiếu trắng trong các nghị quyết lên Nga xâm lược Ukraine và cho tới nay vẫn không nhìn nhận việc Nga đơn phương sáp nhập bán đảo Crimea và bốn tỉnh phía Đông của Ukraine. Đối với Trung Quốc các vùng này vẫn thuộc Ukraine. Giữa Nga và các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc không muốn mất lòng bên nào rốt cuộc mất lòng cả hai. Thiệt hại rất lớn.


Cuộc viếng thăm Moskva vừa qua của Tập Cận Bình được dự trù kéo dài ba ngày, một thời gian dài một cách không bình thường, có lẽ vì Tập Cận Bình thấy cần thời gian để cố thuyết phục Putin chấm dứt cuộc xâm lăng Ukraine. Nhưng thuyết phục như thế nào ? Đó là điều Tập không thể làm được bởi vì đối với Putin thua trận gần như đồng nghĩa với mất cả quyền lực lẫn tính mạng. Putin chỉ có thể yêu cầu Tập Cận Bình giúp đỡ để nếu không chiến thắng thì cũng không đến nỗi thảm bại nhưng đó là điều mà Tập Cận Bình không thể làm nếu không muốn gây phẫn nộ cho các nước Trung Á và chính thức khai tử Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường. Điều tối đa mà Tập có thể làm là thôi ép buộc Nga phải bán dầu cho Trung Quốc với giá rẻ đổi lại với việc Putin rút quân khỏi Ukraine, nhưng đối với Putin đó chỉ là đòi đổi một quả trứng lấy một con gà. Kết quả là cuộc gập gỡ chỉ kéo dài hai ngày thay vì ba ngày, Tập Cận Bình ra về từ sáng sớm hôm thứ tư 22 tháng 3. Một thú nhận thất bại.


Chưa hết. Để khỏi phải chấp nhận thất bại ra về tay không, Tập Cận Bình đã phải trả một giá đắt khác. Hai bên Nga - Trung đã ra tuyên bố chung gượng gạo xác nhận tình hữu nghị hợp tác giữa hai nước và đồng thuận về một trật tự thế giới mới mà hai bên sẽ cùng nhau phấn đấu để lập ra dù không nói rõ là trật tự nào. Nhưng có những trường hợp mà không nói cũng là đã nói. Cả thế giới đều hiểu ngay Nga và Trung Quốc muốn gì. Cả hai đều là những đế quốc và trật tự thế giới mới đó chỉ có thể là trật tự đế quốc, theo đó kẻ yếu phải phục tùng kẻ mạnh, nước nhỏ phải phục tùng nước lớn, nếu muốn được yên thân, kẻ mạnh muốn gì cũng được. Như Nga đem quân đánh Ukraine vì Ukraine muốn dân chủ, như Việt Nam trước đây phải triều cống Trung Quốc, như Trung Quốc có thể đơn phương tuyên bố Đường Chín Đoạn tự coi Biển Đông là thuộc về mình. Cả Nga và Trung Quốc phủ nhận "trật tự cũ" được xác nhận trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc theo đó mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù mạnh hay yếu, đều có những quyền căn bản như nhau, đều bình đẳng trước công pháp quốc tế, đều phải được đảm bảo chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ. Vô tình Trung Quốc đã thách thức thế giới. Khuynh hướng tẩy chay Trung Quốc sẽ chỉ mạnh lên, điều mà Tập Cận Bình chắc chắn không muốn.


Cũng trong cố gắng gỡ rối, Tập Cận Bình và Putin đã phạm một sai lầm khác. Một khái niệm mới vừa được họ khai sinh, đó là khái niệm khối "Phía Nam nói chung" (Global South) gồm các nước nghèo bất luận ở Nam hay Bắc bán cầu, khác biệt với các nước giầu, tương tự như Phương Đông khác biệt với Phương Tây. Nga và Trung Quốc muốn tranh thủ khối các nước nghèo để đương đầu với khối các nước dân chủ phát triển, đứng đầu là Mỹ.


Với khái niệm Global South này Tập Cận Bình muốn tranh thủ sự ủng hộ của các nước nghèo tại Châu Phi và Châu Mỹ Latin nhưng đây chỉ là một sáng kiến vớ vẩn khác sau Sáng kiến Vành Đai và Con Đường. Các nước nghèo cần sự hợp tác của các nước phát triển chứ không cần các quan thầy độc tài, nhất là những chế độ độc tài bế tắc. Trung Quốc của Tập Cận Bình qua Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường đã chỉ kéo họ vào bẫy nợ, sau khi bị thiệt hại nặng và kéo chính mình vào bẫy nợ. Vả lại Trung Quốc lúc này không còn khả năng nào để giúp các nước nghèo, bằng cớ là Trung Quốc đã không cứu nguy được ngay cả những nước mà họ đã tranh thủ được sau những tốn kém rất lớn như Sri Lanka, Lào và Pakistan.


Vậy phải hiểu thế nào về những sáng kiến của Tập Cận Bình trong cuộc chiến Ukraine ? Câu trả lời là một kẻ sa lầy càng quậy càng sa lầy nhanh hơn.


Nguyễn Gia Kiểng


(03/04/2023)