Ông Alexei Navalny, nhà bất đồng chính kiến người Nga tham gia biểu tình ở Moscow, Nga, hôm 29/2/2020. Nguồn: Reuters
Báo Christian Science Monitor đưa tin hồi tuần trước, rằng nhà bất đồng chính kiến người Nga, ông Alexei Navalny hiện đang ở tù, đã nhận được giải thưởng nhân quyền cao quý nhất ở châu Âu. Giải thưởng này nhằm tưởng nhớ đến các hoạt động của ông cho quyền tự do tư tưởng.
Bài báo cho rằng, nếu bất kỳ lúc nào chế độ Bắc Hàn sụp đổ thì giải thưởng Nobel Hoà bình nên thuộc về nhóm những người già cả ở Bắc Hàn. Theo đài Á châu Tự do, hiện những người dân này bị cấm ra ngoài công viên và những nơi công cộng khác vì trong cuộc trò chuyện hàng ngày họ luôn chỉ trích chế độ. Sau hàng chục năm bóp nghẹt, chế độ dường như không thể nào cấm đoán người dân nói lên suy nghĩ của họ.
Tự do như thế tồn tại rộng rãi ở Bắc Hàn, là một minh chứng cho sức mạnh của chân lý phổ quát trong suy nghĩ của mỗi người và cho sự tự do giúp mỗi người coi những người khác tự do. Những ai thực hành và vận động cho các quyền tự do như thế, thường được trao tặng những giải thưởng quốc tế.
Chẳng hạn, giải Nobel Hoà bình năm nay được trao cho hai nhà báo, một ở Nga và một ở Philippines, vì họ đăng bài khi đang sống trong lòng chế độ áp bức. Nghị viện châu Âu đã trao giải thưởng Tự do Tư tưởng Sakharov hàng năm cho một người Nga khác: Ông Alexei Navalny, một nhà bất đồng chính kiến ủng hộ dân chủ và là người chống tham nhũng hàng đầu ở Nga.
Theo BBC, giải thưởng này đã “thu hút sự quan tâm rất lớn từ mạng blog Nga”. Cho dù bị đầu độc hai lần và bị tống vào tù hồi đầu năm nay, nhưng ông Navalny vẫn được xem là người có đạo đức đối với nhiều người Nga, những người lên tiếng chống Tổng thống Vladimir Putin và tệ nạn tham nhũng tràn lan ở Nga, đây cũng là điều mà ông Navalny thường xuyên vạch trần.
Ông đoạt giải thưởng vì “rất dũng cảm trong nỗ lực khôi phục quyền tự do lựa chọn cho người dân Nga“. Nhưng như Tổ chức Chống Tham nhũng của ông gởi đi thông điệp trên Twitter hôm 20/10, rằng giải thưởng này dành cho “tất cả những ai quan tâm, những người mà ngay cả vào những thời điểm đen tối nhất, vẫn không ngại nói lên sự thật”.
Một tác dụng có thể có của giải thưởng này là biết đâu nhờ nó giúp ông Navalny tránh bị hại. Ông Putin có thể không giữ ông ta, hoặc để cho ông Navalny chết trong tù ngay bây giờ vì Liên Âu kiên vinh danh nhà bất đồng chính kiến này và mục tiêu tranh đấu của ông.
Sự đàn áp thường đến từ lãnh đạo sợ mất quyền hành đối với dân chúng dân hoặc đối với tư tưởng. Giải thưởng của Liên Âu được đặt tên Andrei Sakharov, là tên của một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng thời chiến tranh Lạnh. Ông là một nhà khoa học hạt nhân Xô-viết và người công khai ủng hộ nhân quyền. Ông viết rằng, tự do tư tưởng là sự bảo đảm duy nhất chống lại những niềm tin không đúng, do các chế độ độc tài loan truyền ra trong dân chúng.
Ngay cả những người già ở Bắc Hàn cũng biết điều đó, bất chấp hàng chục năm họ bị tẩy não không thành. Tự do tư tưởng là giải phóng khỏi sợ hãi. Càng nhiều giải thưởng thì càng tốt cho những người đấu tranh cho tư tưởng đơn giản này.
Sau này, nếu ai viết về lịch sử tư pháp Việt Nam chớ có quên phiên tòa Thới Lai. Gắn cho nó màu gì, tùy người biên chép. Chỉ có điều nó rất buồn cười, thậm chí giống trò đùa.
Ai đời, như tường thuật của báo Tuổi Trẻ hôm 27.10, ngày đầu phiên xử Báo Sạch, tòa cho biết bị cáo Thắng đang ở Hà Nội có đơn xin vắng mặt, đã làm cam kết chấp nhận mọi phán quyết của tòa. Hỏi tại sao không triệu tập bị cáo vào, tòa bảo do hoàn cảnh, nhất là đang có dịch… Đúng là đùa, giống như học trực tuyến, giờ bắt chước xử trực tuyến chăng. Đường bay đã nối lại, đã “cuộc sống bình thường mới”, khó gì việc đưa đương sự vào. Nhưng tòa cứ thích xử vắng mặt, làm gì nhau.
Lại nhớ xứ này chả thiếu vụ xử vắng mặt. Thậm chí cả án tử hình vắng mặt. Chánh, phó tổng thống chính quyền Sài Gòn từng bị phe “cách mạng” kết án tử hình vắng mặt. Nhưng như thế vẫn chưa ghê bằng các văn nghệ sĩ Phạm Duy, Mai Thảo, Du Tử Lê cũng bị án tử hình treo. Ông Hoàng Văn Hoan do mâu thuẫn trốn sang Trung Quốc cũng nhận án tử hình… Cộng sản biết là không thể bắt được đối tượng, nhưng cứ lập tòa tuyên án triệt sinh cho bõ ghét, để trong lý lịch có vệt mực tàu án tử hình. Báo Sạch chả là cái đinh trước ý chí của quan tòa, tha tử hình là may. Chẳng phải không có lý khi người ta định nghĩa “cách mạng” là thích cách cái mạng của người khác, lớn thì bằng chiến tranh, nhỏ thì bằng tòa án.
Các thành viên nhóm Báo Sạch bị truy tố cả “tội” lem nhem tiền bạc, nào là thu bao nhiêu trăm triệu, bao nhiêu tỉ đồng của doanh nghiệp rồi… chia nhau. Báo chí mậu dịch a dua a tòng với tòa cũng đưa tin rất mập mờ, lại còn dùng thủ đoạn gây chia rẽ nói bị cáo Trung Bảo vẫn còn giữ riêng vài trăm triệu. Tòa và báo cố tình lơ đi (chứ không phải không biết) nhóm Báo Sạch có cả công ty truyền thông do Trung Bảo phụ trách, mọi hoạt động tài chính, quảng cáo đều theo đúng quy định của pháp luật. Tiền ấy là từ hợp đồng truyền thông với doanh nghiệp, là tiền công, tiền thu nhập chính đáng chứ không phải do ăn cướp, ăn cắp của ai. Lôi cả chuyện này vào phiên xử, có nhẽ tòa đã hết cách gán tội. Nếu kiếm tiền chính đáng đều bị tội thì cả nước này thành tù nhân hết. Có lẽ thành viên Báo Sạch đã nộp thuế thu nhập, chứ trốn thì đời nào nhà chức việc bỏ qua.
Hồi ông Điếu cày Nguyễn Văn Hải bị lôi xềnh xệch ra tòa xử, khó kiếm tội quá, cuối cùng chẳng bị kết tội trốn thuế do có nhà cho thuê mà không nộp thuế thu nhập đó sao. Chuyện ấy ai cũng biết.
Chiều 28.10, tòa huyện Thới tuyên án, phạt Báo Sạch về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Đây là thứ tội rất vu vơ, áp dụng trong vài nghìn năm cũng được, với bất cứ ai. Ông hàng xóm nhà tôi cười bảo làm quái gì có quyền tự do dân chủ mà lợi dụng, gớm, nếu có thì đã quý.
Nói cho cùng, những hoạt động, hành vi của “đám” Báo Sạch, nếu có vi phạm pháp luật cũng chả đáng phải phạt hành chính chứ đừng nói lôi ra tòa. Nhưng trong con mắt nhà cai trị phải trừng trị. Tội” lớn nhất của Báo Sạch là gây khó chịu cho họ, dám lấn chính quyền để chống tiêu cực chống tham nhũng ngoài luồng, dám hoạt động tách khỏi sự chỉ đạo của hệ thống chính trị do đảng cầm đầu, dám khẳng định và bày tỏ tinh thần tự do dân chủ khi chưa có cái quyền đó, dám tự do báo chí.
Dập tắt Báo Sạch không cốt nhằm vào mấy cá nhân hăng hái, mà chính để dập lụi ngay những mầm mống của tự do dân chủ, của tự do báo chí, dập luôn cả tinh thần ngay thẳng chống tham nhũng tiêu cực trong dân chúng bởi sự chống này có hại cho “lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân”.
Báo Sạch chỉ là nhúm cỏ khô, phải đốt cho khéo kẻo lây lan ra cả cánh đồng. Đó là lý do của phiên tòa Thới Lai.
Bà con xem 2 chuyện tương tự, xảy ra ở Tây và Ta, Luật pháp có 2 cách giải quyết khác nhau.
1. Trường hợp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron
Tổng thống yêu cầu mọi người dân bắt buộc tiêm vaccine, nhưng một số người dân phản đối, coi đó là “độc tài” và Michel-Ange Flori một nhà làm quảng cáo đã “biếm hoạ” tổng thống giống như Hitler…
Bảng quảng cáo mô tả ông Macron như là Adolf Hitler như một phần của chiến dịch chống lại việc tiêm chủng Coronavirus bắt buộc, bên cạnh khẩu hiệu ‘Tuân theo: Tiêm chủng’
Theo Ebiz, “Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đang kiện người tạo ra một tấm áp phích mô tả ông là Adolf Hitler trong chiến dịch chống lại việc tiêm chủng Coronavirus bắt buộc”…
“Bức tranh đã được trưng bày ở miền Nam nước Pháp vào đầu tháng này, bao gồm cả ở thành phố cảng Toulon ở Địa Trung Hải, bên cạnh khẩu hiệu ‘Tuân theo: Hãy tiêm chủng’.
Trong tất cả các áp phích, biểu tượng Đức Quốc xã đã được thay thế bằng LREM – ám chỉ đến đảng của ông Macron”…
Các Luật sư của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện hành động pháp lý nộp đơn kiên Michel-Ange Flori.
Ông Flori cho biết: “Họ xác nhận rằng đã có đơn khiếu nại từ Elysée. Tôi đã rất ngạc nhiên và bị sốc”.
Flori còn có “tiền sự”, nhiều lần vẽ tranh “bôi xấu” hình ảnh Tổng thống.
“Nhưng ông luôn tự cho mình là một nhà đấu tranh cho tự do ngôn luận, người coi thường thói đạo đức giả của ‘Je Suis Charlie’ của Pháp”.
Như vậy, một công dân xúc phạm Tổng thống cũng là một công dân, thì phải kiện nhau ra Toà xét xử.
2. Trường hợp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
TBT Trọng bị blogger Phạm Thành viết nhiều bài phê phán, xúc phạm và xuất bản thành cuốn sách “Nguyễn Phú Trọng- thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo?” phát tán trong xã hội.
Nhưng các Luật sư của TBT Trọng không kiện, mà công an bắt ông Thành, rồi đem ra xét xử với tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117, khoản 1 – Bộ luật Hình sự năm 2015” và bị kết án 5 năm 6 tháng tù…
Mà tội chủ yếu của ông Thành là: “Đến tháng 7-2019, Phạm Chí Thành tập hợp các bài viết đã đăng tải và được sao lưu trong máy tính, rồi biên soạn, chỉnh sửa lại thành tập tin (file) tài liệu riêng. Thành tự thiết kế bìa, đặt tên sách là “Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo”, ghi thông tin tác giả là “Bà Đầm Xòe Phạm Thành & Các còm sĩ”… sau đó thuê in rồi phát tán quyển sách trên”…
Đại diện bên bị hại của TBT Nguyễn Phú Trọng không hề xuất hiện.
TÓM LẠI:
– Tổng thống Pháp cũng là 1 công dân, khi bị công dân khác xúc phạm thì phải kiện ra Toà, xét xử theo Luật dân sự.
– Ông Thành xúc phạm TBT Trọng là “chống phá Nhà nước CHXHCNVN”, bị xét tội hình sự.
Hai nền dân chủ khác nhau vậy đó.
(Ps: Tôi chưa biết kết quả Toà bên Pháp xử vụ Tổng thống kiện ông Flori ra sao. Bạn nào biết thông tin dùm. Cám ơn).
Bắc Kinh có thể nghĩ rằng họ có cơ hội để chiếm Đài Loan trước khi các khoản đầu tư quân sự của phương Tây mang lại kết quả.
Mỹ và Trung Quốc đang tham gia vào một “cuộc cạnh tranh chiến lược”, như cách nói của chính quyền Biden, trong đó Đài Loan nổi lên là tâm điểm. Nhưng một quan điểm đang dần chiếm ưu thế trong chính quyền Mỹ dường như cho rằng mặc dù Trung Quốc là một thách thức nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ đối với lợi ích của Mỹ, nước này không gây ra một mối đe dọa quân sự trực tiếp nào. Đây là một giả định rất thiếu thận trọng, có thể dẫn đến chiến tranh và cuối cùng là thất bại của Mỹ. Để tránh kết cục thảm hại đó, Hoa Kỳ phải nhận ra rằng Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự, và xung đột có thể sớm xảy ra.
Điều gì khiến Trung Quốc trở thành mối đe dọa quân sự khẩn cấp? Đầu tiên, Bắc Kinh đã nói rõ rằng họ sẵn sàng sử dụng vũ lực để chiếm Đài Loan. Việc khuất phục hòn đảo không chỉ là chuyện thu hồi một tỉnh mà họ cho là đã mất, mà đó còn sẽ là một bước quan trọng để giúp Trung Quốc thiết lập quyền bá chủ ở châu Á. Và đây không chỉ là nói suông. Quân đội Trung Quốc đã diễn tập các cuộc tấn công đổ bộ, và hình ảnh vệ tinh thương mại cho thấy Trung Quốc cũng đã diễn tập các cuộc tấn công quy mô lớn nhắm vào lực lượng Hoa Kỳ trong khu vực.
Thứ hai, Trung Quốc không chỉ có ý chí xâm lược Đài Loan, mà ngày càng có khả năng tiến hành mục tiêu này một cách thành công. Trung Quốc đã dành 25 năm để xây dựng một quân đội hiện đại, phần lớn là nhằm để khuất phục Đài Loan. Trung Quốc hiện có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới với một lực lượng không quân khổng lồ và tiên tiến, kho vũ khí tên lửa và mạng lưới vệ tinh. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc có thể tiến hành một cuộc xâm lược Đài Loan thành công ngay vào ngày mai, nhưng Bắc Kinh có thể ở rất gần mục tiêu đó. Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan cho biết gần đây rằng Trung Quốc sẽ “hoàn toàn có năng lực để xâm lược” vào năm 2025. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang được cải thiện hàng tháng.
Thứ ba, Trung Quốc có thể nghĩ rằng cửa sổ cơ hội của họ đang khép lại. Nhiều cuộc chiến đã bắt đầu chỉ vì một bên nghĩ rằng họ chỉ có một khoảng thời cơ nhất định để khai thác. Chắc chắn đây là một yếu tố chính dẫn đến sự bùng nổ của hai cuộc chiến tranh thế giới. Bắc Kinh có thể đánh giá họ cũng đang đối mặt với một trường hợp tương tự ngày nay.
Cuối cùng thì dù chậm chạp và không nhất quán, nhưng Hoa Kỳ cuối cùng cũng đã thức tỉnh trước mối thách thức đến từ Trung Quốc và định hướng lại các nỗ lực quân sự của mình hướng vào châu Á. Nhưng những khoản đầu tư này sẽ không thực sự bắt đầu đơm hoa kết trái cho đến cuối thập niên này. Trong khi đó, các liên minh như Bộ Tứ (Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ) đang liên kết để ngăn Trung Quốc có được khả năng thống trị khu vực. Theo quan điểm của Bắc Kinh, nếu chờ đợi quá lâu, các khoản đầu tư quân sự của Mỹ sẽ biến Mỹ trở thành một đối thủ quân sự đáng gờm hơn nhiều, trong khi một liên minh quốc tế lại hoạt động để cản trở tham vọng của Trung Quốc.
Tất cả điều này làm gia tăng thêm tình huống mà trong đó Bắc Kinh có thể nghĩ rằng tốt hơn hết là nên sử dụng vũ lực sớm hơn muộn. Để tránh xung đột và có thể là cả một thất bại, Mỹ phải nhanh chóng hành động để răn đe Bắc Kinh. Liên tục tuyên bố cam kết “vững như bàn thạch” của chúng ta đối với Đài Loan là một điều tốt nhưng chưa đủ.
Ưu tiên cấp bách nhất là Đài Loan phải nâng cấp triệt để hệ thống phòng thủ của mình. Những nỗ lực của riêng hòn đảo trên khía cạnh này sẽ quyết định liệu họ có thể tồn tại như một xã hội tự do hay không. Đài Bắc phải tăng gấp nhiều lần ngân sách quốc phòng, vốn bị lơ là nhiều trong những thập niên gần đây, và tập trung các khoản chi tiêu và nỗ lực của mình vào hai việc: ngăn chặn một cuộc xâm lược của Trung Quốc với sự giúp đỡ của Mỹ, và giúp hòn đảo có được khả năng chống chọi trước một cuộc phong tỏa hoặc không kích của Bắc Kinh. Điều này sẽ đòi hỏi tên lửa chống hạm, ngư lôi và hệ thống phòng không, cũng như kho dự trữ vật tư để chống chịu được một cuộc phong tỏa. Hoa Kỳ sẽ cần sử dụng mọi đòn bẩy để thúc đẩy hoặc buộc Đài Bắc phải thực hiện sự thay đổi này.
Washington cũng nên gây áp lực tương tự lên Nhật Bản, đồng minh quan trọng nhất của Mỹ. Nếu Đài Loan thất thủ, Nhật Bản sẽ bị Bắc Kinh đe dọa quân sự trực tiếp. Và Nhật Bản sẽ đóng một vai trò quan trọng trong bất kỳ nỗ lực phòng thủ nào của Đài Loan. Nhật Bản ít nhất nên tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng (hiện chỉ chiếm 1% tổng sản phẩm quốc nội) ngay lập tức.
Trong khi đó, Mỹ cần củng cố vị thế quân sự của mình ở tây Thái Bình Dương. Một lực lượng thủy quân lục chiến, tàu ngầm và các lực lượng có khả năng sống sót khác được triển khai mạnh mẽ từ trước sẽ đảm bảo Mỹ và các đồng minh có thể ngăn chặn được bất kỳ cuộc tấn công nào nhắm vào Đài Loan. Hoa Kỳ phải mua và nhanh chóng triển khai các hệ thống như tên lửa chống hạm cùng dàn thiết bị trinh sát không người lái, những thứ cần thiết để giúp đánh bại một cuộc xâm lược của Trung Quốc.
Tuy nhiên, việc ngăn chặn chiến tranh chống lại một siêu cường sẽ đòi hỏi sự tàn nhẫn trong các ưu tiên của Mỹ. Muốn giữ vững thế đứng ở châu Á, quân đội Mỹ sẽ phải ngừng hầu hết mọi thứ khác, trừ răn đe hạt nhân và chống khủng bố. Quân đội Mỹ sẽ phải thu nhỏ quy mô ở Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và thậm chí cả Châu Âu. Mỹ đã có cơ hội tạo ra một sự chuyển đổi cân bằng và căn bản hơn về phía châu Á, nhưng chúng ta đã bỏ lỡ. Bây giờ chúng ta cần phải tập trung, ngay cả khi điều đó có nghĩa là quân đội hầu như trên thực tế phải loại bỏ mọi thứ khác.
Trung Quốc chắc chắn sẽ đặt ra một thách thức lâu dài đối với Mỹ ở cả các khía cạnh ngoài vấn đề sức mạnh quân sự. Nhưng rủi ro cấp bách nhất hiện nay là Bắc Kinh có thể nhìn thấy lợi thế khi dùng đến biện pháp chiến tranh. Thuyết phục Bắc Kinh rằng họ không thể giành được lợi ích từ việc xâm lược phải là một ưu tiên hàng đầu đối với Mỹ.
Vào một ngày nắng đẹp ở Thung lũng Hoa vàng (Silicon Valley), giữa hai đợt mưa bão, tôi đến dự lễ khánh thành Trung tâm phục vụ người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American Service Center – VASC) tại thành phố San Jose.
Đây là một tòa nhà trị giá 50 triệu Mỹ kim, dự tính sẽ phục vụ cho cộng đồng người Việt (và cả những sắc dân khác) tại San Jose với nhiều lĩnh vực khác nhau, từ trợ giúp sức khỏe tâm thần cho tới học hành, từ chữa răng cho tới các trợ giúp xã hội. Tòa nhà này được xem là một mô hình “one stop” cho một cộng đồng đầu tiên, không những tại San Jose mà còn cho cả nước Mỹ.
Có khoảng 500 người tham dự buổi lễ, dĩ nhiên đa số là người Việt. Không khí và trang hoàng của buổi lễ không khác những buổi lễ khác của người Việt ở Mỹ, với cờ Hoa Kỳ và cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) giăng khắp nơi. Các viên chức, các chính trị gia của thành phố San Jose, quận Santa Clara, không phải là người Việt cũng có những phục sức mang màu sắc của Việt Nam Cộng hòa, như chiếc cravat, khăn giả túi áo vest, khăn quàng cổ phụ nữ… mang màu cờ Việt Nam Cộng hòa.
Trong phần phát biểu của các quan chức, người ta thấy rõ sự tương phản giữa những người Mỹ và người Việt. Các viên chức Mỹ trình bày các diễn văn của họ khá dài dòng, hơi dài hơn những bài diễn văn mà người Mỹ thường đọc, và khá … nhàm chán. Ngược lại những người Việt Nam lại nói rất ngắn gọn và đầy cảm xúc, đặc biệt là phát biểu của hai ông Vũ Văn Lộc, sáng lập viên của Viet Museum ở San Jose và ông Thắng Đỗ, kiến trúc sư trưởng của tòa nhà.
Ông Vũ Văn Lộc, với vẻ hóm hỉnh tự nhiên thường thấy ở ông, cảm ơn nước Mỹ. Kiến trúc sư Thắng Đỗ đặt ra một câu hỏi cuối bài phát biểu ngắn gọn của mình: Đây là một câu hỏi mà những cộng đồng như chúng ta, người tị nạn, di dân, luôn trăn trở, đó là, đâu là nhà của mình? Nhà của mình bên kia đại dương, nơi mình buộc phải bỏ, hay đây là nhà của mình? Tòa nhà (VASC) này sẽ trả lời câu hỏi đó. Đây là nhà của mình.
Ông Thắng Đỗ rời Sài Gòn năm 1975 như rất nhiều người Sài Gòn và người miền Nam Việt Nam rời đi lúc đó và nhiều năm sau nữa. Và ông vừa giúp xây xong một “Ngôi nhà Việt Nam” trên đất Mỹ, 46 năm sau đó.
Tuy nhiên hai từ “cộng sản” không nghe đến trong suốt buổi lễ, như thường thấy ở những buổi sinh hoạt cộng đồng người Việt ở Mỹ.
Nó quá hiển nhiên để không cần nhắc đến? Hay là nhắc đến để làm gì, vì trong “Ngôi nhà Việt Nam” mới này ở San Jose làm gì có cộng sản mà nhắc?
Tôi chợt nhớ đến, cách đây gần 2 năm, tôi được mời tham dự buổi lễ tất niên của Lãnh sự quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tức Việt Nam cộng sản, tại San Francisco. Cũng có đến 200 người Việt tham dự, và như tôi có đề cập đến trong một bài viết trên BBC Việt ngữsau đó, rằng chỉ có một lá cờ đỏ nhỏ xíu trong hình quốc huy, chứ không rợp bóng biểu dương lực lượng như mọi khi.
Không có màu đỏ tại lãnh sự quán ở San Francisco, và không có từ “cộng sản” tại buổi lễ ở San Jose, có gì tương đồng trong hai điều ấy không? Nghĩ tới đó, tôi gọi cho một anh bạn trong tòa lãnh sự, anh nói với tôi rằng, anh không biết tới buổi lễ.
Có thể có một tương đồng là những thông điệp chính trị bị bỏ đi, cờ đỏ ở tòa lãnh sự, và hai từ cộng sản ở San Jose, nhưng nguyên do có giống nhau?
Tại buổi lễ tất niên ở San Francisco, một thông điệp cờ đỏ có thể gây … “phản cảm” cho một số khách tham dự? Còn thông điệp “cộng sản” ở San Jose không còn cần thiết nữa, người Việt ở đây, cũng như ở Mỹ có những vấn đề khác đáng quan tâm hơn? Bao nhiêu chuyện cần phải làm, từ chăm sóc sức khỏe cho đến học hành, an sinh xã hội, nhắc đến cộng sản quả là không cần thiết?
Một lúc sau thì tôi thấy rõ hơn. Một tấm biển bằng thủy tinh gắn trên đá, trong khuôn viên “Ngôi nhà Việt Nam” ghi hai thứ tiếng Anh và Việt: “30 tháng Tư, 1975. Trong khi Sài Gòn đang rơi vào tay Cộng sản, khoảng 125.000 người Việt di tản khỏi quê hương. Trong số đó, hơn 90.000 người đã định cư tại Hoa Kỳ”.
Một tấm biển khác ghi: “Hiện tượng thuyền nhân. Để thoát khỏi chế độ cộng sản, hơn một triệu người Việt đã vượt biên bằng thuyền từ cuối thập niên 1970 đến giữa thập niên 1980. Ước lượng, có hàng trăm ngàn thuyền nhân người Việt đã thiệt mạng trên biển Đông trong hành trình này”.
Như vậy hai chữ “cộng sản” không được nói ra bằng lời tại San Jose, mà nó đã được khắc vào đá, nó đã được ghi vào những tấm bia lịch sử trong “Ngôi nhà Việt Nam” này. Tương tự như vậy là hai từ “thuyền nhân”, hai từ không hề được thấy ở bất cứ trang sách “chính thống” nào bên trong Việt Nam hiện nay.
Tôi lại nghĩ đến một “Ngôi nhà Việt Nam” khác, “Maison du Vietnam”, ở vùng Paris, kinh đô nước Pháp, được xây dựng bởi sự hỗ trợ của Tòa đại sứ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Pháp. Không biết trong “Ngôi nhà Việt Nam” ấy có rợp cờ đỏ hay không, nhưng chắc chắn không có hai tấm bia ghi về “cộng sản” và “thuyền nhân” như ở San Jose.
Những tin tức liên tiếp nhận được từ gia đình của anh Bùi Văn Thuận cho thấy, tình hình tạm giam và bị cô lập với bên ngoài của anh Thuận đang có biểu hiện hết sức khắc nghiệt. Chị Trịnh Thị Nhung, vợ của anh Thuận đã làm đơn xin thăm nuôi, gửi thuốc và yêu cầu phải được nói chuyện với anh Thuận, để biết anh đang ở trong tình trạng như thế nào, nhưng không được phía công an hồi đáp.
Vào ngày 8 Tháng Mười, gia đình chị Nhung nhận được thông báo của Công an tỉnh Thanh Hóa, nói đã chuyển anh Bùi Văn Thuận vào bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa do có triệu chứng là “Gút – viêm gan nhiễm độc – viêm mô bào bàn chân hai bên”. Thư thông báo ký tên bởi đại tá Lê Bá Chinh, giám thị trại tạm giam, nói anh Thuận đã được đưa về trại và chữa trị theo đơn thuốc của bệnh viện.
Tuy nhiên, điều gia đình của anh Thuận lo ngại là nội dung ngắn ngủi nói trên, không mô tả hết được tình hình, đồng thời không rõ chuyển biến của tình trạng bệnh ra sao. Chị Nhung, vợ của anh Thuận, nhận định rằng trước khi bị bắt thì tình hình sức khỏe của anh Thuận hoàn toàn ổn định. Thông báo nào làm cho chị thật sự hoang mang.
Dựa trên các chi tiết của thư từ trại giam, bạn bè của anh Thuận cũng nhờ các bác sĩ dự đoán thêm, nhưng hầu như bế tắc, vì thông tin cung cấp cũng không có gì rõ ràng.
Thư xin thăm nuôi, gửi thuốc và yêu cầu được tìm hiểu thêm về bệnh trạng của anh Thuận cũng không được phía công an hồi đáp. Viện vào lý do trong thời gian điều tra vụ án, công an CSVN có quyền ngăn mọi cuộc tiếp xúc với luật sư và người thân, kể cả thăm nuôi.
Luật sư Nguyễn Văn Đài, người từng bị bắt và chịu án tù tại Việt Nam, nhận định rằng “Theo quy định của Bộ Luật Hình sự, đối với các vụ án an ninh quốc gia thì luật sư chỉ có thể tiếp cận với hồ sơ vụ án và gặp thân chủ từ khi kết thúc điều tra thôi. Điều đó trái với Hiến pháp. Bởi vì trong Hiến pháp thì không phân biệt đối xử giữa an ninh quốc gia hay là thường phạm. Hiến pháp nói rằng khi một người bị bắt bị tạm giam thì có quyền gặp luật sư của mình, luật sư cũng có quyền bào chữa cho thân chủ. Thế nhưng mà trong Bộ Luật Tố tụng hình sự thì họ lại nêu điều đó là trái với Hiến pháp của Việt Nam”.
“Thời gian tạm giam để điều tra không được gặp luật sư chính là lúc mà những điều tra viên và quản giáo áp chế tinh thần của những người bị tạm giam, buộc phải nhận tội hoặc phải khai theo ý muốn của điều tra viên”, ông Nguyễn Văn Đài nói thêm.
Mới đây, gia đình của anh Thuận đã bàn bạc, và mời 2 luật sư bào chữa cho anh Bùi Văn Thuận. Một người từ Sài Gòn, là luật sư Đặng Đình Mạnh. Một người khác là ở Hà Nội, nhưng chưa tiện nêu tên.
Tuy nhiên, khi Luật sư Đặng Đình Mạnh làm đơn thông báo mình đã được gia đình mời bào chữa, thì ông nhận được rất nhanh thư trả lời của trại giam, nói anh Bùi Văn Thuận đã từ chối, quyết không cần luật sư. Đây cũng là một trong những tin tức thật bất ngờ, vì công an nói rằng anh Bùi Văn Thuận đã làm đơn xin không mời luật sư. Nhưng gia đình lại không nhận được bất sự xác nhận nào của anh Thuận, kể cả chữ ký dưới thư thông báo của công an trại giam.
Thậm chí điều tra viên, trung tá Đậu Việt Dũng, người phụ trách vụ án của anh Bùi Văn Thuận cũng chưa hề thông báo chuyện này với gia đình.
Hồi đầu Tháng Mười, đài truyền hình An ninh TV đã cử người đến tìm cách quay hình và phỏng vấn gia đình của chị Trịnh Thị Nhung để dùng làm tư liệu tuyên truyền và bôi nhọ về hoạt động xã hội, suy nghĩ chính trị của anh Thuận. Đáng nói là nhân cơ hội đó, một người của nhóm quay phim đã bất ngờ gợi chuyện và khuyên chị Nhung đừng mời luật sư cho anh Thuận, vì cảnh báo rằng rất tốn kém và gây khó khăn của gia đình.
Được biết anh Bùi Văn Thuận bị bắt, vào lúc các bài viết của anh phân tích về tính vô hiệu của vắc xin Trung Quốc đang được nhiều người theo dõi và chia sẻ. Công an đã nhiều lần triệu tập anh Thuận để khuyên anh ngừng viết về chủ đề này.
Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết anh Bùi Văn Thuận, 40 tuổi, trú tại phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn, bị khởi tố về tội “tàng trữ tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – Là một trong những điều luật của Cộng sản Việt Nam bị thế giới lên án về tính mơ hồ cũng như chỉ để đàn áp con người mà thôi.
Quy định 37 nghiêm hơn Luật phòng chống tham nhũng?
Tổng Bí thư vừa ký ban hành Quy định 37 về những điều đảng viên không được làm, trong đó có mấy điều cấm mới: Không được nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định, không can thiệp để con cái du học bằng tiền tài trợ.
Tuy “khó và nhạy cảm”, nhưng khi chỉ đạo công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng ngày 26/04/2020, Tổng Bí thư lại kiên định: “Không để lọt vào trung ương cán bộ kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà đất, tài sản không nguồn gốc”.
Nhưng, chủ trương “không để lọt vào” đã không được “luật hóa”, khi Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng 2018. Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình 3 phương án xử lý tài sản không rõ nguồn gốc là giao cho tòa án xử lý, hoặc nộp 45% thuế thu nhập cá nhân, hoặc tạm bỏ quy định này. Thì, Quốc hội chọn “bỏ quy định này”.
Vì thế, khó mà “không để lọt vào” cán bộ kê khai tài sản không trung thực, không nguồn gốc. Còn ai giàu nhanh, nhiều nhà đất thì chỉ trời và cán bộ đó biết.
Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 có hiệu lực từ ngày 1/7/2019, quy định hạn chót kê khai tài sản là 31/12/2019, nhưng “tiến độ kê khai” giống như “tiến độ vận hành” đường sắt Cát Linh – Hà Đông.
Cuối cùng, Thanh Tra Chính phủ ra Công văn 252/TTCP-CV yêu cầu Bản kê khai tài sản, thu nhập lần đầu xong trước ngày 31/3/2021; bàn giao bản kê khai cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập xong trước ngày 30/4/2021, báo cáo kết quả triển khai thực hiện về Thanh tra Chính phủ chậm nhất là ngày 31/5/2021.
Chỉ có Ủy ban Kiểm tra Trung ương tổ chức hội nghị công khai tài sản, thu nhập lần đầu đối với các 19 thành viên của cơ quan này trước hạn, vào chiều 22/3/2021.
Đến giờ này, Thanh tra Chính phủ đã nhận trên 1.283 triệu bản kê khai (đạt 99%), nhưng còn chờ Thủ tướng xem xét, phê duyệt; xây dựng định hướng kế hoạch xác minh về tài sản như Đề án Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát, thu nhập năm 2022 đã trình, làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương, đơn vị thực hiện trong năm tới.
Chuyên xác minh tài sản kê khai có trung thực hay không thì còn lâu. Bây giờ trở lại quy định 37 để ôn cố tri tân mà rút kinh nghiệm. Nhớ lại, khoảng năm 1995, ông chánh văn phòng UBND Q.5, quận ủy viên, đã cùng vợ con xuất cảnh sang Mỹ theo diện ODP, mà cả quận không ai biết!
Thời đó, đảng viên có thân nhân ở nước ngoài không dám hé răng, nhưng bây giờ con cái ở nước ngoài là đẳng cấp để phô trương. Như, Nguyễn Đức Chung khuyên con ở lại Mỹ đừng về VN tránh dịch, nên chuyện lấy quốc tịch nước ngoài dễ như trở bàn tay.
Đại biểu QH Phạm Phú Quốc – chủ tịch HĐTV TCT Bến Thành bị báo nước ngoài phanh phui có hộ chiếu Cyprus (cùng vợ) vào tháng 12/2018 theo chương trình “Hộ chiếu vàng” (golden passport).
Nhưng ĐBQH Lê Thị Nguyệt Hường mới “cao tay”. Phú Quốc mới là ĐBQH khóa XIV, Nguyệt Hường đắc cử liên tục 3 khóa XII, XIII và XIV. Lần thư 3, bà trúng cử với tỷ lệ cao nhất (78,51%) tại đơn vị bầu cử số 5 Hà Nội, nhưng đến ngày 15/7/2016, Hội đồng bầu cử quốc gia mới biết Nguyệt Hường mới tậu quốc tịch Malta.
ĐBQH Trịnh Xuân Thanh cũng trúng cử với số phiếu cao nhất tại Hậu Giang và bỏ trốn sang Đức mà không ai biết. Cùng ngày 15/7/2016, Hội đồng bầu cử quốc gia bác luôn tư cách ĐBQH với Thanh.
Khi Bộ Công an xác định, cựu thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa có liên quan vụ án Sabeco để khu “đất vàng” số 2-4-6 Hai Bà Trưng lọt tay tư nhân, thì bà đã ở bên trời Âu.
Tháng 1/2021, Công an tỉnh Đồng Nai đã ra lệnh bắt tạm giam Phạm Văn Sáng – cựu giám đốc Sở KHCN Đồng Nai về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng“, thì ông đã bay tới Mỹ.
TP.HCM có hai nữ giám đốc cùng bị truy nã trong năm 2019, khi bị khởi tố tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí“, thì bà Đào Thị Hương Lan, cựu giám đốc Sở Tài chính TP.HCM bỗng dưng “mất tích”.
Ngày 30/12/2019, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an cũng truy nã bị can Nguyễn Thị Thu Thủy (cựu Giám đốc Công ty TNHH MTV Quản lý kinh doanh nhà TP.HCM) vì liên quan tới vụ án nhà đất 8-12 Lê Duẩn, TP.HCM.
(KTSG) – Bản dự thảo Quy hoạch điện 8 (QHĐ8) lại đang nằm trên bàn Thủ tướng chờ xem xét phê duyệt theo Tờ trình 6277/TTr-BCT của Bộ Công Thương ngày 8-10-2021. Liệu Thủ tướng có nên ký duyệt thông qua hay phải yêu cầu tiếp tục chỉnh sửa?
Dự thảo QHĐ8 tiếp tục đi vào vết xe đổ nhiệt điện than mà thế giới đã và đang từ bỏ.
Dù là một bản quy hoạch ngành, nhưng QHĐ8 không chỉ liên quan đến ngành điện, mà sẽ là tấm gương phản chiếu mô hình tăng trưởng của Việt Nam, có tính quyết định đến chất lượng môi trường, chất lượng sống và sức khỏe người dân Việt Nam không chỉ trong năm năm tới mà còn trong vài thập niên tới.
Không dừng lại ở đó, bản quy hoạch ngành điện này còn là bằng chứng để thế giới đánh giá về những cam kết và trách nhiệm về khí hậu của Việt Nam, đặc biệt là khi lãnh đạo toàn cầu đang tề tựu về Glasgow, Vương quốc Anh, dự Hội nghị Biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (COP26) từ ngày 31-10-2021.
Khẳng định vị thế “cường quốc điện than”
Trong khi phải trì hoãn mục tiêu “cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” thêm 10 năm nữa, Việt Nam đã thành “cường quốc” nhiệt điện than. Theo Global Coal Plant Tracker, Việt Nam hiện xếp thứ 6 châu Á và thứ 11 trên thế giới về công suất lắp đặt nhiệt điện than. Ba nước đứng đầu thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Hình 1 cho thấy “tầm cỡ” của nhiệt điện than Việt Nam trong nhóm các nước xếp từ 4 đến 13.
Dù quy mô hệ thống điện Việt Nam chỉ xếp thứ 23 thế giới, nhưng chính nhiệt điện than đã đưa Việt Nam trở thành “cường quốc”. “Vị thế” này được củng cố và tăng cường nhờ việc đề xuất xây thêm 27 nhà máy nhiệt điện than trong 15 năm tới theo QHĐ8.
Các con số trên cho thấy công suất nhiệt điện than tại Việt Nam sẽ tăng gấp đôi chỉ trong vòng 10 năm tới, trung bình một năm xây thêm hai nhà máy. Với kế hoạch này, Việt Nam sẽ vượt qua Ấn Độ và Indonesia để vươn lên xếp thứ 2 thế giới về quy mô xây mới nhiệt điện than, chỉ xếp sau Trung Quốc (hình 2).
Tương ứng với công suất là sản lượng. Hình 3 cũng cho thấy rằng sản lượng điện than của thế giới đã đạt đỉnh vào năm 2011 với tỷ trọng 40,1% và giảm liên tục từ đó đến nay. Trong khi đó, sản lượng điện than của Việt Nam đã tăng liên tục từ năm 2012 và có bước “đại nhảy vọt” từ sau năm 2017, hiện chiếm tỷ trọng gấp gần 1,6 lần mức trung bình của thế giới. Tỷ trọng sản lượng điện than của Việt Nam năm 2020 lên đến 52,9%, so với của thế giới hiện giảm xuống chỉ còn 33,8%.
Theo Dự thảo Quyết định phê duyệt QHĐ8, tỷ trọng sản lượng điện than đến năm 2030 được duy trì ở mức cực cao là 44,2-45,5% và dự kiến giảm xuống còn khoảng 27,4-32,4% vào năm 2045.
“Đổ tội” cho điện gió và mặt trời
Trong số các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mặt trời và gió có đặc điểm nổi bật là luôn biến thiên và khó dự đoán. Vì vậy, năng lượng mặt trời và gió được xếp vào loại năng lượng tái tạo biến đổi (Variable Renewable Energy, VRE). Xu hướng chuyển dịch năng lượng toàn cầu cho thấy đầu tư vào VRE hiện nay không chỉ đạt mục tiêu bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện an ninh năng lượng.
Sự thành công của các quốc gia trong quá trình chuyển đổi năng lượng thể hiện qua tỷ lệ sản lượng điện năng từ nguồn điện gió và mặt trời trên tổng sản lượng điện năng của quốc gia đó trong năm, được gọi là tỷ trọng VRE.
Theo Dự thảo Quyết định phê duyệt QHĐ8, dự kiến tỷ trọng VRE tối đa năm 2030 là 12,5%, năm 2045 là 26,3%. So với tiềm năng điện mặt trời và điện gió của Việt Nam cũng như xu hướng thúc đẩy tỷ trọng VRE cao trên thế giới hiện nay, rõ ràng các mục tiêu trên là rất khiêm tốn và không tương xứng.
Trong hai năm vừa qua, năng lượng tái tạo, mà điển hình là điện mặt trời, đã đóng vai trò cứu tinh để bù đắp cho sự chậm trễ của chín dự án điện than với công suất lên đến 6.150 MW trong QHĐ7 hiệu chỉnh vì thiếu vốn. Dù vậy, Bộ Công Thương lại “quy tội” khi cho rằng “điện gió và điện mặt trời đã gây ra nhiều khó khăn trong vận hành, điều độ hệ thống điện, ảnh hưởng đến vận hành các nguồn nhiệt điện than, khí”.
Thực tế, sản lượng điện gió và điện mặt trời của Việt Nam hiện chỉ chiếm tỷ trọng 5,4% trên toàn hệ thống, thấp hơn nhiều so với tỷ trọng 9,4% của thế giới năm 2020 (hình 4).
Điều đó nói lên rằng những khó khăn trong vận hành hệ thống điện Việt Nam hoàn toàn không phải do bản chất biến đổi và bất định của điện gió và điện mặt trời. Ngược lại, phải nhìn nhận một cách chính xác rằng sự phụ thuộc nhiệt điện than là rào cản chủ yếu trong quá trình chuyển dịch từ năng lượng bẩn sang năng lượng sạch tại Việt Nam. Số liệu về tỷ trọng VRE cao của các nước trên thế giới củng cố nhận định này.
Năm 2018, lần đầu tiên toàn khối EU đạt tỷ trọng VRE trên 15%. Hiện nay, có ít nhất chín quốc gia trên thế giới đạt tỷ trọng VRE trên 20%, trong đó kỷ lục thế giới đang thuộc về Đan Mạch (trên 60%), tiếp đến là Uruguay (trên 40%), tiếp đến là Ireland, Đức và Hy Lạp (trên 30%) (hình 5).
Một báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) năm 2014 nghiên cứu về chuyển đổi năng lượng tại 15 quốc gia cho thấy khả năng tỷ trọng VRE vượt trên 30% trong lưới điện có thể đạt được với chi phí gia tăng không đáng kể nhờ vào cải thiện chính sách, hệ thống quản lý, và lập kế hoạch tốt hơn.
Một nghiên cứu khác của phòng thí nghiệm Năng lượng Tái tạo Quốc gia Mỹ (NREL) năm 2018 cũng chỉ ra rằng có thể tích hợp tỷ trọng VRE đến 25% vào lưới điện chỉ bằng các giải pháp về quản lý. Việc đầu tư thêm vào các nguồn phát điện linh hoạt để hỗ trợ lưới điện chỉ thực sự cần thiết khi tỷ trọng VRE cao hơn 25%.
Báo cáo World Energy Oulook 2021 của IEA cho thấy do sự giảm giá mạnh mẽ của điện gió và mặt trời, hiện đã có trên 130 quốc gia cam kết nâng công suất và sản lượng các nguồn điện sạch này đủ để đáp ứng nhu cầu điện năng trong 10 năm tới. Dự kiến tỷ trọng VRE trên toàn cầu năm 2030 sẽ đạt 30%, so với mức 9,4% hiện nay. Vậy, Việt Nam có thể đặt mục tiêu tỷ trọng VRE năm 2030 bằng mức trung bình của thế giới, so với mức tối đa chỉ là 12,5% được không?
Việc “đổ tội” cho điện gió và mặt trời “gây ảnh hưởng đến vận hành các nguồn nhiệt điện than, khí” không những không có cơ sở mà ngược lại còn cho thấy tư duy “lỡ phóng lao phải theo lao”. Dự thảo QHĐ8 tiếp tục đi vào vết xe đổ nhiệt điện than mà thế giới đã và đang từ bỏ, đồng thời quay lưng lại với thành quả chuyển dịch sang năng lượng sạch bước đầu mà Việt Nam đã đạt được trong hai năm qua, đi ngược chiều với cuộc cách mạng năng lượng sạch mà thế giới đang triển khai ở tốc độ và quy mô không thể cưỡng lại.
Tài chính điện than đang cạn kiệt
Ngày 21-9-2021, tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố: “Trung Quốc sẽ đẩy mạnh hỗ trợ các nước đang phát triển khác trong việc phát triển xanh và năng lượng carbon thấp, và sẽ không xây dựng các dự án nhiệt điện than mới ở nước ngoài”. Dù vẫn phải thận trọng với phát biểu này vì chưa có lộ trình cụ thể, cũng cần thừa nhận rằng tài chính cho nhiệt điện than hầu như đã cạn kiệt.
Trước đó, Nhật Bản và Hàn Quốc, hai trong ba quốc gia từng có tài trợ cho nhiệt điện than Việt Nam cũng đã cam kết chấm dứt tài trợ điện than ở nước ngoài. Vậy, nguồn vốn từ đâu để xây dựng 27 nhà máy điện than theo QHĐ8?
Thực tế, theo tổng hợp của GreenID, có đến 18 dự án, tương đương hai phần ba số lượng nhà máy và công suất trên tổng số 27 nhà máy dự kiến xây dựng là hoàn toàn chưa tiếp cận được tài chính. Hàng loạt dự án điện than chậm tiến độ vì thiếu vốn trong thời gian qua có vẻ như chưa đủ để những nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương thức tỉnh trong cơn mê điện than.
Với cam kết chấm dứt tài trợ điện than của ba chủ nợ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, có thể nhìn thấy một tương lai “đen như than” của các dự án này cũng như số phận của bản QHĐ8 nếu tiếp tục ưu ái điện than.
Điện than “sẽ thành dĩ vãng” sau COP26
Phát thải khí nhà kính của Việt Nam đã tăng gấp đôi chỉ trong vòng 10 năm qua, so với mức tăng trung bình của thế giới là 15%. Than đá là thủ phạm chính gây phát thải khí nhà kính tại Việt Nam, khi đóng góp đến 54% lượng phát thải do đốt nhiên liệu hóa thạch, theo Our World in Data. Với kế hoạch xây thêm 27 nhà máy nhiệt điện than trong vòng 15 năm tới, phát thải khí nhà kính của Việt Nam chắc chắn sẽ tăng lên tương ứng, đi ngược lại với nỗ lực của cộng đồng quốc tế về cắt giảm phát thải.
Theo Hiệp định Khí hậu Paris 2015 mà Việt Nam là một thành viên tham gia ký kết, thế giới đã thống nhất cắt giảm phát thải nhằm giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2 độ C trong thế kỷ này và theo đuổi các nỗ lực giữ cho nhiệt độ không tăng quá 1,5 độ C.
Thực tế, cam kết khí hậu của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế được xem là “cực kỳ bất hợp lý” (critically insufficient), theo đánh giá của Climate Action Tracker. Tổ chức nghiên cứu độc lập này cho rằng cam kết của Việt Nam “phản ánh nỗ lực tối thiểu hoặc không cần hành động, và hoàn toàn không phù hợp với giới hạn nhiệt độ 1,5 độ C của Hiệp định Paris. Nếu tất cả các quốc gia đều làm như Việt Nam, sự nóng lên toàn cầu sẽ vượt quá 4 độ C”.
Nói cách khác, Việt Nam rõ ràng đang bị xem là nước góp phần gây ra thảm họa khí hậu. Điều này từng được thể hiện qua phát biểu của Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), ông Jim Yong Kim năm năm trước: “Nếu Việt Nam tiếp tục phát triển thêm 40.000 MW điện than, nếu toàn bộ khu vực thực hiện các kế hoạch xây thêm điện than tại thời điểm này, tôi nghĩ mọi thứ đã chấm dứt. Đó sẽ là thảm họa cho nhân loại và hành tinh của chúng ta”.
Báo cáo “Net Zero by 2050” của IEA cũng đã chỉ ra rằng việc chấm dứt xây dựng điện than mới và loại bỏ nhanh các nhà máy điện than đang vận hành là trụ cột để đảm bảo rằng nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 1,5 độ C. Đề cập đến báo cáo này, Tổng Thư ký Liên hiệp quốc, ông António Guterres kêu gọi tất cả các chính phủ, các công ty tư nhân và chính quyền địa phương “chấm dứt cơn nghiện than chết người” bằng cách hủy bỏ tất cả các dự án điện than toàn cầu. Ông nói rõ việc loại bỏ dần nhiệt điện than là “bước quan trọng nhất duy nhất để đạt được mục tiêu 1,5 độ C của Hiệp định Paris”.
Kể từ Hiệp định Paris năm 2015, số dự án điện than được đề xuất xây mới đã bị loại bỏ đến 76% trên toàn cầu. Hiện nay, đã có 44 quốc gia cam kết không xây dựng thêm nhà máy điện than mới và 40 quốc gia khác hiện cũng đang sẵn sàng cam kết tương tự sau khi hủy bỏ các dự án nhà máy điện than đã được đề xuất trước đó. Ông Alok Sharma, Chủ tịch COP26, nhận định hội nghị khí hậu lần này sẽ khiến điện than trở thành dĩ vãng.
Trong buổi họp báo tại Rose Garden nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ ngày 25 tháng 9 năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu “Hoạt động xây dựng liên hệ mà Trung Quốc đang tiến hành ở quần đảo Nam Sa [Trường Sa] không nhắm mục tiêu hay tác động đến bất kỳ quốc gia nào và không có ý định quân sự hóa”.
Trong lúc Tập mặt dày nói dối trước thế giới, các mục tiêu quân sự hóa Biển Đông gần hoàn tất.
Từ 2013, Trung Quốc (TQ) lợi dụng chính sách đối ngoại hòa hoãn của TT Barack Obama đã tiến hành xây dựng bảy đảo nhân tạo tại các bãi đá họ chiếm được trên Biển Đông với ý định biến các nơi này thành các căn cứ quân sự.
Các đảo nhân tạo được trang bị với phi cơ chiến đấu, oanh tạc cơ, kho đạn dược, các phương tiện phục vụ chiến tranh và được mệnh danh là những “hàng không mẫu hạm không thể chìm” (unsinkable aircraft carriers).
Lo ngại phản ứng của Mỹ và quốc tế, Tập chỉ thị tiến hành xây dựng một cách gấp rút.
Để làm việc này nhanh chóng, TQ đã tàn phá các môi trường biển vốn cần được phát triển tự nhiên. Nhà hải dương học John McManus thuộc đại học Miami tố cáo: “Một cách căn bản, TQ tàn phá mọi thứ sống chung quanh các rạn san hô”.
Bảy đảo nhân tạo đó gồm Johnson Reef South (Đá Gạc Ma), Subi Reef (Đá Xu Bi), Gaven Reef (Đá Ga Ven), Hughes Reef (Đá Tư Nghĩa), Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập), Cuarteron Reef (Đá Châu Viên) và Mischief Reef (Đá Vành Khăn).
Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với tất cả bãi đá nêu trên thuộc quần đảo Trường Sa nhưng các quốc gia khác gồm Philippines, Malaysia, Brunei, Taiwan và Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền.
Trong số bảy đảo nhân tạo, ba đảo quan trọng nhất được xây trên các bãi đá Chữ Thập (Fiery Cross), Xu Bi (Subi) và Đá Vành Khăn (Mischief). Ba đảo nhân tạo này được báo chí quốc tế gọi là “Big Three” (Ba đảo nhân tạo lớn).
Riêng tại Đá Chữ Thập, phi đạo có khả năng đáp bất cứ loại chiến đấu cơ và oanh tạc cơ nào của TQ. Các căn cứ quân sự của TQ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa còn được trang bị bằng các võ khí tối tân. Các hỏa tiễn địa đối không (SAM) HQ-9 có tầm trung bình 200 km, các giàn Radar và chiến đấu cơ J-11 được phát hiện trên đảo Phú Lâm (Woody) thuộc Hoàng Sa từ năm 2016. Hôm nay, chắc chắn chúng cũng đã được trang bị trên các đảo nhân tạo đã hoàn tất.
MỤC ĐÍCH XÂY DỰNG CÁC ĐẢO NHÂN TẠO
Tập Cận Bình xây đảo nhân tạo nhắm vào hai mục đích: (1) về chính trị, xây dựng một “tình trạng đang hiện hữu” (status quo) và (2) về quân sự, nhằm dựng hai phòng tuyến mặt đông nam Trung Quốc.
Như người viết đã giải thích trong các bài trước “Status quo” được định nghĩa như là tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi.
Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một tình trạng và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc.
Tập Cận Bình nghĩ rằng, trong trường hợp tệ hại các tranh chấp quốc tế phải dẫn tới các hội nghị, các cọc trên Biển Đông sẽ được dùng để xác định chủ quyền của TQ.
Bản chất tham lam và nhỏ nhen của TQ không thay đổi dù chỉ vài mét như trong giai đoạn xây dựng đường xe lửa phía bắc Việt Nam trước đây hay vài ngàn dặm như trên Biển Đông ngày nay.
Phản ứng của TQ sau vụ Philippines kiện TQ cho thấy mặc dù phủ nhận giá trị của phán quyết do Tòa Trọng Tài Thường Trực (The Hague) công bố, TQ trong thực tế đã thừa nhận Philippines thắng kiện. TQ cho xây nhanh chẳng qua để đặt thế giới vào “chuyện đã rồi”.
Vài suy nghĩ về việc có nên mua máy bay cho Cảnh sát cơ động?
Không ai không mong muốn cho đất nước giàu mạnh, hùng cường, có vị thế được nể trọng trên trường quốc tế. Ai cũng muốn có một quân đội hùng mạnh tinh nhuệ để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Ai cũng muốn có một lực lượng cảnh sát chuyên nghiệp để bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự và an toàn công cộng. Bởi thế, cung cấp thiết bị hiện đại cần thiết cho các lực lượng chuyên nghiệp là không bàn cãi. Vấn đề bàn cãi là thế nào gọi là cần thiết, cái gì là cần thiết?
Ví như quân đội, nước nào cũng phải chế tạo hay mua sắm các vũ khí hiện đại nhất. Vũ khí đắt tiền mà hầu như không bao giờ được sử dụng. Bỏ không, mất tiền, hàng năm phải mua mới, vậy mà đối với nhiều quốc gia là cần thiết. Nhân loại mỗi năm phải chi hàng ngàn tỷ đô la cho vũ khí, cho chạy đua vũ trang, trong khi hàng trăm triệu người dân chưa đủ cơm ăn áo mặc. Một nghịch lý chưa có lời giải trong nhiều năm nữa.
Ở mặt khác, có cái cần thiết cho quốc gia này mà không cần thiết cho quốc gia kia. Là vì phụ thuộc vào hoàn cảnh và mục đích. Có quốc gia cần bom nguyên tử mà quốc gia khác lại không. Đối với cá nhân, có người sắm xe Roll-Royce mà có người lại mua xe bán tải. Đối với gia đình, bố mẹ không thể dồn tiền mua sắm một món hàng hiệu trị giá nhiều chục triệu đồng cho một người con, chỉ để 1 năm mặc làm cảnh một lần, trong khi để cho các người con còn lại nhịn đói. Điều gì là cần thiết phải đặt trong khung cảnh cụ thể. Chứ không phải ai có cái gì mình cũng có cái đấy.
Tương tự như vậy là đối với lực lượng cảnh sát cơ động Việt Nam. Không phải cảnh sát nước nào có phương tiện gì thì cảnh sát Việt Nam phải có phương tiện đó.
1. MỤC ĐÍCH VÀ ĐỐI TƯỢNG?
Báo Tuổi trẻ ngày 26/10/2021 cho biết: “Quốc Hội đang tranh luận sôi nổi việc mua máy bay cho cảnh sát cơ động”. Trong đó: “Đại biểu Nguyễn Minh Đức – phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội – cho hay theo các công ước quốc tế, các quốc gia không bao giờ được sử dụng lực lượng quân đội để thực hiện hành vi trấn áp khi có xung đột dân sự. Do vậy khi có tình huống xảy ra phải sử dụng lực lượng cảnh sát.
Theo ông Đức, có những báo cáo về hiện tượng bao loạn, gây hấn, biểu tình ảnh hưởng đến an ninh quốc gia có thể xảy ra, khi đó phải sử dụng lực lượng cảnh sát. Nếu không sớm trang bị các loại phương tiện sẽ rất khó khăn để lực lượng làm nhiệm vụ”.
Thế là rõ. Theo ông Nguyễn Minh Đức thì mua sắm máy bay cho cảnh sát cơ động là để tránh vi phạm công ước quốc tế – “không được dùng quân đội để thực hiện hành vi trấn áp dân sự” mà để nhiệm vụ đó cho cảnh sát cơ động. Nghĩa là biến cảnh sát cơ động thành một biến thể của quân đội. Dùng cảnh sát cơ động để đối phó với “hiện tượng bạo loạn, gây hấn, biểu tình ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”.
Ai gây ra bạo loạn, gây hấn biểu tình? Có phải người từ nước khác đến không? Câu trả lời là không. Người “gây ra bạo loạn, gây hấn biểu tình ảnh hưởng đến anh ninh quốc gia” chỉ có thể là người trong nước. Đối tượng để cảnh sát cơ động “thực hiện hành vi trấn áp khi xung đột dân sự” là con dân nước Việt.
Từ bao giờ một bộ phận nhân dân lại trở thành đối tượng lo lắng của công an nhân dân đến mức phải mua cả máy bay phục vụ cho mục tiêu trấn áp?
Hàng ngày chúng ta vẫn được nghe rằng nhân dân ta rất tin tưởng vào Đảng và Nhà nước. Nhà nước là của dân, vì dân, do dân. Thì làm sao có thể xẩy ra điều lo lắng ở trên? Thật là mâu thuẫn.
2. BAO GIỜ THÌ ĐẾN XE TĂNG, TÊN LỬA?
Sau kỵ binh và máy bay có cần đến xe tăng? Xe tăng ngăn chặn biểu tình còn hiệu quả hơn kỵ binh. Và khi có máy bay thì cần đến cả tên lửa? Dùng xe tăng để chống lại biểu tình thì lịch sử nhân loại không bao giờ quên thảm sát Thiên An Môn ngày 04/6/1989.
Khi đã nói đến anh ninh quốc gia, thì không chỉ công an mà phải sử dụng quân đội. Bảo vệ an ninh quốc gia không có luật nào cấm được việc sử dụng quân đội. Công ước quốc tế cấm “không được dùng quân đội để thực hiện hành vi trấn áp dân sự” bởi vì trấn áp dân sự không phải là an ninh quốc gia. Phải hiểu cho đúng về an ninh quốc gia. Đừng nhầm lẫn an ninh quốc gia với bảo vệ những nhóm lợi ích.
Nhưng khi người dân đã biểu tình đến hàng chục vạn, hàng triệu người thì không lực lượng kỵ binh, hay mấy chiếc máy bay của cảnh sát cơ động có thể đối phó được.
Tháng 8/1991 trong cuộc đảo chính tại Liên Xô nhằm phế truất Gorbatrev, KGB đã chủ ý tiêu diệt Boris Yeltsin. Nhưng ông Yeltsin đã chạy đến quảng trường Nhà Trắng, huy động dân chúng ủng hộ tụ tập quanh Nhà Trắng. Nhà Trắng bị quân đội bao vây. Nhưng quân đội đã dừng lại khi đối đầu với cuộc tuần hành lớn của nhân dân. Ông Yeltsin nhờ đó, vừa thoát chết, vừa dẹp được đảo chính.
Không có phương tiện nào cản trở được biểu tình của nhân dân. Chỉ có thay đổi chính sách vì lợi ích của dân thì mới hạn chế được biểu tỉnh.
3. VỀ TÍNH HIỆU QUẢ
Mua sắm bất cứ thứ gì cũng phải tính đến hiệu quả. Muốn mua sắm phương tiện mới thì cần phải xem xét lại các phương tiện đã mua. Như lực lượng kỵ binh vừa mới sắm chẳng hạn.
Lực lượng kỵ binh phải chi tốn nhiều chục tỷ đồng hiện nay hiệu quả như thế nào? Có làm cho các cuộc đón tiếp nguyên thủ nước ngoài sang trọng hơn không? Có truy bắt tội phạm tốt hơn không? Có ngăn cản được bạo loạn không?… Có xứng với khoản tiền lớn đã bỏ ra và tiếp tục phải bỏ ra hay không?
Tương tự như với kỵ binh là câu hỏi về tính hiệu quả khi dự định mua máy bay cho cảnh sát cơ động.
4. 8 ĐIỀU NÓI KHÔNG
Với thực trạng của nước ta, lực lượng cảnh sát cơ động hoàn toàn không cần đến máy bay. Bởi vì 8 điều sau:
1. Nhân dân không phải là mục tiêu tập trung trấn áp. Không bao giờ xây dựng cảnh sát cơ động tinh nhuệ để nhằm vào đối tượng là một bộ phận nhân dân.
2. Thu phục lòng dân bằng chính sách. Chính sách tốt thì không có bạo động. Để dân bạo động là lỗi của chính sách.
3. Nhân dân ta dũng mãnh với kẻ thù ngoại xâm, nhưng giàu nhân ái với đồng bào. Lịch sử hơn 76 năm nước VNDCCH và CHXHCNVN không có bạo động lớn. Có chính sách tốt, làm công tác dân vận tốt, thì không thể có bạo động trong dân. Người Việt Nam có tính cam chịu cao.
4. Lực lượng cảnh sát cơ động cần máy bay để làm gì? Để trinh sát? Để đổ quân cơ động cho kịp thời? Để ném bom? Để bắn phá? Hiện tại ở Việt nam không có những tình thế yêu cầu như vậy. Thực tiễn 76 năm qua cũng cho thấy chưa bao giờ có tình thế như vậy. Trong tương lai 5 năm cũng chưa có tình thế như vậy. Cho nên, hiện thời lực lượng cảnh sát cơ động của Việt Nam không có nhu cầu cấp thiết phải dùng máy bay.
5. Tính tinh nhuệ của cảnh sát cơ động là ở con người. Cảnh sát cơ động giỏi hơn các lực lượng cảnh sát khác ở tính thiện chiến, chuyên nghiệp, chứ không phải cậy vào trang thiết bị vũ khí. Vũ khí hiện hại mua xong thì lạc hậu. Sự thiện chiến của con người không mua được. Cảnh sát cơ động phải tương tự như lính đặc nhiệm của quân đội các nước – võ thuật cao, bắn súng giỏi, sức bền lớn, xử lý tình huống nhuần nhuyễn, có khả năng vượt qua những hoàn cảnh hiểm nghèo… Thực tế cho thấy nhiều điều chưa đáp ứng, ở khoảng cách quá xa với lực lượng SEAL của Hải quân Hoa Kỳ.
6. KHÔNG BIẾN CÔNG AN THÀNH QUÂN ĐỘI THỨ 2. HAI LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ SONG SONG TỒN TẠI TRONG MỘT QUỐC GIA LÀ ĐIỀU NGUY HIỂM.
7. Máy bay không giúp cho chống bạo động tốt hơn, cũng không làm cho người chiến sĩ cảnh sát cơ động tinh nhuệ hơn. Nếu có trường hợp đặc biệt xuất hiện, thì có thể dễ dàng sử dụng máy bay của quân đội.
8. Hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, trang bị máy bay cho cảnh sát cơ động là thừa, chỉ dẫn đến tốn kém và không hiệu quả.
5. VẤN ĐỀ CỐT LÕI LÀ CHÍNH SÁCH
Thời VNDCCH, dù trong chiến tranh khốc liệt, nhưng công an đâu có phải lo lắng về bạo loạn của dân đến mức như thế này? Không phải sắm xe thiết giáp, không cần có kỵ binh mà trận tự công cộng được đảm bảo. Đó là nhờ chính sách, chứ không phải nhờ vũ khí.
Nhớ lại lịch sử. Thời kháng Pháp, khi đi tìm vị trí cho Chính phủ ở chiến khu Việt Bắc, Cụ Hồ dùng tay vỗ lên trái tim, và dặn những người đi tìm vị trí rằng, nơi an toàn nhất là trái tim của dân. Nếu được dân yêu thì an toàn. Nếu không được dân yêu thì ở đâu cũng không an toàn.
Nay, có kẻ bên ngoài mỗi ngày một hùng mạnh, mấy chục năm liên tục không ngừng mưu toan xâm chiếm lãnh thổ, thì phải tập trung tinh lực cho quân đội để bảo vệ biên giới quốc gia, chứ không thể quay chú ý vào đối phó với người trong nước. Một quan niệm (conception) hoàn toàn lạc hướng. Trong không cố gắng đoàn kết mà lại chú về đối đầu, Ngoài thì bị phân tán lực không đủ sức để đối phó với giặc mạnh, đây mới thực là nỗi lo cho an ninh quốc gia.
Điều cần nhất đối với lực lượng cảnh sát cơ động Việt Nam là sự tinh nhuệ của người chiến sĩ cảnh sát. Đó mới là thứ vũ khí vô giá.