Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Đá tảng cản doanh nghiệp Việt: Chỉ Trung Quốc hiểu?

Đá tảng cản doanh nghiệp Việt: Chỉ Trung Quốc hiểu?

bauxitevnTue 8:49 PM

PGS. TS Phương Ngọc Thạch - (Chủ tịch Hội HASEM)
(Doanh nghiệp) - ''Doanh nghiệp "bôi trơn" để tìm lợi thế trong kinh doanh, "bôi trơn" để có hợp đồng, hoặc để phòng...'' -  PGS. TS Phương Ngọc Thạch.
Doanh nghiệp nội thiệt đơn, thiệt kép
Trong những năm qua, chính quyền địa phương đã tập trung hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính; nỗ lực xây dựng hệ thống giải pháp thực hiện cơ chế, chính sách tạo môi trường thông thoáng trong đầu tư kinh doanh cho các doanh nghiệp. Trong đó quan tâm tạo điều kiện tốt nhất, phát triển nhanh khu vực kinh tế dân doanh.
clip_image001
Làm gì cũng phải bôi trơn. Ảnh minh họa

Nhiều ý kiến cho rằng, môi trường kinh doanh có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt từ khi có các Nghị quyết 19 và 35 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh. Song theo kết quả điều tra PCI 2016, VCCI mới đây lại chỉ ra bên cạnh những cải cách mang tính đột phá của chính quyền địa phương, thì vẫn còn nhiều “hòn đá tảng” đáng quan ngại đối với doanh nghiệp như: tính minh bạch về khả năng tiếp cận thông tin, dữ liệu, chi phí không chính thức, tiếp cận với đất đai, thủ tục hành chính và môi trường cạnh tranh không bình đẳng... 
Thực tế này đã tồn tại từ lâu và rất nhiều doanh nghiệp cho biết họ không thể tiếp cận được với những chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước, bởi để nhận được chính sách ưu đó thì chi phí họ phải bỏ ra có khi còn lớn hơn những gì được nhận về. 
Nhìn nhận vấn đề này cũng cần đặt vấn đề từ cả hai phía, cả phía doanh nghiệp và cả phía cơ quan công quyền nữa. Đồng ý rằng, tình trạng bôi trơn, đưa hối lộ ngày càng phổ biến là do môi trường kinh doanh, do các chính sách thể chế chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính. 
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì bản thân doanh nghiệp cũng là nhân tố kích thích, tạo điều kiện để cán bộ công chức, cơ quan công quyền hình thành thói quen nhận “phí bôi trơn”. 
Nhiều cán bộ không yêu cầu nhưng doanh nghiệp vẫn tìm cách để thực hiện hành động "bôi trơn” cho bằng được, mục đích là để được việc mình. Nhiều doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đưa các khoản tiền lót tay, hối lộ cho cán bộ, công chức mỗi khi có việc, lý do chính mà doanh nghiệp đưa hối lộ là vì lo ngại không hối lộ sẽ bị hỏng việc. 
Doanh nghiệp, dùng phí "bôi trơn" để tìm lợi thế trong kinh doanh, "bôi trơn" để giành được hợp đồng, hoặc đơn giản "bôi trơn" để phòng ngừa phiền hà, nhũng nhiễu có thể xảy ra nơi cửa công. 
Như vậy, ngoài rào cản trong việc tiếp cận thông tin, dữ liệu, tốn kém nhiều khoản chi phí không chính thức, môi trường cạnh tranh không bình đẳng... Doanh nghiệp Việt còn phải chịu nhiều áp lực của thủ tục hành chính phức tạp, tốn kém; chưa bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh. 
Bị kẹp giữa những bất lợi đó, không ai khác chính những doanh nghiệp nhỏ và vừa là những chủ thể dễ bị tổn thương nhất do có thị phần nhỏ, hoạt động quy mô nhỏ, luôn trong tình trạng thiếu vốn, lại bị cạnh tranh khốc liệt từ cả phía doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. 
Đặt trong bối cảnh yêu cầu tham gia hội nhập sâu và rộng càng tạo áp lực khiến doanh nghiệp nội địa phải gánh chịu tác động kép. Áp lực cạnh tranh từ phía doanh nghiệp nước ngoài, và áp lực từ thuế, phí, phí "bôi trơn", như vậy khả năng giữ tồn tại được đã là rất khó chứ chưa nói tới yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh. 
Vì vậy, Nhà nước cần đổi mới chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể như đưa ra các gói ưu đãi tốt hơn về nguồn vốn, đất đai, thuế, đào tạo nhân lực, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; tìm kiếm thị trường để doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. 
Chưa nước nào hiểu rõ văn hóa "bôi trơn" của Việt Nam như FDI Trung Quốc
Trong khi đó, những quan ngại về tình hình tham nhũng không phải là lý do chính khiến FDI ngần ngại đầu tư vào Việt Nam.  Ngoài việc đầu tư vào Việt Nam để tận dụng các lợi thế về cơ chế chính sách như: chính sách ưu đãi; khai thác thị trường rộng lớn, tận dụng nguồn lao động giá rẻ… Thì các doanh nghiệp FDI còn đang đi tắt đón đầu, chờ hưởng lợi từ các FTA mà Việt Nam ký kết với các nước. Trong đó có các doanh nghiệp FDI Trung Quốc. 
Làn sóng đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam đang gia tăng, đó là phản ứng bình thường khi Trung Quốc cũng đang tìm đến Việt Nam với mục đích đó. Hiện đang có nhiều ý kiến cho rằng FDI Trung Quốc “lượng nhiều, chất thấp, thiếu tin cậy”, điều này ít xảy ra với những dòng vốn của Trung Quốc ở những nước khác. Điều này có nguyên nhân từ cơ chế, chính sách ưu đãi của chính Việt Nam khi kêu gọi, thu hút dòng vốn đầu tư từ nước ngoài. 
Ngoài ra, yếu tố văn hóa, tập tục cũng là vấn đề được các doanh nghiệp FDI Trung Quốc đang tận dụng rất tốt. Có thể nói, chưa có nước nào nắm rõ và hiểu rõ pháp luật cũng như tâm lý, văn hóa "bôi trơn" đối với các nhà quản lý Việt Nam như các nhà đầu tư Trung Quốc. 
Chính vì thế mới có câu chuyện gần 90% các dự án trọng điểm đều nằm trong tay các tổng thầu Trung Quốc. Hay các dự án “công nghệ cao” dễ thông qua, dự án có vốn càng lớn càng được cấp phép sớm. Công ty đăng ký quy mô lớn, nhưng rót vốn chậm, chỉ gia công lắp ráp không sản xuất linh kiện, phụ tùng, chi tiết vẫn không quản lý được... 
Vì vậy, trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chống tham nhũng, thì giải pháp giảm bớt vấn nạn bôi trơn, tạo môi trường kinh doanh công bằng cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp cải thiện năng lực cạnh tranh, đứng vững trên thị trường cũng chính là nhân tố tích cực trong công cuộc phòng chống tham nhũng. 
P.N.T.

Cảng Quy Nhơn được bán như thế nào?

Cảng Quy Nhơn được bán như thế nào?

bauxitevnTue 8:37 PM

NHÓM PHÓNG VIÊN
(NLĐ) Quá trình cổ phần hóa và thoái toàn bộ phần vốn nhà nước tại cảng Quy Nhơn diễn ra nhanh đến bất thường. Kết cục là khối tài sản đồ sộ của cảng này rơi vào tay một doanh nghiệp với giá chỉ vài trăm tỉ đồng.
Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, trong những ngày tới, đoàn công tác của Thanh tra Chính phủ sẽ vào Bình Định để thanh tra toàn diện việc cổ phần hóa (CPH) cảng Quy Nhơn. Kết quả thanh tra báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1-7-2017.
Tài sản đồ sộ, định giá 404 tỉ đồng
Cảng Quy Nhơn được hình thành năm 1976 do Cục Đường biển (Bộ Giao thông Vận tải - GTVT) quản lý. Đến năm 1993, Bộ GTVT quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Cảng Quy Nhơn. Năm 2009, cảng trực thuộc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), đổi tên là Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn. Tháng 7-2013, Vinalines phê duyệt phương án CPH, chuyển Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn thành Công ty CP Cảng Quy Nhơn (QNP).
Trước khi CPH, cảng Quy Nhơn là một trong những cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực loại 1 của nhóm cảng biển Nam Trung Bộ với hệ thống 20.960 kho, 48.000 m2 bãi chứa container. Cùng với đó, cảng có trụ sở làm việc 3 tầng đồ sộ, hàng chục gian nhà ở và hơn 300.000 m2 đất các loại ngay trong nội thành Quy Nhơn dưới hình thức thuê đất 50 năm hoặc giao đất không thu tiền sử dụng đất.
clip_image002
Quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn có nhiều bất thường Ảnh: ANH TÚ


Ngoài hạ tầng cơ sở và diện tích đất bạt ngàn, cảng Quy Nhơn còn có 6 cầu tàu với tổng chiều dài 824 m, trong đó lớn nhất là cầu tàu số 6 có thể tiếp nhận tàu tải trọng 50.000 tấn giảm tải ra vào làm hàng. Theo nhiều chuyên gia về cảng biển, để có thể tiếp nhận tàu có tải trọng 50.000 tấn, mức đầu tư xây dựng cho riêng cầu tàu này phải hơn 1.000 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, cảng sở hữu 165 phương tiện, thiết bị chuyên dùng trị giá hàng trăm tỉ đồng, như cần cẩu có sức nâng từ 7 đến 100 tấn, xe nâng, tàu lai, ô tô tải, xe xúc, xe đào, trạm cân. Trong đó, riêng cần cẩu bờ di động sức nâng 100 tấn có giá trên thị trường khoảng 150 tỉ đồng.
Với khối tài sản đồ sộ như vậy nhưng trước khi CPH, QNP chỉ được định giá hơn 404 tỉ đồng (thời điểm này QNP có lượng tiền mặt gần 53 tỉ đồng và chỉ nợ ngắn hạn hơn 100 tỉ đồng). Đáng chú ý, nhiều tài sản, thiết bị của QNP được định giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế. Điển hình như hàng chục cần cẩu, xe cẩu, xe nâng, tàu lai chuyên dụng trị giá hàng trăm tỉ đồng nhưng chỉ được định giá... hơn 1,9 tỉ đồng.
“Nhà đầu tư chiến lược” hưởng trọn
Theo Quyết định số 336/QĐ-HHVN ngày 22-7-2013 của Vinalines, quá trình CPH và thoái vốn nhà nước tại QNP được chia làm 2 giai đoạn. Theo đó, giai đoạn 1 phát hành lần đầu 40.409.950 cổ phần (CP), trong đó nhà nước chiếm 75% vốn điều lệ; người lao động và tổ chức công đoàn 5%; nhà đầu tư chiến lược 10% và phát hành ra bên ngoài 10%. Giai đoạn 2, nhà nước giảm tỉ lệ CP nắm giữ xuống còn 49%, thực hiện trong khoảng thời gian 2014-2015.
Trên cơ sở đó, tháng 9-2013, QNP tổ chức bán đấu giá thành công, bán ra 10% vốn điều lệ cho cổ đông tự do, tương đương 4,04 triệu CP với mức giá bình quân 12.792 đồng/CP. Ngoài ra, QNP cũng bán 4,04 triệu CP khác cho “nhà đầu tư chiến lược” là Công ty CP Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành (gọi tắt: Công ty Hợp Thành; trụ sở ở TP Hà Nội).
Theo Đề án tái cấu trúc Vinalines giai đoạn 2012-2015 và Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN, QNP nằm trong diện nhà nước (Vinalines đại diện phần vốn) phải nắm giữ 75% vốn điều lệ. Thế nhưng, tháng 6-2015, Vinalines bất ngờ chuyển nhượng đợt 2 với 10,5 triệu CP, tương đương 26,01% tỉ lệ sở hữu QNP cho Công ty Hợp Thành. Chỉ 3 tháng sau, tháng 9-2015, Vinalines tiếp tục bán toàn bộ phần vốn còn lại trong QNP (19,8 triệu CP với tỉ lệ 49%) cho Công ty Hợp Thành, giúp DN này tăng tỉ lệ nắm giữ QNP lên 86,23% với tổng trị giá chỉ 440 tỉ đồng.
Đáng nói là trước khi chuyển nhượng toàn bộ CP cho Công ty Hợp Thành trong đợt 2 và đợt 3, giữa năm 2015, lãnh đạo QNP có văn bản gửi Vinalines và Bộ GTVT, đề nghị giữ lại 51% phần vốn nhà nước nhưng không được xem xét. Trong khi đó, tháng 7-2015, khi đang giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, ông Nguyễn Văn Thiện (nay đã nghỉ hưu) lại có văn bản đề nghị Bộ GTVT khẩn trương bán phần vốn còn lại cho “nhà đầu tư chiến lược” để tạo nguồn vốn đầu tư, nâng cấp, mở rộng cảng Quy Nhơn (?).
Từng được đề nghị mua 2.000 tỉ đồng
Tiến sĩ Võ Ngọc Anh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định, cho rằng cảng Quy Nhơn có vị trí hết sức đắc địa mà nếu không dựa vào nó để phát triển kinh tế thì thất sách. “Tôi cảm thấy rất tiếc khi nhà nước đã bán toàn bộ phần vốn tại cảng Quy Nhơn cho tư nhân. Một khi tư nhân nắm quyền thì họ chỉ tập trung vào thu hồi vốn còn chuyện khác tính sau” - ông Anh bày tỏ. Còn theo ông Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Tổng Giám đốc và là thành viên Ban Chỉ đạo CPH QNP, cảng Quy Nhơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với an ninh quốc phòng. Vì lý do này, khi còn đương chức, ông đề nghị giữ lại 51% phần vốn nhà nước chứ không bán hết 100% cho nhà đầu tư.
Nhiều cựu cán bộ QNP cho biết thêm trong quá trình CPH, một số DN đến đặt vấn đề mua toàn bộ QNP với giá khoảng 2.000 tỉ đồng nhưng không được. Thay vào đó, chỉ trong 2 năm (2013-2015), Công ty Hợp Thành ôm trọn 86,23% CP của QNP chỉ với giá 440 tỉ đồng.
Ông chủ Công ty Hợp Thành là ai?
Theo tìm hiểu, người đang nắm giữ chức Chủ tịch HĐQT Công ty Hợp Thành là ông Lê Hồng Thái, SN 1974, hiện ngụ tại TP Hà Nội. Trong tỉ lệ 86,23% CP của QNP mà Công ty Hợp Thành sở hữu, ông Thái nắm giữ 45%; số còn lại đều do vợ, con ông đứng tên, lần lượt là 36% và 19%. Từ năm 2015, sau khi mua phần lớn CP của QNP, ông Thái tiếp tục giữ chức Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc QNP.
Trước khi mua CP của QNP, Công ty Hợp Thành là DN chuyên sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản và kinh doanh bất động sản, chưa có kinh nghiệm trong việc điều hành cảng biển. Vậy nhưng, chẳng hiểu vì lý do gì, Vinalines lại chọn Công ty Hợp Thành là “nhà đầu tư chiến lược” để rồi nhanh chóng bán toàn bộ phần vốn nhà nước tại QNP cho DN này. Vì sao có sự ưu ái bất thường này?
Theo điều tra của chúng tôi, ông Lê Hồng Thái từng là thành viên HĐQT Tổng Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), cùng thời điểm Trịnh Xuân Thanh là chủ tịch HĐQT. Ngoài ra, ông Thái còn là Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư Xây lắp Dầu khí Imico (PVC- IMICO), công ty con của PVC. Thời điểm này, không chỉ PVC mà PVC-IMICO cũng thua lỗ nghiêm trọng. Tuy nhiên, năm 2013, khi đang thi công cho dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 do PVC làm chủ đầu tư, PVC-IMICO được PVC ưu ái ứng vượt khối lượng trong hợp đồng gần 77 tỉ đồng. Sau đó, PVC-IMICO không chuyển trả lại phần vốn ứng, bị PVC “liệt” vào dạng “nợ khó đòi”.

Nhiều giới ở Việt Nam tiếp tục chết dần, chết mòn vì FTA

Nhiều giới ở Việt Nam tiếp tục chết dần, chết mòn vì FTA

bauxitevnMon 7:03 PM

Người Việt
clip_image002
Gian hàng bán trái cây trong một ngôi chợ ở Hà Nội. Trái cây Trung Quốc, Thái, Úc, New Zealand tràn lan nên nhiều nơi khiến nông dân Việt Nam phải đổ rau, củ, trái cây cho bò ăn. (Hình: Getty Images)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV)- Cả doanh giới lẫn nông dân cùng điêu đứng vì hàng hóa và nông sản từ ngoại quốc ồ ạt tràn vào Việt Nam sau khi hàng loạt Hiệp định Tự do Thương mại (FTA) được ký kết thiếu suy xét. 
Bộ Công Thương cho biết, hai tháng đầu năm nay, Việt Nam nhập siêu khoảng $3.5 tỉ, trong đó có một điểm đáng chú ý là so với cùng kỳ năm ngoái, những loại hàng hóa cần kiểm soát và hạn chế nhập cảng đều tăng vọt. Ví dụ so với cùng kỳ năm ngoái, hàng tiêu dùng, rau, củ, trái cây tăng tới 67.1%; xe hơi dưới chín chỗ tăng 96.6%; sắt thép phế liệu tăng 153.7%. 
Trong khi nông dân trên khắp Việt Nam liên tiếp đổ bỏ đủ loại rau, củ, trái cây, gia cầm, gia súc chết già cả vì hệ thống phân phối nôi địa quá tệ lẫn bị động trong xuất cảng thì đủ loại trái cây tương tự từ Trung Quốc, Úc, New Zealand, … ồ ạt đổ vào thị trường Việt Nam. Theo những gì mà FTA và Việt Nam ký thì từ 2015, rau, củ, trái cây từ Trung Quốc xuất cảng sang Việt Nam không phải trả thuế nhập cảng từ năm 2015. Sang năm, sẽ tới lượt rau, củ, trái cây của Úc, New Zealand,… hưởng thuế xuất nhập cảng là… 0%! 
Năm nay, Trung Quốc vẫn là quốc gia dẫn đầu về kim ngạch nhập cảng của Việt Nam. Hai tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập cảng hàng hóa Trung Quốc chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch nhập cảng của Việt Nam. So với cùng kỳ năm ngoái, tỉ lệ kim ngạch nhập cảng hàng hóa Trung Quốc tăng thêm khoảng 24%. 
Báo chí Việt Nam dẫn một phân tích của Tổng cục Hải quan cho thấy cơ cấu hết sức phi lý của hàng hóa nhập cảng. Chẳng hạn, tính từ đầu năm đến giữa tháng này, Việt Nam chi $133 triệu cho nhập cảng rau, củ, trái cây. Khoảng $90 triệu cho nhập cảng thịt. Khoảng $70 triệu cho nhập cảng các loại thực phẩm đã được chế biến. Khoảng $29 triệu cho bánh kẹo và các sản phẩm làm từ ngũ cốc… 
Mục tiêu của FTA là mở cửa các thị trường cho hàng hóa lưu thông dễ dàng. Trong khi các quốc gia hoặc các khối quốc gia ký kết FTA để mở rộng thị trường xuất cảng cho hàng hóa của họ, tạo thêm việc làm cho dân chúng, gia tăng nguồn thu, lợi tức từ xuất cảng thì dường như Chính phủ Việt Nam ký kết các FTA chỉ nhằm khoe “bản lĩnh và năng lực” bởi đã… ký được nhiều FTA. 
Khi gần như toàn bộ nguồn lực quốc gia được dồn cho hệ thống doanh nghiệp nhà nước, đã vừa nhỏ, vừa yếu lai phải gánh thêm đủ loại chi phí nên giá thành cao nên các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam không thể cạnh tranh với hàng hóa nhập cảng họ chết dần, chết mòn trong dòng lũ hàng hóa nhập cảng ngay tại “sân nhà.” 
Trừ việc dùng các FTA mở toang cửa cho hàng hóa ngoại quốc tràn vào Việt Nam, đến nay, Chính phủ Việt Nam chưa làm bất cứ điều nào hữu ích để hàng hóa Việt Nam có thể dễ dàng xâm nhập các thị trường ngoại quốc. 
Cảnh báo của nhiều chuyên gia kinh tế về việc ký quá nhiều FTA, bất chấp nội lực của Việt Nam đã kém lại thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng, sẽ gây ra những hậu quả khôn lường cho kinh tế Việt Nam giờ đã trở thành một thảm họa thật sự. 
Hồi đầu Tháng Mười Một năm ngoái, khi tường trình về ngân sách quốc gia với Quốc hội Việt Nam, Bộ trưởng Tài chính từng giải thích, một trong những lý do khiến bội chi trở thành trầm trọng là vì các nguồn thu giảm đáng kể và một trong những lý do khiến các nguồn thu giảm đáng kể là vì tác động của các FTA mà Việt Nam ký kết. Tính đến cuối Tháng Mười, thuế xuất - nhập cảng, một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách của Việt Nam chỉ đạt được 65% mức dự trù. 
Một số chuyên gia kinh tế từng than rằng, Việt Nam nhượng bộ rất nhiều để có thể ký kết các FTA nhưng các doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ mới khai thác được FTA ký với Nam Hàn - khoảng 73% chứng nhận xuất cảng sang Nam Hàn được hưởng ưu đãi. Tuy nhiên đa số doanh nghiệp được hưởng ưu đãi trong số 73% này là doanh nghiệp Nam Hàn đầu tư vào Việt Nam, chứ không phải doanh nghiệp Việt Nam! 
Những chuyên gia kinh tế đó nhiều lần nêu thắc mắc là nếu doanh nghiệp Việt Nam không hưởng được chút lợi lộc nào thì đàm phán - nhượng bộ - ký kết các FTA để làm gì (?) nhưng không có viên chức hữu trách nào thèm trả lời! 
Trong bối cảnh ngân sách thất thu trầm trọng, bội chi tăng nhanh và mạnh thành ra phải liên tục vay mượn thêm để chi tiêu, Bộ Tài chính Việt Nam đã ra lệnh cho ngành thuế phải… nỗ lực hơn nữa trong việc tận thu, các doanh nghiệp Việt Nam vốn đã khốn khó lại càng khốn khó hơn. (G.Đ) 

Bối cảnh hội nghị Trung ương 5 khác với đại hội 12 ra sao?

Bối cảnh hội nghị Trung ương 5 khác với đại hội 12 ra sao?

bauxitevnMon 7:02 PM

Lê Dung / SBTN 
clip_image002
Ảnh: Báo Dân Sinh 
Bằng vào bầu không khí “thi đua tố cáo” trên mạng xã hội và cả trên mặt báo nhà nước từ tuần đầu tháng Ba năm 2017 đến nay, có thể nhận ra hơi thở hầm hập của Hội nghị Trung ương 5 Đảng CSVN đang đến rất gần để phả rát gáy chính giới.

Cũng bởi theo cái cách mà một địa phương như Đà Nẵng “chiến đấu” với nhau, thì có vẻ chính giới các nơi đều muốn “ăn thua đủ”. 
Do đó, Hội nghị Trung ương 5 sắp tới có thể mang tính “quyết liệt” không kém thua gì so với Đại hội 12. Chỉ có điều, bối cảnh của Hội nghị Trung ương 5 so với thời điểm kết thúc Đại hội 12 là khác hẳn nhau. 
Sau Đại hội 12, thế “hai hổ” đã bất ngờ trở thành thế cực quyền, và đưa ông Nguyễn Phú Trọng lên đỉnh cao chưa từng có trong sự nghiệp chính trị của đời ông. Nay thì trước Hội nghị Trung ương 5, vòng hào quang trên đầu ông Trọng dường như không còn chói lọi nữa. Kể từ vụ Yên Bái “cả ba bị bắn” cho đến nay, nạn cát cứ quyền lực mà Đảng luôn lo sợ lại có chiều hướng tăng dần và tăng mạnh. Thay vì hình ảnh tập quyền ngay sau Đại hội 12, giờ đây Đảng phải đối diện với nguy cơ “đa trung tâm quyền lực”. Chẳng phải ngẫu nhiên mà từ lâu đã hiện ra “dây Thanh Hóa”, “dây miền Trung”, “dây Nam Bộ”…, chưa kể đồn đãi “tổng bí thư phải là người Bắc và có lý luận”. 
Trong khi đó, nền kinh tế và ngân sách ngày càng tuột dốc. Nếu tại thời điểm Đại hội 12 được bắt đầu bởi tán thán “ngân sách Trung ương chỉ còn 45 ngàn tỷ đồng mà không biết chi cho cái gì” của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, thì đến đầu năm 2017, tất cả mọi người đều nghe Thủ tướng Phúc bật thốt cảnh báo “sụp đổ tài khóa quốc gia”. 
Sự thật hiển nhiên là từ Đại hội 12 đến trước Hội nghị Trung ương 5, phía chính phủ vẫn chưa giải quyết được bất cứ khoản tồn đọng nào - từ nợ xấu đến nợ công và ngân sách quốc gia, chưa kể phát sinh hàng loạt vấn nạn về môi trường và xã hội. 
Hy vọng lớn nhất của Đảng trước và sau Đại hội 2 là Hiệp định TPP, nhưng đến cuối năm 2016 thì hiệp định này hầu như tan vỡ. Giờ đây trước thềm Hội nghị Trung ương 5, Đảng chỉ còn trông mong vào Hiệp định Tự do Thương mại Việt Nam - Châu Âu (EVFTA). Nhưng ngay cả hiệp định này cũng chưa hề được triển khai cho dù đã được ký kết từ cuối năm 2015. Nghe đâu, phía EU hoàn toàn không hài lòng với “thành tích nhân quyền” của chính thể Việt Nam. Mà nhân quyền lại là một điều kiện then chốt trong EVFTA. 
Và nếu sau Đại hội 12, chính thể Việt Nam vẫn còn có cơ hội để trả treo với chính quyền Obama về nhân quyền, thương mại và quân sự, thì giờ đây rất nhiều khả năng Trump không quan tâm, và cũng chẳng muốn biết Hội nghị Trung ương 5 là gì. 
Khung cảnh bế tắc toàn diện như thế lại thường dẫn đến kết quả: bất kể ai là người chiến thắng tại Hội nghị Trung ương 5, điều đó cũng chẳng có ý nghĩa đáng kể nào nữa. 
Trách nhiệm lớn nhất của người chiến thắng là phải kiếm ra tiền để nuôi Đảng, nhưng tình cảnh bây giờ lại quá khó để kiếm tiền… 
L.D.

Chính sách đất đai sẽ ly khai ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’

Chính sách đất đai sẽ ly khai ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’

bauxitevnMon 7:01 PM

Người Việt
clip_image002
Người nông dân ở Việt Nam lao động cật lực nhưng càng ngày càng nghèo. (Hình: Getty Images) 
HÀ NỘI, Việt Nam (NV)- Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc vừa thừa nhận: “Cần phải điều chỉnh quy mô sản xuất bằng cách mở rộng hạn điền một cách phù hợp”. “Hạn điền” vốn là một phần quan trọng của “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Cho đến nay, chính quyền Việt Nam vẫn xem đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân. Các cá nhân và tổ chức, trong đó có doanh nghiệp không được sở hữu mà chỉ có quyền “sử dụng đất” bởi đó là một trong những yếu tố cấu thành nền tảng của “chủ nghĩa cộng sản”. 
Tuy tuyên bố sẽ xây dựng kinh tế thị trường nhưng chính quyền Việt Nam vẫn khẳng định, “kinh tế thị trường” ở Việt Nam là “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. “Hạn điền” - đặt định giới hạn nhằm khống chế diện tích sử dụng đất nông nghiệp là một kiểu khắc họa quyết tâm đeo đuổi “định hướng xã hội chủ nghĩa” (bất kể thế nào cũng không được quá 33 héc ta). 
Những áp đặt đối với đất đai, bao gồm cả giới hạn về diện tích lẫn cách thức sử dụng đã được chứng minh là lý do khiến nông nghiệp Việt Nam lụn bại, nông dân Việt Nam khốn cùng. 
Một trong những bằng chứng rõ ràng nhất là cả lượng gạo lẫn giá gạo xuất cảng của Việt Nam cùng giảm liên tục. So với năm 2015, lượng gạo xuất cảng của Việt Nam trong năm 2016 giảm 25% và giảm đến 40% về giá trị. 
Hồi thượng tuần tháng này, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) công bố kết quả một cuộc khảo sát về những vấn đề có liên quan đến nông nghiệp và xuất cảng gạo. Theo đó giá gạo xuất cảng của Việt Nam giống như tự nguyện bù lỗ cho thiên hạ: Trong vài năm vừa qua, giá gạo xuất cảng (từ 5 đến 7 triệu tấn) luôn thấp hơn giá gạo bán lẻ trong nước! 
Sự phi lý ấy đã được các chuyên gia chứng minh là lỗi lầm của chính sách. Năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành một Nghị quyết (63/2009/NQ-CP) để “bảo đảm an ninh lương thực quốc gia,” buộc phải duy trì diện tích trồng lúa ở mức 3.8 triệu héc ta, trong đó có 3.2 triệu héc ta mỗi năm trồng ít nhất hai vụ lúa. Nghị quyết này xác định phải duy trì sản lượng lúa ở mức đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất cảng 4 triệu tấn gạo/năm. Từ đó đến nay, Nghị quyết vừa kể trở thành “kim chỉ nam” cho hoạt động nông nghiệp nói chung, cũng như sản xuất và xuất cảng gạo nói riêng. 
Theo CIEM, do nhu cầu về gạo (cả tiêu dùng lẫn xuất cảng) không lớn như dự báo nên sản lượng lúa - gạo trở thành dự thừa. Chính sự dư thừa này làm giá gạo xuất cảng giảm, cả nông dân lẫn quốc gia cùng thua thiệt. Nếu cứ tiếp tục duy trì diện tích trồng lúa và ép nông nghiệp phải đạt sản lượng như Nghị quyết 63/2009/NQ-CP đề ra từ 2009, mức độ thua thiệt sẽ càng ngày càng lớn. 
Theo nhiều chuyên gia kinh tế và nông nghiệp, việc khăng khăng duy trì diện tích trồng lúa và tiếp tục áp đặt về sản lượng đã khiến lúa gạo trở thành dư thừa, nông dân làm việc cực nhọc mà vẫn không đủ sống nên họ thi nhau bỏ hoang ruộng đất. 
Trên thị trường gạo thế giới, dư thừa làm gạo Việt Nam mất nhiều lợi thế, đặc biệt là khi phải cạnh tranh với lượng gạo xuất cảng vốn càng ngày càng cao của nhiều quốc gia khác. Đó cũng là lý do gạo xuất cảng của Việt Nam càng ngày càng phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. 
Do quá chú trọng vào sản xuất và xuất cảng lúa gạo, các lĩnh vực khác của nông nghiệp Việt Nam không được đầu tư, hỗ trợ thỏa đáng nên tiếp tục “giậm chân tại chỗ”. Sử dụng đất đai trở thành thiếu hiệu quả, không thu hút được đầu tư vào nông nghiệp. 
CIEM đã đưa ra nhiều khuyến cáo, theo đó, không cần phải duy trì đến 3.8 triệu héc ta đất chỉ để trồng lúa. Hủy bỏ hạn điền, hủy bỏ các qui định khiến giới đầu tư hoang mang vì quyền tài sản đối với đất nông nghiệp mập mờ (khống chế thời hạn sử dụng, nếu bị thu hồi thì chỉ được bồi thường với giá rất thấp,…). 
Trước đây, những khuyến cáo của các chuyên gia không được xem xét nhưng vào lúc này, sự bi đát của nông nghiệp và nông dân Việt Nam đã đẩy chính quyền Việt Nam đến chỗ phải “xét lại”. 
Tại một hội nghị bàn về giải pháp phát triển bền vững cho lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ở An Giang, ông Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận, lúa gạo vẫn là một loại nông sản chiến lược mà Việt Nam có nhiều lợi thế, nếu “sản xuất lớn, áp dụng công nghệ, quản lý phù hợp và tiếp thị tốt” thì hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa gạo sẽ tăng nhiều lần so với hiện nay. Cũng vì vậy “phải điều chỉnh quy mô sản xuất bằng cách mở rộng hạn điền một cách phù hợp”. 
Ông Phúc nhấn mạnh, các Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn, Tài nguyên-Môi trường phải sớm soạn thảo - trình chính sách phù hợp để mở rộng hạn điền song song với kế hoạch sửa Hiến pháp để Chính phủ Việt Nam trình Quốc hội. (G.Đ) 

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Tài trợ phát triển và lạm dụng dân nghèo

Tài trợ phát triển và lạm dụng dân nghèo

Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2017-03-22

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
Đôi bàn tay của một cậu bé làm việc trong xưởng đóng tàu ở Bangladesh chụp hôm 18/2/2016.
Đôi bàn tay của một cậu bé làm việc trong xưởng đóng tàu ở Bangladesh chụp hôm 18/2/2016.
Ngân hàng Thế giới World Bank và chi nhánh là Công ty Tài trợ Quốc tế IFC đã gián tiếp gây ô nhiễm môi sinh, nạn tận thu và cưỡng chế đất đai nhà cửa ở khu vực Đông Nam Á. Trên đây là lời cáo buộc do Tổ chức Inclusive Development International (IDI) nêu ra trong phúc trình vừa công bố hôm 17 Tháng Ba. Được thành lập như một định chế tài trợ phát triển cho các nước nghèo, vì sao Ngân hàng Thế giới lại có thể gây hậu quả đó?
Giúp nước nghèo 
Nguyên Lam: Thưa ông, tuần qua thì một tổ chức vô vụ lợi thành lập tại Hoa Kỳ là Inclusive Development International, mà ta có thể dịch là “Hỗ tương Bao hàm trong Phát triển Quốc tế”, đã gây chấn động trong dư luận quan tâm đến việc phát triển các nước nghèo khi phê phán Ngân hàng Thế giới và bộ phận tài trợ tư doanh là Công ty Tài trợ Quốc tế IFC gián tiếp gây ô nhiễm môi sinh và nhiều tệ nạn khác trên thế giới, tại Đông Nam Á và cả Việt Nam. 
Họ còn nói rằng trong sáu tháng tới sẽ tiếp tục công bố kết quả kiểm tra từ nhiều năm qua để yêu cầu Ngân hàng Thế giới cùng Công ty IFC thay đổi chính sách tài trợ nhằm thực sự cứu dân nghèo thay vì gây thêm tai họa cho các nước. Từng được Ngân hàng Thế giới huấn luyện từ ngày xưa và là tư vấn kinh tế cho các nước nghèo, ông nghĩ sao về lời cáo buộc này?
Sự thật là nhiều dự án xâm hại môi trường sinh sống của dân cư sở tại mà các chuyên gia bất cần.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi có để ý đến lời cáo buộc ấy và cả sự chống chế mà thiếu cải tiến của cơ quan IFC lẫn Ngân hàng Thế giới khi bị các tổ chức phi chính phủ đả kích từ nhiều năm qua và chúng ta sẽ còn phải theo dõi những phát giác kế tiếp của tổ chức Inclusive Development International. Phần mình, từ môi trường sinh hoạt ấy mà ra, tôi nghĩ rằng vấn đề nó sâu xa nghiêm trọng gấp bội nên xin đề nghị là chúng ta cùng kiên nhẫn tìm hiểu vì nếu không cải sửa thì những hậu quả tai hại vẫn chưa hết đâu. Trước hết, về Ngân hàng Thế giới thì ta cần trở về mối họa từ đầu nguồn, khi định chế này ra đời hơn 70 năm trước.
Cuối Đệ nhị Thế chiến, vào năm 1944, Hoa Kỳ cùng các nước dân chủ Tây phương chuẩn bị dựng lại kiến trúc tài chính toàn cầu để tránh vụ Tổng khủng hoảng xảy ra từ 1929-1933 và là một trong nhiều nguyên nhân của đại chiến. Trong Chính quyền Mỹ khi đó có kinh tế gia Harry Dexter White nổi tiếng tương tự như ông John Maynard Keynes người Anh. Là công trình sư soạn thảo văn kiện thành lập Ngân hàng Thế giới với chủ trương sau này là Điều IV, Khoản 10, ông White viết rằng “Ngân hàng Thế giới và nhân viên không nên xen vào nội bộ chính trị của các nước hội viên…” tức là không bị chi phối bởi đặc tính chính trị của các nước mà chỉ nên quan tâm để yếu tố kinh tế.
Nguyên Lam: Nguyên Lam và quý thính giả của chúng ta đã quen dần với cách nhìn của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa khi ông trở về bối cảnh sâu xa của những biến cố hiện đại. Nhưng vì sao ông lại trở ngược đến tận năm 1944 để nói về một vấn đề của năm 2017?
075_roszandi-notitle170103_np1Fo-400.jpg
Người nghèo trong khu vực tồi tàn ở Jakarta chụp hôm 3 tháng 1 năm 2017. AFP photo
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Có lẽ tôi cần trở ngược sâu xa hơn vậy nữa! Ngay từ năm 1941, ông White đã bày tỏ sự khâm phục thành tựu kinh tế của Liên bang Xô viết. Khi ấy, người ta tưởng đấy chỉ là một nhận thức cá nhân của ông ta, như của nhiều chuyên gia trí thức ngây dại khác. Vả lại trong Thế chiến II, khi Đức Quốc Xã hủy bỏ hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô mà tấn công nước Nga thì phe Tây phương cần hợp tác với Liên Xổ để chống kẻ thù chung. Khi ông White chủ trương là Ngân hàng Thế giới không nên quan tâm đến thể chế chính trị thì cũng để mong định chế này sẽ có Liên Xô là hội viên.
Điều không ngờ mà người ta chỉ biết về sau là kinh tế gia Harry Dexter White cộng tác với tình báo Xô viết từ lâu mà các chính quyền Franklin Roosevelt và Harry Truman không biết, hoặc không tin. Mãi sau này, nhờ một dự án tối mật của hệ thống quân báo Hoa Kỳ người ta mới biết sự thật và năm 1997, là 20 năm trước, “Dự án Venona” này được công khai hóa với vai trò nghiêm trọng của ông White cùng nhiều viên chức cao cấp khác của Hoa Kỳ.
Nhưng cái mầm họa bị cấy trong định chế tài trợ phát triển lại còn nguyên vì vậy chẳng ai ngạc nhiên khi Ngân hàng Thế giới tài trợ các chính quyền độc tài tham nhũng hoặc nhiều dự án phát triển của Trung Quốc đã gây ô nhiễm môi sinh mà ít ai nói tới vì sợ mất phần ăn với Tầu. Đấy là lẽ cái thứ nhất mà chương trình của chúng ta có đề cập tới khi nêu vấn đề vì sao mầm dân chủ khó mọc tại Đông Á là nơi có nhiều thành tựu kinh tế được các định chế quốc tế ngợi ca.
Nguyên Lam: Ông vừa nói rằng “đấy là cái lẽ thứ nhất”, nghĩa là ông cho rằng còn có nhiều lẽ khác nữa hay sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Một sai lầm của các định chế quốc tế lẫn nhiều chuyên gia kinh tế là cố tình tránh né yếu tố chính trị. Thành phần chuyên gia thư lại ấy được trả lương cao và còn miễn thuế để gọi là giúp nước nghèo mà họ không được nhắc đến chính trị trong phúc trình chuyên môn của họ. Đa số thì chỉ muốn làm xong việc rồi đi nơi khác chứ sợ bị chế độ độc tài làm phiền. Thành ra đôi bên ở trên đều báo cáo tốt đẹp chứ sự thật bên dưới chẳng như vậy. Sự thật bên dưới là dân nghèo bị đuổi khỏi vùng đất sống của họ để “giải phóng mặt bằng” mà không được đền bù tương xứng nhằm thực hiện các công trình dự án do quốc tế tài trợ với sự chỉ đạo kỹ thuật của các chuyên gia.
Sự thật là nhiều dự án xâm hại môi trường sinh sống của dân cư sở tại mà các chuyên gia bất cần. Khi bị nạn thì kỹ sư quốc tế lại được mời qua cải sửa với thù lao rất cao tính vào ngân khoản viện trợ! Mọi người đều vui với thành quả ấy, trừ đám dân nghèo. Hàng năm, giới chuyên gia quý tộc ấy vẫn họp hành trong khung cảnh sang trọng để nói về thành tựu của họ mà sau cùng lại ngẩn ngơ khi khủng hoảng bùng nổ ở nơi này nơi khác. Vấn đề không chỉ là đặc tính “phi chính trị” của hệ thống tài trợ phát triển mà là “phi nhân quyền” và “phi nhân phẩm”! Đấy là cái lẽ thứ hai….
Chuyện Việt Nam 
Nguyên Lam: Khi nhìn vào một số dự án có vấn đề hiện nay tại Việt Nam thì có lẽ thính giả của chúng ta hiểu ra một thực tế tiêu cực ở bên ngoài, hay bên dưới mà ông vừa nêu ra, thưa ông, có phải như vậy không? 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Một tổ chức tài trợ tư doanh như Công ty IFC có thể chủ trương việc rất ư phải đạo là “phát triển tư doanh”. Nhưng các chuyên gia và tư vấn tài chính kinh tế được họ gửi vào các nước nghèo và độc tài thì không thể không biết rằng dự án tài trợ, thí dụ như ngân hàng này ngân hàng nọ, chỉ là một trong nhiều chi nhánh của một tập đoàn kinh tế nhà nước do một nhân vật lãnh đạo nào đó thật sự điều khiển qua tay chân và thân tộc trong mạng lưới làm ăn của ông ta. Các chuyên gia ngoại quốc ấy chẳng dại gì nêu vấn đề vì bị thiệt hại hoặc phiền nhiễu nên chỉ làm cho xong. Rồi quốc tế bèn khen rằng Việt Nam hay xứ nọ đã có thêm một số “ngân hàng tư nhân” dù tư doanh thật thì vẫn khó tìm ra tín dụng để làm ăn.
Sau đó, nếu ngân hàng do Công ty IFC yểm trợ để thành hình mà cung cấp tín dụng cho loại dự án vô giá trị về kinh tế hoặc xâm nhiễm môi trường sinh sống của người dân thì đấy là trách nhiệm của các nước nghèo đã được viện trợ! Đâm ra mục tiêu viện trợ có đặc tính phi chính trị lại xâm phạm nhân quyền, nhân phẩm của người dân đáng lẽ ra là đối tượng cần ưu tiên giúp đỡ.
000_Hkg10257116-400.jpg
Chủ tịch Tập đoàn Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim (phải) và Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hà Nội ngày 23 tháng 2 năm 2016. AFP photo
Nhiều người Mỹ qua Việt Nam làm ăn cứ hỏi tôi vì sao Việt Nam có quá nhiều người giầu như vậy. Câu trả lời có thể là Việt Nam đang công nghiệp hóa, nay có 90 triệu dân thay vì chỉ có 22 triệu tại miền Bắc và 24 triệu tại Việt Nam cuối thời chiến tranh! Nhưng câu trả lời thực tế nhất vẫn là “chủ nghĩa tư bản thân tộc” và quy định quái đản về đất đai, vốn “thuộc quyền sở hữu của toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” mà lại do tay chân của đảng và nhà nước toàn quyền phân phối.
Những người Mỹ ấy không biết đến các dự án thủy điện hay công nghiệp làm trăm ngàn người khốn khổ, trong khi báo chí chỉ nói tới các đại gia chẳng còn có vẻ gì là cộng sản và cho rằng chủ nghĩa tư bản đã cám hóa họ. Chế độ là sự cộng sinh giữa độc tài và tham nhũng mà chuyên gia quốc tế chẳng cần biết nên là đồng lõa cho cái xấu mà có lẽ cũng bất cần.
Nguyên Lam: Ông đã hai lần nhắc tới tình trạng ông gọi là phi nhân phẩm hay xâm phạm nhân quyền. Phải chăng đấy là một nguyên nhân sâu xa khiến việc tài trợ phát triển lại không được dân nghèo hưởng ứng hay ủng hộ? 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi cho là dân đen còn oán các tổ chức quốc tế khi mờ sáng thấy đoàn xe ủi đất lững lững đi vào, có khi được công an bảo vệ, để san bằng ruộng vườn. Sau đó họ mới thấy dựng lên vài tấm bảng giới thiệu một công trình kỹ nghệ sẽ được thực hiện trên vùng đất của ông bà tổ tiên, mà lợi ích kinh tế tài chính lại chảy vào túi của ai khác trên thành phố. Nhà báo ngây ngô được vào đó chụp hình một dự án hiện đại hóa cái xứ nghèo nàn này trong khuôn khổ của chương trình viện trợ để cứu đói giảm nghèo? Chuyện như vậy xảy ra quá nhiều nên không là một tai nạn đơn lẻ mà là một trào lưu đáng ngại cho các nước Á Phi.
Nếu xứ sở có thể chế dân chủ và luật pháp nghiêm minh thì người dân được quyền biết và lên tiếng về các dự án sẽ thực hiện tại địa phương và vấn đề hay đề nghị mà họ nêu ra phải được chuyên gia ghi vào phúc trình nghiên cứu tính chất khả thi của dự án. Rốt cuộc thì người ta phải quan niệm lại vai trò của viện trợ cho các nước nghèo lẫn trách nhiệm của các chuyên gia.
Chế độ là sự cộng sinh giữa độc tài và tham nhũng mà chuyên gia quốc tế chẳng cần biết nên là đồng lõa cho cái xấu mà có lẽ cũng bất cần.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Như vậy, ông đang dẫn chúng ta đến phần kết luận của câu chuyện phức tạp này. Thưa ông, kết luận ấy là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trong bảy thập niên, giới chuyên gia kinh tế tranh luận từ hai giác độ tả hữu về việc tạo ra thịnh vượng, với một kẻ tốt nghiệp Đại học Harvard như ông White mà còn u mê tin rằng hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung sẽ đẩy lui sự nghèo đói! Kết cuộc thì chủ nghĩa cộng sản tự phá sản và ta thấy kinh tế thị trường mới có ưu thế nên các chế độ cộng sản như tại Trung Quốc và Việt Nam bèn cải cách hay đổi mới, mà vẫn sai! Cái sai đầu tiên là từ kẻ sùng chuộng tư bản chủ nghĩa vì cho rằng thịnh vượng kinh tế sẽ thay đổi chế độ chính trị, chẳng khác gì lý luận duy vật Mác-xít. Cái sai kế đó là từ đám chuyên gia Tây phương khi tưởng là việc xóa đói giảm nghèo qua các kế hoạch, chương trình hay dự án từ trên ban xuống sẽ đem lại thịnh vượng.
Họ sai vì các chế độ độc tài theo đúng phép đó, dùng chuyên gia kinh tế làm công cụ để nói tới xóa đói giảm nghèo mà làm giàu cho bọn có quyền qua tham nhũng và phá hủy môi sinh lẫn nhân phẩm. Thành thử, vấn đề không là số liệu về lợi tức mà quốc tế cứ tung hứng và báo chí loan truyền. Vấn đề là quyền lên tiếng của dân nghèo, là nhân quyền, dân quyền và nhân phẩm của người nghèo trước sự toa rập của bọn chuyên gia quốc tế và các chế độ côn đồ. Thế giới đang dần dần thấy ra thực tế phũ phàng đó và sẽ phải đổi thay nữa.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông  về cuộc phỏng vấn này. 

24 lý do khiến Iceland là một trong những nước đáng sống nhất thế giới

24 lý do khiến Iceland là một trong những nước đáng sống nhất thế giới

Iceland là một đảo quốc có vẻ đẹp siêu thực với khung cảnh thiên nhiên ngoạn mục. Đây cũng là một trong những quốc gia thưa dân nhất trên thế giới.
Trên khắp đất nước này là những miệng núi lửa, những dòng sông băng hùng vĩ, đá rêu xanh, suối nước nóng, những mỏ đá dung nham… và hầu như rất ít người sinh sống. Chính vì vậy, nơi này thường được lấy làm bối cảnh cho các bộ phim khoa học viễn tưởng. 
Iceland là nguồn cảm hứng cho những câu chuyện của tác giả cuốn tiểu thuyết lừng danh “Chúa tể của những chiếc nhẫn” và vùng đất này đôi khi còn được sử dụng làm nơi diễn tập đáp xuống Mặt Trăng.
Hơn nữa, người dân ở đây rất tốt bụng, thân thiện và dễ mến.
Dưới đây là một số lý do tại sao Iceland lại là một trong những đất nước tuyệt vời và đáng sống nhất thế giới:

1. Vào giữa những năm 1970, Iceland đã xây dựng một nhà máy địa nhiệt và vô tình tạo ra một trong những địa điểm hấp dẫn du khách nhất trên thế giới: Đầm phá Xanh (Blue Lagoon).


1. Because in the mid-1970s Iceland built a geothermal power plant, and accidentally created one of the most visited places in the world: the Blue Lagoon.
(Ảnh: Robert Hoetink / Shutterstock.com)
Nước ở đây có nhiệt độ trung bình từ 37 – 39 độ C. Dòng nước trong xanh, ấm nóng kết hợp khoáng chất có tác dụng rất tốt trong việc trị liệu về da liễu, đồng thời giúp tinh thần thư giãn.

2. Siêu phẩm điện ảnh “Lạc vào tiền sử” (hay “Hành trình vào tâm Trái Đất”, tên tiếng Anh “Journey to the center of the earth”) nổi tiếng được quay tại Iceland.


2. Because “The Journey To The Center Of The Earth” begins in Iceland.
(Ảnh: Shutterstock)
Tuy bộ phim được chuyển thể từ một cuốn tiểu thuyết hư cấu của nhà văn Jules Verne, nhưng bạn có thể đến nơi thực tế này tại Iceland: núi lửa Snæfellsjökull. 

3. Vùng đất Iceland có hàng triệu con hải âu rụt cổ

Vào mỗi tháng Tám, hàng triệu con hải âu rụt cổ sơ sinh rời khỏi vách đá đảo Westman để bay qua bắc Đại Tây Dương. Nhưng nhiều con sẽ bị ảnh hưởng bởi những ngọn đèn của thị trấn Haimaey và gió nên bị rớt xuống các đường phố, vì vậy người dân thị trấn sẽ nhặt chúng lên và đưa chúng đến bờ biển để chúng trở về đúng hướng bay. Qua nhiều năm, việc này đã trở thành một hoạt động đặc biệt dành cho trẻ em. 

4. Cảnh quan thiên nhiên độc đáo được bảo tồn tốt bởi người Iceland tin vào “người bí ẩn” sống bên dưới những tảng đá.

Người ta nói rằng những cảnh quan thiên nhiên độc đáo của Iceland được bảo tồn nhờ vào câu chuyện về “người bí ẩn” sống bên dưới những tảng đá. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng câu chuyện đã được người dân thường xuyên truyền nhau để ngăn chặn việc khai phá, phát triển xây dựng mới, giúp bảo tồn cảnh quan thiên nhiên của đất nước.

5. Có hàng ngàn thác nước trên khắp Iceland.

Iceland là nơi có những thác nước mạnh nhất và lớn nhất ở châu Âu.

6. Nhà hàng nổi tiếng nhất ở Iceland là một cửa hàng nhỏ bán bánh mỳ kẹp xúc xích ở trung tâm thành phố Reykjavik.

Đây là món ăn truyền thống của Iceland.

7. Iceland là vùng đất của mặt trời mọc… lúc nửa đêm 


7. Because it is the land of the midnight sun.
(Ảnh: Shutterstock)
Để chào mừng hiện tượng mặt trời lúc nửa đêm vào mùa hè. Iceland đã tổ chức một lễ hội âm nhạc ở Reykjavik được gọi là Secret Solstice. Mặt trời đã không lặn trong suốt lễ hội ba ngày. 

8. Trung tâm thành phố Reykjavik trông giống như một vùng đất cổ tích với những ngôi nhà đầy màu sắc.


8. Because downtown Reykjavik looks like a wonderland of different candy-colored houses.
(Ảnh: Shutterstock)

9. Iceland được xếp hạng là một trong những nước “hạnh phúc nhất thế giới”, theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2017 của Liên Hiệp Quốc.

10. Iceland là đất nước cực kỳ an toàn.

11. Cảnh sát Iceland cũng có khiếu hài hước tuyệt vời.


11. Because the Icelandic police also have a great sense of humor and a very silly Instagram account.
(Ảnh: Instagram/Logreglan)

12. Quốc đảo này không ngừng phát triển mạnh mẽ và bền vững.


12. Because Iceland is a volcanic island that is constantly growing.
(Ảnh: Facebook/Inspired by Iceland)

13. Địa hình ở Iceland rất đa dạng và phong phú.


(Ảnh: Shutterstock)
(Ảnh: Shutterstock)

Iceland cũng có sa mạc lớn nhất châu Âu. 

14. Người dân ở đây vẫn nói tiếng Iceland, một ngôn ngữ không thay đổi gì nhiều trong hơn một ngàn năm qua. 


14. Because they still speak Icelandic, which is a language that has been largely unchanged for over a thousand years.
(Ảnh: Shutterstock)
Trên thực tế, ngày nay người Iceland vẫn có thể đọc Sagas cổ đại.

15. Iceland được xem là đất nước tốt nhất trên thế giới dành cho phụ nữ. 

Trong 6 năm liên tiếp, Iceland được đánh giá là quốc gia có khoảng cách về giới tính thấp nhất thế giới. 

16. Đây cũng là một trong những quốc gia có mật độ dân số thấp nhất thế giới, vì vậy không có chuyện xảy ra tắc nghẽn giao thông.


16. Because there
(Ảnh: Shutterstock)

17. Iceland là nơi duy nhất trên thế giới mà bạn có thể vào buồng magma của núi lửa bằng thang máy.


17. Because Iceland is the only place in the world where you can take an elevator directly into a volcano’s magma chamber.
(Ảnh: Facebook/Inside the Volcano0

18. Iceland không có quân đội cũng chưa từng tham gia vào một cuộc xung đột vũ trang.


18. Because Iceland has never had a military, or entered into a conflict.
(Ảnh: Asta Thrastardottir/Business Insider)

19. Vùng đất này là một trong những nơi tốt nhất thế giới để ngắm cực quang tuyệt đẹp.


19. Because it is one of the best places to catch the Northern Lights.
(Ảnh: TripAdvisor / ION Luxury Adventure Hotel)

20. Tại Iceland, diễn viên hài cũng có thể tranh cử và giữ chức Thị trưởng thành phố.


20. Because comedian Jon Gnarr ran for Mayor of Reykjavik, the capital city, on a joke campaign called the “Best Party” — and actually won. One of his promises was to put a polar bear in the local zoo.
(Ảnh: Facebook/Jón Gnarr)
Diễn viên hài Jon Gnarr đã tranh cử Thị trưởng thành phố Reykjavik bằng một chiến dịch hài hước gọi là “Đảng tốt nhất” và thực sự đã chiến thắng. Một trong những lời hứa tranh cử của ông là đưa một con gấu Bắc Cực vào vườn thú địa phương.

21. Hầu như tất cả các ngôi nhà ở đây đều được sưởi ấm bằng năng lượng địa nhiệt. 


21. Because nearly all of the homes are heated by geothermal energy.
(Ảnh: Brian Gratwicke/Flickr)

22. Iceland có tỷ lệ phần trăm các nhà văn trong dân số cao hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. 


22. Because Iceland has a higher percentage of writers in its population than any other country in the world.
(Ảnh: Flickr/Richard P J Lambert)
Iceland cũng là nước xuất bản nhiều sách trên đầu người nhất. Vào năm 2011, Reykjavik đã trở thành thành phố văn học được UNESCO công nhận. 

23. Iceland có các hồ nước nóng địa nhiệt ngoài trời mở cửa quanh năm, bất kể thời tiết như thế nào.


23. Because Icelanders understand that their country is dark and cold for a lot of the year, so they have outdoor geothermal heated pools open all year round, regardless of the weather.
(Ảnh: Facebook/Best Of Iceland)

Người Iceland hiểu rằng đất nước họ luôn tối tăm và lạnh trong phần lớn thời gian trong năm, vì vậy họ luôn có hồ nước nóng địa nhiệt ngoài trời mở cửa quanh năm, bất kể thời tiết như thế nào
Bạn có thể nhìn thấy hồ nước nóng ngoài trời nằm rải rác khắp thành phố, Iceland về cơ bản xem hồ nước nóng ngoài trời như quán bar, nơi mọi người gặp gỡ và trò chuyện sau giờ làm việc. 

24. Cảnh quan ở Iceland rất giống bề mặt Mặt Trăng, cả nhà du hành vũ trụ Buzz Aldrin và Neil Armstrong đều diễn tập hạ cánh xuống Mặt Trăng tại đây.