Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

Coronavirus và nước cờ mạo hiểm của Trung Quốc

Coronavirus và nước cờ mạo hiểm của Trung Quốc

Nguyễn Quang Dy
25-4-2020
Trong khi Mỹ và các nước phương Tây đang phải tập trung đối phó với đại dịch coronavirus bùng phát với hệ quả khó lường, thì Trung Quốc tranh thủ thời cơ mở chiến dịch tuyên truyền với “ngoại giao khẩu trang”, và tiếp tục “ngoại giao pháo hạm” tại Biển Đông. Đó là nước cờ mạo hiểm của Trung Quốc nhằm “đục nước béo cò” và “ngư ông đắc lợi”.
Tuyên truyền phản tác dụng
Chiến dịch tuyên truyền và “ngoại giao khẩu trang” của Trung Quốc nhằm ba mục đích chính. Một là để đánh lạc hướng dư luận về coronavirus xuất xứ từ Vũ Hán mà họ đã phủ nhận. Hai là ca ngợi mô hình chống dịch của họ đã thành công. Ba là tuyên truyền cho “quyền lực mềm” của Trung Quốc đã đối phó thắng lợi với đại dịch, nay đang giúp các nước.
Theo các chuyên gia, chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc theo kiểu Liên Xô cũ trong chiến tranh lạnh, tuy “hùng hổ nhưng vụng về” (aggressive but clumsy), nên có thể “phản tác dụng” (backfiring). Bắc Kinh muốn đánh bóng và đánh tráo hình ảnh Trung Quốc (đang xấu đi), để lấy lòng dân trong nước (đang bất bình) và dư luận quốc tế (ngày càng bất lợi).
Có mấy lý do chiến dịch tuyên truyền của họ sẽ phản tác dụng. Một là sau bước đầu chập chững, các nước EU bắt đầu đoàn kết để chống đại dịch. Về lâu dài, Trung Quốc không thể lợi dụng tình trạng mất đoàn kết của Châu Âu để tuyên truyền rằng “chỉ có Trung Quốc giúp”. EU vừa tuyên bố là “Pháp và Đức đã giúp Ý số khẩu trang còn nhiều hơn Trung Quốc”.
Hai là EU bắt đầu phản công lại chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc. Josep Borrell (phụ trách đối ngoại của EU) đã lên án thông tin thất thiệt của Trung Quốc, làm Hoa Vi cắt giảm chương trình tài trợ khẩu trang cho EU. Ngày 26/3, EC kêu gọi Châu Âu phải tham gia “trận chiến truyền thông” để chống lại tuyên truyền thất thiệt của Trung Quốc.
Ba là các thiết bị y tế chất lượng kém của Trung quốc đã làm dư luận Châu Âu phản ứng mạnh. Một số nước như Tây Ban Nha, Hà Lan, Cộng hòa Séc, đã trả lại các bộ xét nghiệm (test kits) do Trung Quốc sản xuất, trong khi một số nước khác cũng trả lại khẩu trang Trung Quốc. EC vừa đưa ra các chỉ đạo mới để kiểm soát chất lượng hàng hóa y tế thiết yếu.
Bốn là tâm trạng nghi ngờ Trung Quốc của người Châu Âu không giảm vì những lo ngại sâu sắc về ảnh hưởng kinh tế và chính trị do Trung Quốc trỗi dậy. Điều đó phản ánh quan điểm cứng rắn trong các nước EU mà cách đây một năm, tài liệu “Chiến lược của EU đối với Trung Quốc” (EU Strategy paper on China) đã đề cập tới “như là đối thủ” (systemic rival).
Tóm lại, trước mắt Trung Quốc có thể ghi điểm với một số chính phủ dân túy, nhưng về lâu dài, chiến dịch tuyên truyền của họ không thay đổi được hình ảnh. Nếu Bắc Kinh muốn cải thiện quan hệ với Châu Âu, họ phải minh bạch về cách đối phó với coronavirus, không tuyên truyền thất thiệt và chính trị hóa tài trợ y tế. (No, Covid-19 Isn’t Turning Europe “Pro China”, Erik Brattberg and Philippe Le Corre, Belfer Center, Harvard, April 15, 2020).
Biển Đông lại nổi sóng
Theo Reuters, từ 16/4/2020, tàu khảo sát HD-8 và các tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã bám theo và quấy rối tàu khoan West Capella của Petronas (Malaysia) đang thăm dò dầu khí trên thềm lục địa kéo dài về phía nam quần đảo Trường Sa. Theo MarineTraffic (23/4) tàu HD-8 vẫn đang trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, cách Borneo khoảng 336km.
Trong khi tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và USS Ronald Reagan đang bảo trì và cách ly tại cảng (Guam và Nhật) vì nhiều thủy thủy bị lây nhiễm coronavirus, nhóm tác chiến tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc đang hoạt động gần bãi cạn Macclesfield. Trung Quốc định bắt nạt Malaysia như họ đã bắt nạt Việt Nam tại bãi Tư Chính (năm 2019).
Theo Greg Poling (AMTI director/CSIS) ngày 20/4, các tàu tuần dương USS Bunker Hill, tàu đổ bộ USS America, tàu khu trục USS Barry (của Mỹ) và tàu khu trục HMAS Parramatta (của Úc) đã tập trận tại vùng biển tranh chấp giữa Malaysia và Trung Quốc, gần nơi tàu khoan West Capella của Petronas (Malaysia) và tàu HD-8 của Trung Quốc đang hoạt động.
Ngày 23/4, Malaysia đã tuyên bố cam kết bảo vệ lợi ích của mình ở Biển Đông. Ngoại trưởng Hishammuddin Hussein của Malaysia nói, “Trong khi luật pháp quốc tế đảm bảo quyền tự do hàng hải, sự hiện diện của tàu chiến và tàu cảnh sát biển ở Biển Đông có khả năng làm gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực”.
Trong khi Bộ Quốc phòng Mỹ điều tàu sân bay USS Harry Truman từ Trung Đông sang vùng Indo-Pacific để tăng cường cho hạm đội Thái Bình Dương, thì Không quân Mỹ lại dừng hoạt động của các máy bay ném bom chiến lược tầm xa tại Guam, vì dịch coronavirus. Các lỗ hổng chiến lược của Mỹ ở khu vực là cơ hội để Trung Quốc bành trướng. (China lays ever larger claim to South China Sea, Richard Heydarian, Asia Times, April 21, 2020).
Theo Nicole Schwegman (spokeswoman, US Indo-Pacific Command), với sự có mặt và hoạt động của Mỹ ở Biển Đông, “chúng ta đang phối hợp với các đồng minh và đối tác để đảm bảo tự do hàng hải và hàng không, cũng như các nguyên tắc quốc tế về an ninh và thịnh vượng ở Indo-Pacific… Mỹ ủng hộ đồng minh và đối tác vì lợi ích kinh tế của họ”.
Nhưng có một nghịch lý là chính phủ các nước khu vực vẫn lo ngại về “thói quen của Mỹ” là tuy họ xuất hiện tại các điểm nóng nhưng rồi lại rút, để các nước khu vực tự đối phó với Trung Quốc ngày càng mạnh. (US Warships Enter Disputed Waters of South China Sea as Tensions With China Escalate, Hannah Beech, New York Times, April 21, 2020).
Peter Jenning (Director, Australian Strategic Policy Institute) cho rằng trong khi phải đối phó với dịch coronavirus, Trung Quốc vẫn không giảm mà còn tăng cường hoạt động quân sự tại Biển Đông. Theo Jennings, “Ý đồ chiến lược của Trung Quốc là phải tranh thủ tối đa cơ hội khi Mỹ đang bị phân tâm và mất khả năng gây sức ép với các nước khu vực”.
Theo Alexander Vuving (APCS, Honolulu), tuy Trung Quốc phải chống dịch bùng phát, nhưng họ vẫn tư duy theo các mục tiêu chiến lược lâu dài của mình. Trung Quốc muốn tạo ra tình huống “bình thường mới” (new normal) ở Biển Đông nơi họ đang làm chủ. Và để làm điều đó, họ trở nên “ngày càng hung hăng hơn” (more and more aggressive).
Joshua Kurlantzick (CFR) cho rằng Trung Quốc lợi dụng lúc Mỹ và đồng minh phương Tây đang lo đối phó với đại dịch, để bắt nạt các nước khu vực vì lợi ích trước mắt, sẽ làm phương hại cho mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là phải lấy lòng các nước. Nhưng việc Mỹ bị phân tâm và mất khả năng đối phó là cơ hội quá hấp dẫn với Trung Quốc. (COVID19 and the South China Sea, Joshua Kurlantzick, Council on Foreign Relations, April 22, 2020).
Tam chủng chiến pháp
Chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông là chờ thời cơ, dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa (1974) và một phần Trường Sa (1988). Sau đó, họ “thay đổi thực địa” (changing facts on the ground) bằng cách bồi đắp các đảo nhân tạo vả quân sự hóa thành các “cứ điểm” (outposts). Họ từng bước lấn chiến như “tầm ăn dâu” để thành “chuyện đã rồi” (fait accompli).
Trung Quốc áp dụng “Tam chủng Chiến pháp” (tâm lý, pháp lý, tuyên truyền). Về tâm lý, họ hành xử kiểu “nước lớn” bắt nạt “nước bé”, gây tâm lý lo sợ bị trừng phạt. Về pháp lý, họ dựa vào sức mạnh, bất chấp luật pháp quốc tế. Về tuyên truyền, họ áp đặt những gì có lợi cho mình, sẵn sàng “đổi trắng thay đen” và “biến không thành có”, làm thật giả lẫn lộn.
Để hợp pháp hóa việc chiếm đóng và khẳng định chủ quyền (phi pháp) ở Biển Đông, năm 2012 Trung Quốc lập ra “thành phố Tam Sa” (Sansha), đặt trụ sở tại đảo Phú Lâm (Woody island tại Hoàng Sa). Họ di dân đến đó sinh sống và phát triển du lịch để có bộ mặt “dân sự”.  Ngày 18/4, họ lập ra quận đảo Nam Sa (Nansha) và Tây Sa (Xinsha). Ngày 19/4, họ đặt tên tiếng Trung cho 25 đảo, bãi đá và 55 thực thể địa lý dưới đáy Biển Đông (một cách phi pháp).
Năm ngoái (7-10/2019), tàu khảo sát HD-8 và các tàu hải cảnh hộ tống của Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền và quấy rối hoạt động dầu khí của Việt Nam gần Bãi Tư Chính và trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Họ đã gây ra “đối đầu” (standoff) và khủng hoảng Biển Đông (lần thứ hai) buộc các tàu cảnh sát biển của Việt Nam phải bám sát để ngăn chặn.
Ngày 12/12/2019, sau khi Malaysia gửi LHQ hồ sơ về thềm lục địa mở rộng, thì cùng ngày 12/12, Trung Quốc gửi LHQ Công hàm phản đối Malaysia. Ngày 6/3/2020, sau khi Philippines gửi LHQ hai Công hàm trình bày quan điểm và phản đối các yêu sách của Trung Quốc, thì ngày 23/3 Trung Quốc gửi LHQ Công hàm đáp lại Philippines. Ngày 14/4/2020, Việt Nam gửi LHQ thêm hai Công hàm để đáp lại quan điểm của Malaysia và Philippines.
Ngày 20/03/2020, Trung Quốc khánh thành hai trạm nghiên cứu trên đảo đá Chữ Thập và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Quốc còn tiến hành tập trận tại Biển Đông (tháng 3/2020). Ngày 02/04/2020, tàu hải cảnh Trung Quốc đã đâm chìm một tàu đánh cá Việt Nam tại vùng biển Hoàng Sa, và vu cáo tàu đánh cá Việt Nam đâm vào tàu hải cảnh của họ.
Ngày 30/3/2020, Việt Nam gửi LHQ Công hàm khẳng định chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, và phản đối các lập luận vô lý của Trung Quốc tại biển Đông trong các Công hàm trước đó. Ngày 17/4/2020, Trung Quốc gửi LHQ Công hàm đáp trả Công hàm của Việt Nam, trong đó có những lời lẽ hàm ý đe dọa sử dụng vũ lực. Nói cách khác, “cuộc chiến công hàm” này là một phần của “Tam chủng Chiến Pháp” (Three Warfare Doctrine).
(1) Phản biện các yêu sách của Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam,
(2) Khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa,
(3) Khẳng định Luật Biển 1982 là cơ sở pháp lý duy nhất quy định phạm vi vùng biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Theo các chuyên gia về luật biển, Công hàm của Trung Quốc (17/4) có lời lẽ hàm ý đe dọa sử dụng vũ lực. Vì vậy, trong bối cảnh khó lường hiện nay, Việt Nam phải cảnh giác đề phòng Trung Quốc có thể nghi binh để dùng vũ lực (tàu hải cảnh và “dân quân biển”) uy hiếp các giàn DK gần Bãi Tư Chính, hoặc hạ đặt một cấu trúc nảo đó để lấn chiếm tại bãi Ba Đầu (thuộc cụm Sinh Tồn) như họ đã làm tại bãi cạn Scarborough của Philippines (2012).
Đồng thuận ASEAN
Trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc sẽ tranh thủ lợi thế so sánh ở Biển Đông để bắt nạt các nước ASEAN. Lực lượng chủ lực của Trung Quốc tại Biển Đông vẫn là tàu hải cảnh và “dân quân biển” để biến vùng không có tranh chấp thành “khu vực tranh chấp cường độ thấp” (low intensity conflict) trong vùng xám (grey area) để tránh xung đột với Mỹ.
Trong khi chính quyền Trump chủ trương “American First”, bỏ rơi TPP và giảm cam kết khu vực, thì ASEAN bị phân hóa thành mấy nhóm nước có mức độ độc lập hay lệ thuộc vào Trung Quốc khác nhau. Do đó, đồng thuận ASEAN ngày càng yếu, trong đàm phán về COC cũng như trong chiến tranh thương mại Mỹ-Trung tác động đến quan hệ Mỹ-ASEAN.
Sau khủng hoảng chính trị tại Kuala Lumpur, ông Mahathir Mohamed đã thất bại và ông Muhyiddin Yassin lập chính phủ mới (1/3/2020). Nếu Bắc Kinh định đảo ngược xu thế “thoát Trung” của chính phủ Mahathir, họ sẽ ép Malaysia rút tàu khoan West Capella khỏi lô ND1 như đã ép Việt Nam rút giàn khoan Hakuryu khỏi lô 06-1 gần bãi Tư Chính.
Để bù vào khoảng trống quyền lực của Mỹ ở khu vực, cần tăng cường vai trò an ninh tập thể của “Tứ cường” Mỹ, Nhật, Ấn, Úc (Quad), liên kết với các nước ASEAN có tranh chấp tại Biển Đông (như Việt Nam, Indonexia, Malaysia, Philippines). Cấu trúc an ninh này là cơ sở giúp Nhật có chính danh để tăng cường vai trò hợp tác an ninh tại Biển Đông.
Cho đến nay, hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí của Việt Nam đã bị đình trệ, nguồn thu từ dầu khí bị giảm sút nghiêm trọng do không có dự án mới. Chỉ còn vài dự án cũ của Vietsovpetro tại Nam Côn Sơn là vẫn hoạt động. Trong khi đó, ExxonMobil (Mỹ) vẫn chưa triển khai dự án khí Cá Voi Xanh (lô 118). Năm ngoái, có tin đồn ExxonMobil định rút khỏi Việt Nam do sức ép ngầm của Trung Quốc hoặc do trục trặc về thủ tục dự án và giá bán khí.
Nếu Trung Quốc phân hóa được ASEAN như tách bó đũa để bẻ từng chiếc (chỉ đàm phán song phương chứ không đa phương) và gạt được Mỹ và đồng minh ra khỏi khu vực, để họ độc chiếm Biển Đông, thì tương lai ASEAN dễ bị “Ban Căng hóa” (Balkanization). Nói cách khác, Việt Nam và các nước ASEAN dễ trở thành chư hầu lệ thuộc vào Trung Quốc. Nhưng nếu Trung Quốc càng gây sức ép với Việt Nam thì họ càng xô đẩy Việt Nam gần Mỹ.
Theo Michael Green (CSIS) chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc tuy hùng hổ nhưng tỏ ra vụng về, chắc sẽ không hiệu quả. Cách đề cập của Bắc Kinh có vẻ bất lực, chứng tỏ sự bất an, không đối phó được với sự bùng phát”. (The Pandemic Won’t Make China the World’s Leader, Michael Green and Evan Medeiros, Foreign Affairs, April 15, 2020).
Theo Minxin Pei (Claremont McKenna College), Trung Quốc bị vây hãm bởi kinh tế đình đốn và xã hội ngày càng bất an từ bên trong và cạnh tranh nước lớn với bên ngoài, nên dễ bị đổ vỡ. Trung Quốc chắc phải tìm cách tháo gỡ, nhưng đang suy thoái dần, và sẽ lan rộng nhanh chóng. (China’s Coming Upheaval, Minxin Pei, Foreign Affairs, May/June 2020).
***
Trung Quốc vừa chống dịch coronavirus, vừa tiếp tục bắt nạt các nước ASEAN để độc chiếm Biển Đông như cái ao của họ. Việt Nam và ASEAN cũng phải vừa chống đại dịch, vừa đối phó với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình tại Biển Đông. Nói cách khác, các nước ASEAN phải đoàn kết vì “đồng thuận ASEAN” để chống cả hai, trong khi Việt Nam phát huy vai trò tích cực của mình là Chủ tịch ASEAN trong năm 2020 và 2021.
Tham khảo
1. China’s Coming Upheaval,Minxin Pei, Foreign Affairs, May/June 2020).
2. How China Sees the World,H.R. McMasters, Atlantic, May 2020
3. The Pandemic Won’t Make China the World’s Leader, Michael Green and Evan Medeiros, Foreign Affairs, April 15, 2020
4. No, Covid-19 Isn’t Turning Europe “Pro China”,Erik Brattberg and Philippe Le Corre, Belfer Center, Harvard, April 15, 2020
5. The New Normal: Thoughts about the Shape of Things to Come in the Post-Pandemic World,Nicholas Eberstadt, NBR, April 18, 2020
6. Thế giới hậu Covid-19,Hoàng Anh Tuấn, Tuần Việt Nam, 20/04/2020
7. US Warships Enter Disputed Waters of South China Sea as Tensions With China Escalate, Hannah Beech, New York Times, April 21, 2020
8. China lays ever larger claim to South China Sea,Richard Javad Heydarian, Asia Times, April 21, 2020
9. COVID19 and the South China Sea,Joshua Kurlantzick, Council on Foreign Relations, April 22, 2020
10. China could soon sink US in South China Sea,Grant Newsham, Asia Times, April 23, 2020

Tưởng nhớ cụ Nguyễn Hữu Toán

Tưởng nhớ cụ Nguyễn Hữu Toán

Tác giả: Jamie Nguyễn
Dịch giả: Ian Bùi
Ông Nguyễn Hữu Toán, ông ngoại của Jamie Nguyễn
Lời dịch giả: Jamie Nguyễn thuộc thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ nhất, sanh ra và lớn lên ở Nam Cali. Cô hiện đang sống “giấc mơ Mỹ”, làm phóng viên cho một đài TV ở New York City. Jamie viết bài này cho ông Ngoại cô vừa mất vì #COVID19.
Vài tuần nữa là cụ Nguyễn Hữu Toán sẽ được mừng sinh nhật thứ 90. Nhưng cái ngày vui trọng đại ấy đã không đến — chỉ vì con coronavirus quái ác. Đây không là lần đầu cụ phải đối mặt một kẻ thù vô hình, nhưng trong trường thiên tiểu thuyết đời cụ thì nó chỉ là một cước chú nhỏ.
Sinh ngày 12/5 năm 1930 tại Ninh Bình, cụ Toán là con trưởng trong một gia đình 8 anh chị em. Thân sinh của cụ — ông Nguyễn Lãng và bà Mai Giuông, có đất và làm nghề ruộng. Từ nhỏ cụ đã chứng tỏ khả năng vượt qua số phận.
Trường Bưởi bên bờ Hồ Tây
Thời còn bé cụ phần lớn phải tự học, thế mà khi đến tuổi 13 cụ đã thi đậu vào trường Bưởi – một trong ba trường danh giá của chính quyền bảo hộ thời bấy giờ. Tên chính thức là Lycée du Protectorat, trường được người Pháp xây dựng ở Hà Nội năm 1908. Học sinh được tuyển chọn rất khắt khe. Trường chỉ nhận 120 học sinh mỗi năm, với tỉ lệ 1/1000 thí sinh được chọn — thấp nhất nước.
Trường Bưởi còn là nơi sản sinh nhiều trí thức trẻ mang hoài bão dựng nên một nước Việt Nam độc lập. Ra trường, đa số trở thành những thành phần ưu tú của xã hội trong nhiều lãnh vực như văn chương, nghệ thuật, quân đội, chính phủ v.v.
Do Đệ Nhị Thế Chiến, năm 1943 trường phải dời về Ninh Bình. Cụ Toán kể hồi đó nhà nghèo nên không có tiền sắm bộ đồng phục Tây Âu. Thay vì được ăn trưa trong trường thì cụ phải đạp xe về nhà, ăn cơm với muối mè. Hội nhập với chúng bạn rất khó khăn. Cụ không có ai để giúp làm bài: Pháp văn, Toán, La-tinh… Trong nhà thì chẳng có ai học qua bậc tiểu học. Nhưng rồi cụ cũng vượt qua được hết.
Năm 1945, khi chiến tranh chấm dứt, trường được dời trở về Hà Nội và đặt tên mới là Chu Văn An. Vì nhà nghèo cụ không thể lên Hà Nội để học tiếp. Tuy chỉ được học hai năm, cụ và một người bạn dành dụm một số tiền để mua sách vở về tự học. Nhất quyết lấy cho được bằng Tú Tài Pháp, cuối cùng cụ cũng thành công.
Cụ trở thành giáo viên dạy Toán. Một hôm, trên đường đến lớp cụ gặp cô Phạm thị Đối và đem lòng yêu. Cụ nói ngay từ phút đầu cụ biết chắc đây là người mình muốn lấy. Thế là vào năm 1948, khi mới 18 tuổi, cụ cưới cô Đối. Hai người có với nhau 8 đứa con. Cụ bà là người tình muôn thuở của cụ cho đến ngày cuối đời.
Mặc dù đã lập gia đình, năm 1950 cụ quyết định gia nhập quân đội Quốc Gia Việt Nam. Nhưng đến năm 1954, khi đất nước bị chia đôi, cụ dắt vợ con và Bố Mẹ vào Sài Gòn. Ông bà của cụ ở lại, về sau bị cộng sản đấu tố.
Phục vụ trong quân đội VNCH, cụ thăng dần đến chức Đại Tá. Năm 1960 cụ được gởi sang Mỹ thụ huấn quân sự. Khi người Mỹ đem quân sang Việt Nam, cụ đã chiến đấu cùng họ để bảo vệ miền Nam. Nhưng sau tháng Tư năm 1975 cụ phải đi tù như bao nhiêu sĩ quan VNCH khác.
Mười ba năm trong các trại tù “cải tạo” CS, cụ đã chịu đựng tra tấn, khổ cực và đói khát. Cụ kể trong tù cụ phải lao động sáu ngày một tuần, nằm mơ thường thấy bát cơm trắng. Nhiều đêm cụ còn bị giám thị quấy rầy không cho ngủ. Để có nghị lực sống còn, cụ luôn nghĩ đến vợ con và ngày đoàn tụ.
Trong khi đó thì gia đình cụ đã thoát được sang Mỹ, làm lại cuộc đời. Họ thường gửi thư cho cụ giúp cụ giữ vững tinh thần. Nỗi đau lớn nhất là khi cụ hay tin đứa con trai tên Hùng đã qua đời vì ung thư máu. Cụ vô cùng đau khổ vì không thể có mặt để phụ lo cho gia đình qua cơn khó khăn.
Mối tình đầu sau 17 năm xa cách, 1992
Năm 1992 giấc mơ đoàn tụ của cụ trở thành sự thật qua chương trình H.O. Gia đình ra đón cụ tại phi trường LAX. Không trống không kèn, không bảng hiệu chào đón, không hét la mừng tủi. Họ chỉ âm thầm nối lại cuộc sống đại gia đình năm xưa, như thể cụ chỉ mới trở về từ một chuyến đi xa; có điều chuyến đi này mất đến 17 năm. Dẫu vậy, đối với cụ vẫn không có gì thay đổi trừ một số khuôn mặt mới — mấy đứa con rể và bầy cháu ngoại.
Nhưng cụ bà nói cụ đã thành một con người khác. Cụ vô cùng trân quý sự tự do và độc lập của mình nơi đất Mỹ. Ngay lập tức cụ học lái xe. Cụ thích chở cụ bà đi chợ, đi đây đi đó thăm viếng bạn bè để bù lại khoảng thời gian xa cách. Cụ giúp việc nhà, giặt giũ quần áo, trông nom đám cháu, chở chúng đi các sinh hoạt nhi đồng… Những công việc mà ngày xưa cụ không có cơ hội làm vì phải phục vụ quê hương.
Gia đình cụ Toán đoàn tụ tại Mỹ
Là dân nhà binh, cụ rất kỷ luật và giờ giấc. Nếu có ai nhờ đón là cụ luôn luôn đến đúng hay trước giờ hẹn. Không bao giờ sai. Lạ hơn nữa là cụ không hề tỏ vẻ cay đắng. Lúc nào cụ cũng ân cần và để ý. Những khi cụ gọi điện thoại, câu đầu tiên cụ hay hỏi han thường là “Con ăn gì chưa?” bất kể lúc ấy là mấy giờ.
Cụ còn là người ham học, làm gương cho con cháu. Cụ ghi danh vô trường đại học cộng đồng để lấy mấy lớp về lịch sử và triết học. Kệ sách của cụ đầy nhóc sách truyện về chiến tranh, lịch sử các vị tổng thống và tướng lãnh. Quần áo cụ thường chỉ là cặp quần kaki mua ở Gap và chiếc áo sơ mi cài khuy cẩn thận.
Cụ không thích tới chỗ đông người, có lẽ vì chiến tranh và những năm tháng trong nhà tù CS. Cụ bảo tiếng động ồn ào làm cụ bị mất phương hướng, không biết nó đến từ đâu. Nhưng cụ cũng là người có óc hài hước, thích trêu chọc con cái làm cho chúng cười. Cụ hay đặt tên tếu cho mọi người, tên nào cũng trúng phóc tính tình người đó. Và nếu có ai chọc phá ngược lại, cũ cũng vui vẻ đùa theo.
Dù là người hút thuốc lá cả đời, một hôm cụ quyết định bỏ cái rụp không thèm nhìn lại. Con người cụ là như thế. Mạnh mẽ, quyết đoán. Cụ nói năng ôn tồn, nhỏ nhẹ, nhưng cương quyết và thẳng thừng. Qua giọng cụ nói người nghe biết ngay phải làm gì. Cách nói chuyện từ tốn ấy khiến ta khó tưởng tượng đây là một cựu sĩ quan cao cấp từng ra lệnh cho binh sĩ nã đạn vào đối phương.
Có những người trở nên cay đắng vì những năm dài tù tội xa gia đình, nhưng cụ thì không. Cụ cho những gì mình phải chịu đựng cũng là một phần của cuộc đời. Nhưng có một điều làm cụ vô cùng bất mãn, đó là chính quyền Mỹ. Cụ có cảm giác bị bỏ rơi bởi đất nước mà giờ đây là quê hương thứ nhì của mình. Theo cụ, một khi Hoa Kỳ quyết định tham chiến thì họ nên đánh tới cùng, nhưng nước Mỹ đã không làm như vậy. Khi thấy không thắng nổi họ đã rút lui, bỏ mặc đồng minh tự lo liệu.
Ông bà cụ và đám cháu, Noel 2007
Coronavirus khiến cụ phải nhập viện, nhưng nó không tước đoạt nổi nhân phẩm của cụ. Bác sĩ cho biết cụ đã bị lây bệnh từ 10 hôm trước đó, tuy nhiên cơ thể cụ không có triệu chứng nhiễm bệnh nào cả. Chỉ đến khi cụ bị sốt quá độ người nhà mới đưa cụ vào bệnh viện. Nhưng dịch khuẩn đã không làm cho phổi cụ bị ngộp nước như nhiều trường hợp khác. Cụ chết như cụ đã sống — lặng lẽ và bình an. Cả đời cụ không hề muốn làm phiền ai.
Sáng thứ Bảy 18 tháng Tư, sau khi được một vị tu sĩ đến viếng, cụ yên tâm nhắm mắt qua đời.
Gia đình còn lại gồm có cụ bà, một người con trai, sáu cô con gái, hai người em trai, 13 người cháu và 3 đứa chắt. Cụ Toán sẽ được tưởng nhớ như một người chồng, người cha, người ông, và kẻ chiến đấu tới hơi thở cuối cùng.
Đám cưới cô cháu Ngoại đầu lòng. San Diego, 2006.

Thầy Trợ bị phạt 5 triệu đồng

Thầy Trợ bị phạt 5 triệu đồng

Đỗ Thành Nhân
25-4-2020
I.- Thầy Trợ
Tôi xin được gọi thầy Trợ với một sự kính trọng, chân tình của thầy trò; mặc dù Thầy chưa dạy tôi một tiết học nào. Đó là thầy giáo nghỉ hưu Trần Đình Trợ ở thị trấn Phổ Châu, huyện miền núi Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; trong bài viết này từ “Thầy” viết hoa là nói về thầy Trần Đình Trợ.
Tôi ở miền Nam, sinh ra thời Việt Nam Cộng hòa, ít nhiều cũng được hưởng nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng, trước khi trở thành cháu ngoan Bác Hồ và học sinh dưới mái trường Xã hội Chủ nghĩa. Tôi hoàn toàn không có bất kỳ một mối quan hệ nào với thầy Trợ, kết bạn với Thầy qua các facebook Trần Đình Trợ [1]. Tôi viết về Thầy với quan điểm đã được giáo dục đầu đời.
Đọc các bài viết của Thầy, được biết Thầy là giáo viên dạy toán, nghỉ hưu, về nhà chăm sóc mẹ già, thú vui là câu cá lóc. Thầy sử dụng facebook và ảnh hưởng cá nhân để vận động giúp đỡ cho những mảnh đời khốn khó, cơ cực; vận động xây dựng tủ sách cho trẻ em nông thôn ở quê; có những bài viết nhẹ nhàng về Formosa, về các vấn đề liên quan tới Trung Quốc.
Cách viết văn của một thầy giáo dạy toán: chuẩn mực, vừa phải, tư duy với mục đích giáo dục lòng nhân ái, tình yêu thương giữa người với người; đánh thức tinh thần yêu quê hương, đất nước qua thực trạng xã hội. Thầy từng nói rõ quan điểm viết bài:
Tất cả các bài viết của mình chỉ nhằm mục đích:
– Bảo vệ chủ quyền đất nước, chống sự xâm lược của Trung Quốc dưới mọi hình thức. 
– Nâng cao dân trí, khuyến đọc khuyến học. 
– Hỗ trợ dân nghèo, trẻ mồ côi và nạn nhân thiên tai.
Chính vì vậy mà Thầy được nhiều người kính trọng, trong đó có tôi.
Năm 2017, nhân dịp làm việc mấy ngày liên quan tới các dự án phát triển y tế tư nhân khu vực Thanh Nghệ Tĩnh, tranh thủ có được buổi sáng hôm sau rảnh rỗi, tôi nhắn tin, Thầy chỉ đường lên Hương Sơn. Tôi nhờ anh bạn có ô tô chở đi, gặp trời mưa, không quen đường, gần 10 giờ đêm mới đến nơi, cùng đi ăn tối nói chuyện.
Sáng hôm sau, uống cà phê nói chuyện với nhau, nghe cách nói thì Thầy có những nỗi niềm của một nhà giáo. Thầy lo tình trạng đạo đức bị suy đồi trong học sinh, Thầy vận động và mong muốn có nhiều tủ sách ở nông thôn. Thầy lo lắng cho tình trạng xuống cấp đạo đức trong hệ thống giáo dục, lúc đó ở Hà Tĩnh có tình trạng giáo viên đi tiếp khách là quan chức.
Thầy nói: lỗi hoàn toàn không phải ở quan chức. Thầy có những trăn trở với hiện trạng của đất nước, đặc biệt với chuyện Trung Quốc, nhưng không biết làm gì ngoài những bài viết nhẹ nhàng tiếp tục hướng học trò đến với những giá trị nhân bản và tỉnh táo với Trung Quốc vốn thiếu thốn trong chương trình phổ thông.
Thầy Trợ và tác giả bài viết
Nghe tôi đang làm những dự án về phát triển y tế, Thầy giới thiệu và đưa chúng tôi đến thăm quần thể tưởng niệm Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Thầy như hướng dẫn viên, đã thuyết trình về cuộc đời của ông tổ ngành y Việt Nam với một sự kính trọng và niềm tự hào chỉ có được ở người có tâm, có tri thức và thực sự yêu quê hương.
Nói thêm, ở đây có khá nhiều cây đại mà dưới mỗi gốc cây có đặt bia đá ghi tên một vị lãnh đạo (như: Võ Kim Cự, Nguyễn Thị Kim Tiến, Nguyễn Xuân Phúc, …), tấm bia gần sát đất chẳng biết để làm gì, có liên quan gì đến y đức và y đạo của cụ Lê Hữu Trác không?
Bia đá dưới những gốc cây đại trong khu tưởng niệm chẳng biết để làm gì?
Chia tay, tôi hỏi: Thầy có vào đảng không? Thấy mắt Thầy chùng xuống, thoáng buồn!
II. Bị phạt 5 triệu đồng
Nghe bạn bè nhắn tin, tôi xem Báo Hà Tĩnh ngày 23/4/2020 có bài “Đưa tin sai sự thật trên Facebook, một người đàn ông bị phạt 5 triệu đồng”.
Ảnh chụp màn hình báo Hà Tĩnh
Báo viết là như vậy, nhưng thực tế nguyên nhân của vụ phạt 5 triệu đồng, theo “Biên bản làm việc với chủ Facebook Trần Đình Trợ” số 03/BB-Ttra ngày 23/4/2020 của Thanh tra Sở Thông tin và truyền thông Hà Tĩnh, trích nguyên văn kết luận như sau: “Facebook cá nhân Trần Đình Trợ đưa thông tin Từ việc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào địa giới Trung Quốc, cho đến việc sát nhập Hà Nội và các tỉnh thành còn lại, chỉ là vấn đề thời gian’ tại thời điểm 6h00’ ngày 20/4/2020 là những thông tin không đúng sự thật, gây hoang mang trong nhân dân, vi phạm Luật An ninh mạng …” (trang 3).
Sau khi xem toàn bộ bài viết trên Báo Hà Tĩnh và Biên bản làm việc của Thanh tra Sở TT&TT, có một số nhận xét sau:
1.- Báo Hà Tĩnh đăng tin sai sự thật; đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của một nhà giáo
Thứ nhất: Bài viết không liên quan đến Covid-19
Bài viết thầy Trợ liên quan tới việc Trung Quốc “sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào địa giới Trung Quốc” chứ hoàn toàn không liên quan gì đến Covid-19
Vậy mà Báo Hà Tĩnh không đăng bài viết của thầy Trợ, mà lại viết dẫn dắt đánh tráo bản chất vụ việc: “trong lúc cả hệ thống chính trị đang vào cuộc chống dịch Covid-19, thì vào lúc 6h17 phút ngày 20/4, tài khoản Facebook Trần Đình Trợ đăng tải nội dung không đúng sự thật, …”: điều này làm người đọc ngộ nhận là thầy Trợ đưa tin không đúng về Covid-19.
Thứ hai: Thầy Trợ không làm xấu hình ảnh đất nước
Trong khi Thanh tra kết luận: thầy Trợ “… thông tin không đúng sự thật, gây hoang mang trong nhân dân, …”; thì Báo Hà Tĩnh viết: “… nội dung không đúng sự thật, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của đất nước”. Rõ ràng “gây hoang mang trong nhân dân” hoàn toàn khác với những kẻ làm “ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của đất nước”.
Báo Hà Tĩnh nâng tầm “tội” của thầy Trợ lên.
Thứ ba: Báo Hà Tĩnh xúc phạm thầy Trợ một cách hèn hạ
Toàn bộ 3 trang của “Biên bản làm việc” thầy Trợ rất hợp tác, cầu thị và thừa nhận bải viết có thể hiểu lầm gây hoang mang dư luận. Nên nhớ: đây là buổi làm việc các bên có quyền trình bày quan điểm của mình. Và “Biên bản làm việc” là văn bản phản ảnh toàn bộ diễn biến buổi làm việc.
Hoàn toàn không thấy nội dung nào thể hiện theo báo Hà Tĩnh vẽ ra: “Tại cơ quan điều tra, ông Trần Đình Trợ quanh co,”, “trước những bằng chứng không thể chối cãi, Trần Đình Trợ thừa nhận hành vi sai trái của mình”.
Thứ tư: những sự dối trá khác của Báo Hà Tĩnh
– Cơ quan Thanh tra mời thầy Trần Đình Trợ làm việc tại UBND huyện Hương Sơn chứ không phải “Tại cơ quan điều tra” (của Công an) như Báo Hà Tĩnh đưa tin.
– Đưa thông tin cá nhân của thầy Trợ bao gồm: họ tên, tuổi, chỗ ở nhưng lại không đưa nghề nghiệp là giáo viên nghỉ hưu, đó là thủ thuật bẩn. (ghi chú: chuyện đảng viên tôi không muốn đề cập ở đây)
Với một nhà nước pháp quyền và dân chủ thì thầy Trợ hoàn toàn có quyền khởi kiện và yêu cầu Báo đính chính. Tuy nhiên, cũng nói thêm: Báo Hà Tĩnh là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh.
2. Sự áp đặt của Thanh tra Sở TT&TT Hà Tĩnh
Tôi tôn trọng việc thầy Trợ nhận lỗi và chấp nhận nộp phạt 5 triệu đồng. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận khách quan cái “lỗi” của Thầy.
Phân tích ý kiến của ông Chánh thanh tra Phạm Văn Báu
Ý kiến Chánh thanh tra Phạm Văn Báu
Thứ nhất: Cấu trúc câu “từ …, đến …
Trong câu “Từ việc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào địa giới Trung Quốc, cho đến việc sát nhập Hà Nội và các tỉnh thành còn lại, chỉ là vấn đề thời gian“.
Cấu trúc câu này là để chỉ mối quan hệ nhân quả, logic của sự việc, không khẳng định sự ủng hộ của người nói (viết). Ví dụ:
– Cha mẹ khuyên răn con cái: “từ nhỏ ăn cắp, đến lớn trộm cướp …
– Công tác cán bộ: “từ cán bộ cấp thấp tham nhũng vặt, đến cán bộ cấp cao tham nhũng dự án, tham nhũng chính sách, …
Hoàn toàn không có cha mẹ nào đồng tình với việc “từ nhỏ ăn cắp”, hay nhà nước nào muốn “từ cán bộ cấp thấp tham nhũng vặt”. Do đó, ông Phạm Văn Báu cho rằng “Từ việc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào địa giới Trung Quốc,” là “đã đồng tình với tuyên bố của Trung Quốc” theo quan điểm cá nhân nhằm chụp mũ người khác.
Đồng thời, đoạn “Từ việc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào địa giới Trung Quốc,” chẳng phải là một câu hoàn chỉnh để gọi là khẳng định việc sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào địa giới Trung Quốc, dạng hiện tại hoàn thành.
Cũng theo 2 ví dụ trên, không có nghĩa là con cái “từ nhỏ (đã) ăn cắp” hay “từ cán bộ cấp thấp (đã) tham nhũng vặt” theo cái gọi là “hiện tại hoàn thành”.
Cấu trúc câu “từ …, đến …” theo quan hệ nhân quả, logic “từ việc A, đến việc B” trong trường hợp này là cảnh báo nguy cơ: “việc A đang xảy ra, nếu không giải quyết thì sẽ xảy ra việc B”. Hoàn toàn không có chuyện khẳng định “việc A đã xảy ra” và “đồng tình với việc A” như đầu bò suy diễn.
Thứ hai: gây hoang mang trong nhân dân
Theo “Biên bản làm việc” (trang 1) thì bài viết của thầy Trợ có: 52 lượt like: tức là thích, đồng ý, ủng hộ. 1 chia sẻ: nghĩa là đồng quan điểm. Chỉ có 5 bình luận, nhưng không thấy ghi nội dung bình luận nào thể hiện sự “hoang mang”?
Facebook Trần Đình Trợ có hơn 15 ngàn follow. Cho nên con số 52 lượt like không thể đại diện cho “nhân dân” đang theo dõi FB của Thầy; lại càng không thể đại diện cho 50 triệu tài khoản Facebook của “nhân dân” Việt Nam.
Thế nào là “hoang mang” và “nhân dân” là ai? Không thấy chứng minh được trong Biên bản làm việc.
Một anh cảnh sát giao thông đứng đường muốn phạt người vi phạm tốc độ hay uống rượu bia, anh CSGT phải có trách nhiệm xác định được người vi phạm chạy vượt tốc độ cho phép bao nhiêu km/h, nồng độ cồn bao nhiêu miligam / 1 lít khí thở để ghi vào biên bản làm căn cứ xử phạt.
Một ông Chánh thanh tra Sở, chắc chắn phải hiểu biết hơn một anh CSGT đứng đường; những định tính, định lượng của “hoang mang” là gì ? và “nhân dân” là ai ? không xác định được, nhưng vẫn kết luận là đã “gây hoang mang trong nhân dân” và quyết định XỬ PHẠT.
Trong trường hợp này công cụ pháp lý sử dụng theo cảm tính, nhận thức của người nắm quyền thực thi công vụ, chứ không theo bất kỳ một chuẩn mực khoa học, logic thông thường nào của hệ thống pháp luật quy chuẩn.
PS. Đề nghị Thanh tra Sở TT&TT phạt Báo Hà Tĩnh.
Bài viết thầy Trợ không rõ ràng, tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau tùy vào trình độ, nhận thức của từng người. Nhưng theo cách hiểu của Thanh tra Sở thì thầy Trợ đưa tin “không đúng sự thật, gây hoang mang trong nhân dân” đã vận dụng Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP để xử phạt 5 triệu đồng (?).
Vậy thì Báo Hà Tĩnh đăng tin sai sự thật; đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của một nhà giáo như phân tích ở phần trên (II.1), đề nghị ông Chánh thanh tra Phạm Văn Báu cũng xử lý theo Điều 99 Nghị định 15.
Nhà nước pháp quyền, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật mà !
Bài viết này kèm theo:
– 3 trang ảnh toàn văn “Biên bản làm việc với chủ Facebook Trần Đình Trợ”
– 2 trang ảnh bài viết trên Báo Hà Tĩnh về thầy Trần Đình Trợ.
Ảnh chụp màn hình báo Hà Tĩnh

Đã dấn thân càng phải tu thân

Đã dấn thân càng phải tu thân

Nguyễn Hữu Vinh
24-4-2020
Vừa qua, có nhiều ý kiến bình luận, phê phán/bảo vệ một bài viết ngắn trên mạng của một nhân vật bất đồng chính kiến, đã thôi thúc tôi viết về một chủ đề suy nghĩ từ lâu nhưng chưa có dịp trao đổi.
Đó là sự cần thiết, song lại không dễ chút nào, với những người tranh đấu cho dân chủ của Việt Nam trong việc bồi bổ kiến thức nói chung của mình, tập rèn khả năng hợp tác, làm việc tập thể, biết lắng nghe, có tiếng nói thuyết phục; biết thừa nhận sai sót, yếu kém, tiết chế “cái tôi”, tính háo danh, hám quyền lực trong mình, thậm chí hám lợi cá nhân, v.v… Tự thỏa mãn với tiếng tăm, hay với thành quả thu được của sự hy sinh hiện tại, mà không chuyên tâm nâng mình lên cao hơn, họ dễ mất dần uy tín trong quần chúng.
Dấn thân trong gian khó
Không như nhiều nước cộng sản Đông Âu một thời, Việt Nam trong cả thế kỷ qua là một xã hội Nho giáo “nửa mùa” với không ít thói quen tập tục cổ hủ, lại lai tạp với chủ thuyết Marx “biến thái”; xa với nền văn minh dân chủ phương Tây; chính quyền cộng sản chiếm được cảm tình của đa số người dân một thời nhờ nắm vai trò lãnh đạo trong cuộc kháng chiến giành được độc lập.
Người cộng sản giành chính quyền được cũng nhờ nhiều vào việc biết tận dụng chính những thứ vũ khí mà kẻ cai trị đã chế ra, đưa tới, đó là tự do lập hội, hội họp, tự do báo chí, biểu tình, tự do tư tưởng, tín ngưỡng, … Cho nên, khi đã nắm được chính quyền, họ quá biết muốn giữ được nó, cùng vai trò lãnh đạo độc tôn, thì không được buông những vũ khí kia cho dân chúng. Hơn thế, họ còn để dân chúng tưởng mình đã được quyền nắm những thứ vũ khí đó – với 7-8 trăm tờ báo, hàng ngàn tổ chức “quần chúng” thực chất đều thuộc về nhà nước.
Không được thành lập tổ chức hợp pháp, không được ra báo tư nhân, những người tranh đấu cho dân chủ không có môi trường giúp nhau học hỏi, tập dượt, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động, tìm sự trợ giúp, tự bảo vệ, kỹ năng đối thoại, cách đoàn kết lực lượng, … Đã thế họ lại luôn bị o ép, đe dọa, trừng phạt dưới nhiều hình thức. Bộ máy tuyên truyền của chính quyền thường tìm cách bôi xấu, chia rẽ qua việc khai thác những not nớt, lệch lạc trong tính cách, mâu thuẫn trong nội bộ những người bị cho là “thế lực thù địch” dù trên thực tế phần lớn họ chỉ là những tiếng nói phản biện, góp phần thay đổi tích cực cho xã hội.
Lây bệnh cộng sản
Những người bất đồng chính kiến hầu hết sống trong lòng chế độ cộng sản, hàng ngày tiếp xúc với những người cộng sản hoặc tin yêu, chịu ơn huệ của chế độ, tiếp nhận thông tin, văn hóa của chế độ qua sách báo và vô số những nguồn khác. Từ đây, họ được “ngấm” nhiều thứ không tốt cho tư tưởng tiến bộ, trong đó có thói “kiêu ngạo cộng sản”, xuất phát từ việc được sớm nổi danh, dám đối đầu với thứ bạo quyền mà cả triệu người phải cúi đầu cam chịu.
Từ kiêu ngạo, dễ sinh coi thường tri thức, học hỏi mọi mặt, tự sửa mình, có cả việc đối nhân xử thế.
“Độc tài” là thứ thường vẫn bị cho là đặc trưng của những người cộng sản, nó không phải chỉ khái quát cho cả chế độ, mà có ở trong từng con người. Sống dưới bầu trời này, dù cho có học hỏi được phần nào tư tưởng dân chủ tiến bộ, cũng khó tránh khỏi lây cái bệnh độc đoán một khi có được ít nhiều ảnh hưởng xã hội.
Say mê quyền lực chẳng cứ trong giới chính trị cộng sản. Với những người lãnh đạo một tổ chức tranh đấu, hoặc không tham gia tổ chức nào nhưng có nhiều ảnh hưởng, cũng dễ bị mắc phải căn bệnh đó. Họ sẽ dần xa rời quần chúng, dễ bị lung lạc, lợi dụng.
Một kinh nghiệm cho công luận để giúp hạn chế “căn bệnh ngôi sao” có thể đến với bất cứ ai đang dấn thân tranh đấu, đó là cần nhìn vào, tôn vinh việc làm cụ thể của họ, thay vì về cá nhân. Khi đó, bất cứ một “ngôi sao” nào cũng đều dễ dàng phải đối mặt với sự phán xét của công luận nếu như không chịu rèn phẩm cách của mình.
Quyền lực và Tri thức thường như mặt trăng mặt trời, càng có/ mau có quyền lực càng dễ coi nhẹ học hỏi, chịu lắng nghe, sửa mình; tệ hơn còn coi thường người có học vấn cao. Kinh nghiệm ở ngay những người cộng sản đứng lên kháng chiến, nhiều người thất học, khởi đầu có thể chỉ vì bị cư xử bất công, rồi được giác ngộ tinh thần dân chủ … Tới khi đạt được mục tiêu tranh đấu, họ sống trong hào quang, coi nhẹ việc phải nỗ lực bù đắp tri thức còn rất hạn chế của bản thân.
Duy cảm là đặc tính khá phổ biến ở người Á Đông, người Việt có vẻ còn rõ hơn, còn với người cộng sản thì rất mạnh vì bản chất hệ thống khuyến khích cái tính đó. “Yêu nhau yêu cả đường đi …”, tất tật mọi thứ từ thần tượng/ lãnh đạo/ lãnh tụ đều hay ho cả. Nhưng tính nết đó không lợi cho việc phát triển một xã hội hiện đại, dễ suy xét mọi thứ không công bằng, chính xác. Trong đấu tranh dân chủ, những xét đoán cảm tính, những ứng xử nặng về cảm tình hay ác cảm, mà thiếu suy xét khách quan, lý tính thì đều dễ làm hỏng mối quan hệ trong giới, vô hình chung “giúp” thêm cho nhà cầm quyền bôi xấu, quấy phá.
Đóng cửa bảo nhau”, một câu châm ngôn phổ biến trong người Việt từ xưa; người cộng sản rất hợp, họ không muốn “vạch áo cho dânxem lưng”. Người tranh đấu cũng phải đối mặt với những tình huống này (sẽ bàn ở phần dưới).
“Xã hội dân sự ảo”
May thay! những người yêu chuộng tự do dân chủ đã có được một môi trường để “thở”, để hoạt động, tiếp xúc với nhau, với công chúng, động viên khích lệ, học hỏi, thể hiện quan điểm của mình và lắng nghe ý kiến người khác v.v… mà đỡ bị sự áp chế của chính quyền. Đó chính là mạng xã hội.
Chỉ mới hơn chục năm nay, nhờ mạng xã hội, người dân nói chung đã có được nhiều nguồn thông tin nhanh, chính xác hơn; những tiêu cực xã hội, của chính quyền được phản ánh nhiều hơn, phải chịu sự phán xét của dư luận mạnh mẽ hơn. Báo chí nhà nước cũng chịu áp lực, không thể cứ một lối “tuyên truyền” cũ. Nhờ đó mà những người tranh đấu cũng có được ít nhiều sự bảo vệ, được đánh giá đúng hơn qua các đóng góp của mình. Quốc tế cũng biết nhiều, nhanh về họ hơn, để có thêm sự trợ giúp.
Thế nhưng, quá bỡ ngỡ trước một “xã hội” hết sức đặc biệt, chưa từng có trong lịch sử loài người, không chỉ những người tranh đấu, mà cả mọi người dân đều đang chịu không ít tác động bất lợi từ mặt trái của mạng xã hội.
Những bài viết công phu, giúp nâng cao dân trí nói chung, trao đổi kinh nghiệm dân chủ dường như ít dần đi. Ngược lại, những dòng cảm xúc tức thì, những bình luận ngắn, cực ngắn thì phát triển như nấm. Người ta ngại viết/ đọc dài hơn, thích xem/ nghe nhiều hơn, dễ và nhanh bày tỏ tâm trạng, nhận xét hơn. Nóng nảy, vội vã, hời hợt, lầm lẫn là dễ mắc phải, nhất là khi chỉ phải đối mặt với màn hình, cả ẩn danh nữa. Mọi người trong cái “xã hội” kỳ lạ này đều rất nhanh chóng tập thích nghi với áp lực dư luận, nhưng phải cần thêm thật nhiều năm nữa.
Những người càng có nhiều ảnh hưởng với xã hội thì một lời nói, một câu viết sẽ càng gây tác động lớn hơn. Trên mạng xã hội, ảnh hưởng và điều kiện để tác động của họ còn lớn gấp bội; nhận diện ra nó cũng nhanh và rõ hơn hẳn, nhưng có khi lại hời hợt hơn hẳn so với ngoài xã hội. Lóa mắt, say mê với quyền lực trên mạng như thứ ma túy mạnh hơn nhiều ở ngoài đời, ngấm ngầm từng phút từng ngày. Không để tâm, thiếu ý thức trách nhiệm với điều này, hoặc có toan tính cá nhân, hậu quả sẽ không nhỏ cho xã hội và với thanh danh của mình. Chú tâm quá tới việc xây đắp hình tượng cá nhân mình thì cũng dễ lãng quên việc dung hòa nhiều quan điểm khác biệt.
Cũng “nhờ” mạng xã hội mà có những người dù chưa đóng góp được nhiều cho cuộc tranh đấu cho dân chủ, chưa có điều kiện cọ sát, thử thách, nhưng dám công khai đối đầu, thách thức bạo quyền, hợp “khẩu vị chính trị” nào đó trên mạng xã hội, chấp nhận tù đày, từ đó mau chóng thành “thần tượng”. Tới khi họ bộc lộ sơ xuất, lệch lạc nào đó, công luận dễ bị sốc, phản ứng thái quá.
Nhà cầm quyền, quá lo sợ ảnh hưởng của mạng xã hội, nên ngoài việc sử dụng bộ máy pháp luật, các văn bản luật, dưới luật để trừng phạt những tiếng nói phản biện, họ còn tận dụng mặt trái nói trên của mạng xã hội, trong đó có việc cho ra đời đội ngũ “Dư luận viên”, đứng sau vô số trang mạng, blog, Facebook, YouTube.
Từ đó, những người đấu tranh phải chịu áp lực nhiều chiều, khó phân biệt rành rẽ, từ dư luận trên mạng xã hội. Có thể họ phải “chiều theo” một luồng dư luận nào đó rất mạnh, trong khi bản thân mình không muốn, thấy không nên. Hoặc có khi họ có những mâu thuẫn trong nội bộ, không muốn để lộ ra, nhưng rồi bị rò rỉ, dư luận phán xét, lực lượng “Dư luận viên” đổ thêm dầu, … rất dễ dẫn đến uy tín bị hủy hoại.
Còn khi có xung đột nội bộ, họ đứng trước lựa chọn có công khai tranh luận hay không? Cố che giấu có thể lại mắc chính cái bệnh của người cộng sản, còn đem ra trao đổi (phải đưa lên mạng, vì bị dò xét, cấm cản gặp gỡ, tụ họp), thì lại phải chịu sức ép quá lớn, phức tạp của mạng xã hội, trong đó lẫn lộn lực lượng “Dư luận viên” nguy hiểm.
Sống “lưu vong”
Ngày càng nhiều người trong giới tranh đấu phải chọn con đường sống “lưu vong”, mà phần lớn là bước từ nhà tù trong nước sang Mỹ, Canada, Úc, châu Âu. Họ được chính phủ các nước này bảo lãnh vì chính sách nhân đạo, khuyến khích tự do dân chủ.
Có nhiều thuận lợi lẫn khó khăn cho những nhân vật này nếu như họ quyết tiếp tục con đường tranh đấu của mình.
Thuận lợi thì dễ thấy. Trước hết, họ như từ địa ngục vút lên thiên đường, nhất là đời sống tinh thần. Được thương yêu, giúp đỡ, tự do gặp gỡ trao đổi, học hỏi … Nếu muốn viết gì về kinh nghiệm tranh đấu của bản thân, hay bình luận về tình hình trong nước, họ không còn phải sợ hãi, tránh né, phải uốn cong ngòi bút.
Tuy nhiên, xa rời môi trường hoạt động khốc liệt mà sống động, cùng gần trăm triệu người dân trong nước là khó khăn lớn nhất; những vốn liếng từ đó qua quá trình hoạt động sẽ vơi dần theo năm tháng. Họ dần hòa vào xã hội sở tại như bao người Việt khác, nhưng không được về nước.
Tâm lý người Việt, cùng lối tuyên truyền của chế độ cộng sản dễ đem đến mối nghi ngại, ác cảm với người ra đi, cho dù họ đã phải hy sinh lớn tới đâu. Tâm trạng muốn ngơi nghỉ, (thậm chí) hưởng thụ, thực tế áp lực phải kiếm kế sinh nhai, phải có địa vị xã hội nhất định dễ làm họ buông xuôi.
Môi trường người Việt hải ngoại có những đặc thù mà người trong nước mới sang không dễ hiểu và hòa nhập. Do có nhiều ảnh hưởng, lại mang hơi thở tranh đấu mới mẻ từ trong nước sang, họ được nhiều tổ chức chính trị xã hội ở nước sở tại muốn tranh thủ. Hiện tượng “cưng chiều” quá mức cũng có mặt trái nguy hại. Lựa chọn một lối sống, cách hoạt động khôn ngoan, thích hợp là không dễ chút nào. Đã có những người thất bại, hoặc tạm thời im tiếng do phải chịu những va đập gay gắt trong cộng đồng.
Không trực tiếp đàn áp được, nhưng chính quyền trong nước cũng không thiếu những phương cách gián tiếp “làm khó” những nhân vật tranh đấu “lưu vong” này, qua mạng lưới điệp viên, cảm tình viên …, thậm chí cả những tổ chức, cơ quan truyền thông trá hình “chống cộng”. Không như thời “bao cấp”, nay người ta đã rất chịu vung tiền cho những hoạt động này và nếu cần có thể ra tay tàn khốc. Ngay cả từ trong nước, qua báo chí, các trang mạng, blog, FB ẩn danh, ngụy danh … chính quyền cũng có cách làm giảm uy tín, bôi xấu, chia rẽ những nhân vật này với người trong giới và người dân.
Những tranh cãi mâu thuẫn, vài hình ảnh bị hoen hố, lu mờ dần đi quanh một số nhân vật là bài học rất tốt cho tất cả, từ những người trong cuộc lẫn mọi người dân mến chuộng, ủng hộ họ. Ai quá chủ quan, hiếu thắng, say mê quyền lực (dù mới chỉ trên mạng), không chịu lắng nghe, học hỏi, sửa mình, biết tận dụng những thuận lợi lớn mà trong nước không thể có, ắt sẽ thất bại trong lý tưởng của mình một thời. Một mình mình sẽ chẳng làm được gì đáng kể, mà phải dựa vào đông đảo quần chúng, trong đó không ít người phê phán gay gắt mình. Người “phản biện” cần làm gương chịu lắng nghe “phản biện”, chớ vội chụp mũ tất cả lời nói trái tai mình đều là từ “Dư luận viên”. Những tiếng nói thẳng thắn giúp họ sửa mình là rất cần thiết, không nên vì thế mà có cái nhìn tiêu cực về công cuộc tranh đấu cho dân chủ.
Chút kinh nghiệm cá nhân
Tôi đã từng có những may mắn để thấy được và tiếp nhận được ít nhiều những giá trị của tri thức, của những tư tưởng văn minh tiến bộ của loài người. Để đến khi rơi vào hoàn cảnh tưởng như bất hạnh nhất, tù đày, tôi vẫn thấy cái “được” đối với mình lớn hơn cái “mất”.
Mười năm ăn học, công tác trong ngành công an, tôi cho là quãng thời gian u tối nhất về kiến thức văn minh của nhân loại. Nhưng chính nó lại cho tôi thấy rõ giá trị của việc phải tự mình học hỏi và góp phần nâng cao dân trí tới đâu, thôi thúc tôi phải vượt thoát khỏi nó.
Mười năm chuyển công tác sang Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, tôi như từ hang tối vút tới trời xanh. Đó là nơi giúp mở mang ra thế giới bên ngoài thuận lợi nhất ở Việt Nam trong những năm trước Đổi mới. Tôi cố tận dụng tối đa điều kiện ở đó.
Năm năm bị buộc phải trở lại cái “hang tối” xưa, tôi chấp nhận mọi thiệt thòi, không đi làm để tập trung học thêm nhiều kiến thức mà cái bằng đại học công an không hề có.
Mười lăm năm bỏ nhà nước, ra kinh doanh, hoạt động trên mạng xã hội, tôi bước thêm một bước dài trên con đường giác ngộ tri thức, về tự do dân chủ, đóng góp cho xã hội; đặc biệt không còn phải day dứt hàng ngày với đồng tiền mình kiếm ra như khi còn là người nhà nước.
Năm năm trong tù là lúc tận dụng, không bỏ phí thời gian để đọc sách, viết, học hỏi, thu nạp thêm hiểu biết thực tế về một môi trường hoàn toàn khác biệt, và tranh đấu trên một mặt trận khác. Động viên các bạn tù (cả cán bộ trại giam) đọc sách, “đừng để phí đời tù”, cố gắng với trợ giúp của gia đình, bạn bè xây dựng tủ sách trong khu “chính trị” của trại giam.
Đó cũng là quãng thời gian giúp mình tĩnh tâm nhìn lại tất cả, trong đó có cả những khiếm khuyết, chủ quan, độc đoán, tự mãn của mình trong 7 năm hoạt động trên mạng xã hội, mà nếu cứ tiếp mãi lối mòn sẽ dễ phạm sai lầm, thui chột năng lực, méo mó tính cách v.v..
Trở lại khung trời tự do suốt một năm qua, có một vài người hỏi nhận xét của tôi về phong trào đấu tranh cho dân chủ, mà theo họ là đang đi xuống. Nhưng tôi cho là ngược lại, một không khí dân chủ lan tỏa rộng lớn chưa từng thấy, trong đó có nhiều sáng kiến của những bạn trẻ yêu nước.
Không thể chỉ nhìn vào số người tranh đấu bị bắt, bỏ tù, bị sách nhiễu. Không thể chỉ quan tâm tới vài ba vụ cãi vã, chia tay của một số người có tiếng trong phong trào, về việc khó có nổi một tổ chức xã hội “thực thụ”. Cũng không nên đánh giá tình hình chỉ qua hiện tượng có hay không những cuộc biểu tình yêu nước. Những nhà hoạt động dân chủ chỉ là con số vô cùng nhỏ trong cái biển quần chúng đang lặng lẽ bằng nhiều cách tranh đấu cho những quyền hiến định của mình. Đừng mong trong hoàn cảnh khắc nghiệt này mà chỉ mươi năm thôi là không khí dân chủ trong xã hội biến chuyển hẳn được.
Bên cạnh đó, cũng rất nên nhìn nhận một cách bình tĩnh, công bằng, rằng không ít thay đổi từ phía chính quyền, theo chiều hướng tích cực, một phần nhờ vào những tác động không nhỏ của đông đảo quần chúng tiến bộ, trong đó có đóng góp của giới tranh đấu.
Còn nhớ, khi mới mở blog trên hệ thống Yahoo!360, năm 2007, tất tật cộng đồng mạng chuyên chú vào những chuyện giải trí “vui vẻ” hàng ngày, blog nào có xu hướng bàn về chính trị thì bị chê khô khan, rất ít người đọc. Người ta cũng chỉ có khái niệm blog là “nhật ký cá nhân”, hầu như không ai nghĩ tới nó có thể, sẽ như một trang báo tư nhân. Nhưng tôi cùng các cộng sự vẫn kiên định một phương pháp: chỉ bàn chủ yếu chuyện chính trị, nâng cao dân trí, biến blog thành trang báo tư nhân; và cho rằng mình đã thành công. Yahoo!360 chỉ cho kết bạn đến 300, Facebook đã đến 5000 cùng nhiều tính năng khác hẳn, sức lan tỏa gấp bội.
Nay thì hàng vạn, triệu người dân yêu nước, bằng muôn vàn cách khác nhau, thoắt ẩn thoắt hiện, thay đổi phương pháp mềm dẻo không ngừng, đang làm chủ mạng xã hội, tự trở thành những “nhà báo nhân dân” với trang “báo” của riêng mình. Không phải chỉ như các nhà tranh đấu, họ trang bị kiến thức cho mình, cho nhau về văn minh dân chủ, pháp luật để chống lại bất công; chậm rãi, nhẹ nhàng mà chắc chắn. Từ đó họ tạo ảnh hưởng lớn tới toàn bộ làng báo chí quốc doanh, tới cuộc sống ngoài xã hội, tới giới chức nhà nước – buộc phải luôn dè chừng, không dễ tự tung tự tác như xưa. Họ mới thực sự đang nhìn xa, trông rộng cho cuộc nâng cao dân trí toàn xã hội; trong khi giới đấu tranh dân chủ lại dễ bị sa vào chính trị thuần túy.
Những loay hoay quy hoạch, sắp xếp lại báo chí (nhưng sẽ chẳng hơn gì), hay những phát ngôn đầy vẻ tức tối, rằng “mạng xã hội chửi từ trên xuống dưới, chửi tràn lan cơ quan công quyền như hát hay” chính là chút minh chứng cho sự bất lực trước làn sóng tranh đấu cho dân chủ, nâng cao dân trí rộng khắp trên thứ môi trường đặc biệt này.
Bằng phương tiện đó, người dân Việt Nam đang cùng giúp nhau tích cóp những kiến thức, kinh nghiệm để tự bảo vệ mình, giúp cho việc hình thành một xã hội dân sự đích thực trong tương lai.
Những người tranh đấu, nếu chú tâm tới hiện tượng đó, sẽ thấy mình cần thay đổi không ngừng; cần hòa điệu hơn, nương mình vào không khí, làn sóng đó hơn; giảm đi cái cá nhân, tư tưởng muốn làm “lãnh đạo”, coi mình là trung tâm.
Hà Nội, Tháng 4/2020

Facebook và chính phủ Việt Nam

Facebook và chính phủ Việt Nam

24-4-2020
Tôi hơi ngạc nhiên khi vài ngày qua đọc bài viết mà các nhà hoạt động viết, với nhiều suy nghĩ tích cực dành tặng Facebook và đổ tất cả mọi sự xấu xa bỉ ổi lên việc chặn máy chủ mà chính phủ Việt Nam thực hiện. Có nhiều bạn còn trích dẫn lời Sheryl Sanberg nói: Facebook không đặt máy chủ ở Việt Nam, trong dịp bà phải điều trần trước Quốc hội Mỹ.
Chuyện các chính phủ đàn áp phương tiện công nghệ không mới. Myanmar dùng chính cơ chế của Facebook để khích động tàn sát và tiêu diệt người Rohingya vài năm trước. Facebook được cho là đã cúng tên và danh tính, vị trí của các nhà hoạt động người Thái cho quân đội, kết tội và bỏ tù họ vì những tội danh vô lý như… chê con chó của nhà vua.
Facebook là đơn vị cung cấp bộ máy quảng cáo chính thức giúp tổng thống Duterte thắng cử ở Phillipines. Và một chuyện to hơn, đầy đủ bằng chứng hơn là Facebook đã kệ mẹ cho công ty Cambridge Analytica khai thác và tận dụng hơn 80 triệu thông tin tài khoản người dùng, mà chẳng màng để ý cảnh báo thiên hạ, cho tới khi bị chính phủ Anh yêu cầu trả lời.
Những ai nhìn nhận nghiêm túc vai trò của Facebook trong hoạt động chia sẻ thông tin và đẩy mạnh các mục tiêu vận động của mình đều hiểu: Facebook quá tối ưu để từ chối, quá đông khán giả (như Việt Nam) để quay lưng, nhưng cũng là con dao hai lưỡi nếu không cẩn thận với nó.
Khi sự cố ở Myanmar nổi lên, Facebook công bố rằng họ có thuê những editor người nói tiếng Burmese để kiểm soát xem tin giả ở Myanmar lan đi thế nào (vì Facebook bị cáo buộc là nền tảng trực tiếp gây ra thảm sát người Rohingya ở Myanmar). Tuy nhiên, khi Reuters tìm hiểu vào năm 2015, Facebook có … 2 nhân viên hợp đồng ngắn hạn nói tiếng Burmese ngồi soát content từ nước ngoài (1). 2 nhân viên cho một quốc gia hơn 50 triệu người dùng.
Trong suốt những năm đó, ai theo dõi vấn đề Myanmar đều thấy Facebook là nền tảng chính để kích động thù hận giữa dân theo Phật Giáo Burmese và người Hồi giáo Rohingya. Thậm chí, thời đó, có khi tôi mở được cả video 1 nhà sư kêu gọi cả chùa đi giết người Hồi Giáo. Loại content như vậy, đầy Facebook Myanmar.
Sau này, khi đọc quyển “Mindf*k” của Chrystopher Wylie, người đã công bố hàng chục ngàn trang tài liệu chứng minh thông tin cá nhân của người dùng đã bị Cambridge Analytica (một công ty) ăn cắp và sử dụng ra sao cho các cuộc vận động và khích động đám đông theo mục đích của chính trị gia và các tỷ phú, thì hành động đầu tiên Facebook trả lời báo Guardian ở Anh và New York Times ở Mỹ là… dọa kiện hai tờ báo này và xóa tài khoản của Chrystopher Wylie, thay vì trả lời chính danh như một công ty.
Quá trình theo đuổi vụ Cambridge Analytica của các nhà báo tại Guardian và New York Times cho thấy, Facebook sẵn sàng hủy bằng chứng, xóa sạch dấu vết, nói dối và hủy tài khoản người dùng trong nháy mắt, chỉ để bảo vệ danh tính công ty của họ, nhưng đồng thời họ cũng sẵn sàng thỏa hiệp với chính phủ (như cung cấp team tư vấn quảng cáo cho các thủ tướng như Hun Sen ở Campuchia và Duterte ở Philippines), và sẵn sàng bắt tay khi cần tồn tại ở thị trường địa phương (tiết lộ danh tính người dùng cho chính phủ Thái).
Kể ra một chuyện dài và chẳng liên quan như vậy tôi chỉ muốn nói rằng, nếu bạn sử dụng Facebook như một nền tảng cho hoạt động hoặc các mục tiêu của mình, như bảo vệ trẻ em, phụ nữ, chống lại ngôn từ tàn bạo, thù địch, hay hoạt động chính trị, thì bạn phải là người thúc đẩy Facebook buộc phải quang minh chính đại hơn, buộc phải đàng hoàng và tuân phủ quy định mà chính phủ Mỹ tôn trọng với quyền tự do ngôn luận và quyền con người.
Không phải vì chính phủ Việt Nam đê hèn mà Facebook sạch sẽ hơn. Không phải vì những kẻ bịt miệng dư luận mà Facebook có quyền tắt, xóa, hủy account của những người hoạt động có nội dung chính danh và đàng hoàng.
Điều đó chỉ có thể đạt được khi Facebook bị kiểm soát như một công cụ mà nó phải tôn trọng người dùng, chứ không phải người dùng phải vỗ tay ca ngợi cảm thông cho nó bị chính phủ Việt Nam chèn ép.
Từ rất lâu, các nhà hoạt động tại Đài Loan, Philippines, Hong Kong, Anh Quốc đã liên tục theo dõi hoạt động của Facebook ở các thị trường của họ và thị trường nhạy cảm liên quan, để thực hiện các báo cáo cho thấy Facebook thỏa hiệp ra sao với các chính quyền sở tại để xóa/ẩn/hủy nội dung mà chính quyền không ưa thích. Đó là các giám sát song song mà người dùng có quyền thực hiện, để những công ty khổng lồ, ngưng nói dối về sự minh bạch mà họ không thực hiện.
Bạn không có lựa chọn dùng nền tảng khác, đừng nói với tôi là bạn… nghỉ chơi Facebook khi toàn bộ người dùng đang tập trung ở đó. Người hoạt động không có cái quyền xa xỉ đó. Nhưng họ có quyền giám sát và dọn dẹp sạch sẽ nền tảng mình đang sử dụng.
Chỉ có như vậy, thông tin mà bạn muốn truyền đi mới có con đường để đến tay người đọc.
Và con đường đó chưa bao giờ bằng phẳng, khi bọn bịt miệng ngoài kia đông như vậy.