Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

Trung Quốc leo thang, sắp đại hội đảng, ‘ta’ sẽ… leo xuống?

Trung Quốc leo thang, sắp đại hội đảng, ‘ta’ sẽ… leo xuống?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân hội kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Hình minh họa. Ảnh: TTXVN
Bất chấp các khuyến cáo của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Mỹ (1), Trung Quốc tiếp tục dấn thêm một bước nữa để khẳng định yêu sách về chủ quyền tại biển Đông.
Ngày 21 tháng 4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc loan báo, vừa nhắc nhở Việt Nam một cách “nghiêm khắc” vì liên tục đưa ra những tuyên bố về chủ quyền tại biển Đông.
Theo đó, những tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền ở biển Đông là “bất hợp pháp”. Những nỗ lực phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông dưới bất kỳ hình thức nào cũng vô hiệu và Trung Quốc sẽ thực thi tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ vững chắc cả chủ quyền lẫn lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông (2).
***
Việt Nam sẽ làm gì (?) khi chỉ trong vòng một tuần, Trung Quốc tiến nhiều bước để khẳng định yêu sách chủ quyền tại biển Đông:
– Ngày 14 tháng 4, tàu hải cảnh của Trung Quốc hộ tống Hải Dương 8 (chuyên thăm dò địa chấn) tái xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
– Ngày 17 tháng 4, Trung Quốc cáo giác với Liên Hiệp Quốc, Việt Nam “chiếm đóng bất hợp pháp các đảo, bãi đá thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Quốc để tạo ra tranh chấp”.
– Ngày 19 tháng 4, tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là quận Tây Sa, quần đảo Trường Sa là quận Nam Sa, đặt lại tên cho “25 đảo, rạn san hô và 55 thực thể địa lý”.
– Ngày 21 tháng 4, xếp các khẳng định của Việt Nam về chủ quyền tại biển Đông vào loại “bất hợp pháp”, răn đe sẽ thực thi tất cả các “biện pháp cần thiết” để “bảo vệ chủ quyền”.
***
Tại sao Trung Quốc lại chọn thời điểm này để leo thang – củng cố yêu sách về chủ quyền tại biển Đông cả trên thực địa lẫn diễn đàn quốc tế?
Theo phán đoán của một số chuyên gia, kể cả chính phủ một số quốc gia thì đó là vì cộng đồng quốc tế đang chật vật đối phó với COVID-19.
Tuy nhiên chỉ như thế thì dường như chưa… đủ. Dường như nỗ lực leo thang của Trung Quốc liên quan mật thiết đến nhu cầu tổ chức thành công Đại hội thứ 13 của đảng CSVN.
***
Theo dự kiến, Đại hội Đại biểu toàn quốc của đảng CSVN lần thứ 13 sẽ diễn ra vào tháng giêng năm tới. Từ nay đến đó còn chín tháng…
Cách nay sáu năm, cũng vào tháng 4, Trung Quốc bắt đầu kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào thăm dò dầu khí tại biển Đông.
Ngày 2/5/2014, giàn khoan Hải Dương 981 bắt đầu công việc thăm dò dầu khí tại lô 143 trong bản đồ dầu khí của Việt Nam. Nói cách khác, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương 981 thăm dò dầu khí ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại ví trí chỉ cách đảo Lý Sơn chừng 120 hải lý.
Bất chấp phản đối của Việt Nam và chỉ trích của cộng đồng quốc tế, giàn khoan Hải Dương 981 tiếp tục thăm dò dầu khí dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của hải quân và hải cảnh Trung Quốc. Ngày 27/5/2014, giàn khoan Hải Dương 981 di chuyển đến vị trí mới, cách đảo Lý Sơn chừng 150 hải lý và nơi đó vẫn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Ngoài biển, khoảng 80 tàu của hải quân, hải cảnh, kiểm ngư, vận tải, tàu đánh cá của Trung Quốc vờn qua, vờn lại với 29 tàu của cảnh sát biển, kiểm ngư Việt Nam. Các tàu của lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam liên tục bị các tàu của lực lượng vũ trang Trung Quốc đâm vào mũi, vào đuôi, vào hông, tấn công bằng vòi rồng…
Không chỉ có thế, các tàu của lực lượng vũ trang Trung Quốc và tàu đánh cá vỏ thép của Trung Quốc còn thực thi lệnh cấm lưu thông trên biển Việt Nam, rượt đuổi, bắt giữ, tịch thu ngư cụ của các tàu đánh cá Việt Nam, hành hung ngư dân Việt Nam. Ngày 26/5/2014, một tàu đánh cá của Việt Nam bị đâm chìm…
Trên đất liền, các cuộc biểu tình phản đối hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 xảy ra liên tục ở nhiều nơi. Lúc đầu, những cuộc biều tình diễn ra suôn sẻ nhưng khi cường độ va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam tăng lên, các cuộc biểu tình bắt đầu bị đàn áp thẳng tay…
Sau đó các cuộc biểu tình ôn hòa trở thành bạo động. Từ 12 đến 15/5/2014, hàng chục ngàn công nhân ở TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương bỏ việc để biểu tình và đập phá, đốt các công ty của giới đầu tư Trung Quốc, Đài Loan, Singapore… Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra ở Khu Kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh)… Hàng ngàn người bị bắt!
Bên ngoài Việt Nam, người Việt cũng biểu tình trước Đại sứ quán, Lãnh sự quán Trung Quốc ở Mỹ, Đức, Tiệp, Đài Loan,… Cả trong và ngoài Việt Nam cùng có người tự thiêu (bà Lê Thị Tuyết Mai ở TP.HCM, ông Hoàng Thu Hùng ở Florida), dùng chính thân thể của họ để kêu gọi bảo vệ chủ quyền quốc gia tại biển Đông…
***
Giàn khoan Hải Dương 981 chễm chệ ngự trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho đến 15/7/2014 và để lại cho Việt Nam vô số thiệt hại về chính trị, kinh tế, xã hội và có thể ôn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 cũng như tham khảo về đủ loại thiệt hại mà sự kiện này gây ra trên Wikipedia (3)!
Khoảng 18 tháng sau sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, vào ngày 8/12/2015, khi gặp gỡ ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN – như đại biểu, đại diện cho cử tri các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm của thành phố Hà Nội, tại Quốc hội, nhiều cử tri vốn là cựu viên chức của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam đã nhắc đến sự kiện này như một trong những yếu tố khiến họ cũng như nhiều người Việt khác lo ngại cho chủ quyền quốc gia.
Theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì ông Trọng khẳng định: Càng ngày càng thấy cách giải quyết vấn đề biển Đông của đảng CSVN là đúng đắn.
Thay vì trực tiếp trả lời những cử tri dù lợi ích của cá nhân và gia đình luôn luôn gắn chặt với sự tồn vong của đảng CSVN nhưng không tránh khỏi hoang mang về cách hành xử của đảng CSVN trong quan hệ với Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông, ông Trọng hỏi họ: Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội đảng được không? Ta xử lý mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nhật… vừa qua như thế hợp lý không? 
Ông Trọng tỏ ra rất tự tin và tự hào khi tự trả lời câu hỏi do chính ông nêu ra: “Ta” chơi với tất cả mà họ đều phải nể trọng. Không phải vô tình mà vừa qua cùng lúc chúng ta đón ba nguyên thủ lớn cùng đến Việt Nam. Vừa đón ông Tập Cận Bình xuống sân bay lại thay cờ, trang trí ngay để đón Tổng thống Italia… (4).
Không rõ ông Trọng quan niệm như thế nào về “nể trọng”, đặc biệt là sự “nể trọng” mà Trung Quốc cũng như ông Tập Cận Bình dành cho Việt Nam và cho chính ông?
Tuy ông Tập Cận Bình được Việt Nam tiếp đón trọng thể, được mời trò chuyện với Quốc hội Việt Nam vào ngày 6/11/2015, công khai hứa hẹn sẽ cùng Việt Nam nhìn về đại cục, hướng về lâu dài, tôn trọng lẫn nhau” (5) nhưng ngay ngày hôm sau (7/11/2015), khi đến thăm Đại học Quốc gia của Singapore, ông Tập Cận Bình khẳng định: Biển Đông của Trung Quốc, một số đảo của Trung Quốc đang bị các nước khác ‘xâm chiếm’, do vậy hoạt động của Trung Quốc tại biển Đông là nhằm bảo vệ chủ quyền(6)!
***
Sáu năm đã trôi qua từ khi giàn khoan Hải Dương 981 ngang nhiên thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cả đảng cộng sản Trung Quốc và ông Tập Cận Bình lẫn đảng CSVN và ông Nguyễn Phú Trọng đều cho thấy họ rất nhất quán đối với vấn đề biển Đông.
Trước Đại hội Đại biểu toàn quốc của đảng CSVN lần thứ 12, đảng cộng sản Trung Quốc và ông Tập Cận Bình từng gia tăng áp lực để khẳng định, biển Đông là của Trung Quốc. Khi đảng CSVN và ông Nguyễn Phú Trọng nhìn động thái đó theo kiểu: Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội đảng được không? – thì trước Đại hội Đại biểu toàn quốc của đảng CSVN sắp tới, việc Trung Quốc leo thang, phủ nhận chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông là tất nhiên.
Chú thích

Biển Đông dậy sóng: Ngoài Công hàm 1958, Trung Quốc còn có sách giáo khoa địa lý và chứng cứ khác (Phần 1)

Biển Đông dậy sóng: Ngoài Công hàm 1958, Trung Quốc còn có sách giáo khoa địa lý và chứng cứ khác (Phần 1)

24-4-2020
Biển Đông đang dậy sóng chủ quyền. Chưa bao giờ chúng ta “nhìn rõ” chủ quyền biển đảo bị mất như lúc này, cũng chưa bao giờ cơ hội tranh đấu bằng lý lẽ đòi biển đảo lớn như lúc này. 
Trung Quốc ngang ngược thì ai cũng biết. Nhưng nhiều thông tin từ những nơi đáng ngờ trong nước làm cho nhiều người ít quan tâm về biển đảo khó biết rõ vị trí pháp lý quốc tế của Hoàng Sa, Trường Sa trên mặt trận công pháp quốc tế.
Trên tinh thần diễn đạt đơn giản dễ hiểu các điều luật về biển, chúng tôi viết loạt bài này nhằm xin trình bày ngắn gọn một số điểm cơ bản trong vị thế pháp lý của biển đảo Việt Nam. Chúng tôi không trình bày khoa học pháp lý mà trình bày diễn giải để dành cho người ít có điều kiện đọc, họ nhanh chóng hiểu rõ. Chúng tôi rất thành tâm mong được các bậc thức giả chỉ giáo thêm cho.
***
Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14.9.1958 mấy hôm nay trở thành cùm từ “hot” trên mạng, bởi Nhà nước Cộng hòa dân chủ Trung Hoa (TQ) lấy làm căn cứ khi họ trình Công hàm CML 42/2020 lên Liên Hợp Quốc để khẳng định chủ quyền biển đảo của họ.
Người Việt chúng ta hầu hết đều biết sự ngang ngược của TQ đối với Biển Đông. Họ gom hết cả khu vực rộng lớn gồm Hải phận quốc tế, Thềm lục địa của Việt Nam và nhiều nước trong Asean để tuyên bố đó là ao nhà của họ (vùng nội thủy).
Căn cứ mà TQ đưa ra để tranh giành biển đảo với Việt Nam chúng ta, không chỉ có Công hàm 1958 của Cố Thủ tướng VN Phạm Văn Đồng. Họ còn đưa ra tài liệu Sách giáo khoa địa lý lớp 9 của Việt Nam phát hành năm 1974 và các chứng cứ khác.
Sách giáo khoa địa lý lớp 9 của Việt Nam phát hành năm 1974, trong phần bài viết giới thiệu địa lý Cộng hòa dân chủ Trung Hoa, mục “Vị trí địa lý, biển và bờ biển”, đã viết: “Vòng cung đảo từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải nam, Đài loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn… làm thành một bức ‘trường thành’ bảo vệ lục địa Trung quốc”.
Đọc đoạn văn trên, rõ ràng ai cũng nhận ra nhà nước VN đã có ý chí ở mức độ “khoa giáo” cho học sinh các thể hệ rằng Hoàng Sa và Trường Sa (Nam Sa và Tây Sa theo cách gọi của TQ), là đảo của TQ.
Đây là chứng cứ nguy hại cho VN. Nó mang sự thừa nhận trên bình diện khoa giáo giảng dạy trong nhà trường. Một chứng cứ có giá trị không nhỏ khi kèm với Công hàm 1958.
Ngoài ra còn có bản đồ do Cục đo đạc bản đồ của Phủ Thủ tướng năm 1972 chú thích hai quần đảo là Nam Sa và Tây Sa (thay vì chú thích Hoàng Sa và Trường Sa), Tuyên bố ngoại giao của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm ngày 15.6.1956.
TQ không dại gì mà không đưa ra các chứng cứ này kèm theo Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng để làm bằng chứng dành chủ quyền biển đảo. Phải nói rằng, họ vớ được chứng cứ là “sự ngây ngô” của nhà nước Việt Nam như vớ được vàng.
Chúng ta đặt ra như thế là không nhằm nói rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của TQ. Mà chỉ nhằm xác định rõ “địa vị công pháp” của VN trong việc xác định chứng lý về chủ quyền biển đảo.
Chúng ta đặt ngược lại nếu chúng ta có được bất kỳ một tài liệu của TQ nêu rõ hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, rõ ràng chúng ta sẽ “chụp ngay” lấy nó làm bằng chứng vững chắc khẳng định chủ quyền.
Tuy vậy, nếu thực tâm đấu tranh đòi chủ quyền biển đảo thì Chính phủ VN cũng có thể tiến hành những tiến trình pháp lý nhằm loại bỏ các chứng cứ này.
Nhưng cho đến nay, chưa có bước pháp lý để loại bỏ, tức không khác gì chúng ta đang thừa nhận nó.

Công hàm 1958, ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị không thể vô can

Công hàm 1958, ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị không thể vô can

Võ Ngọc Ánh
24-4-2020
Công hàm do ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Cộng) ký vào tháng 9/1958, là sự tiếp tay cho Trung Cộng trong việc xâm chiếm lãnh hải của Việt Nam.
Ngày 17/4 vừa rồi Trung Cộng đã gởi công hàm lên Tổng thư ký Antonio Guterres phản đối công hàm phía Việt Nam gởi ngày 30/3/2020. Một lần nữa lại đưa ‘bảo bối’ công hàm do ông Đồng ký vào năm 1958 để khẳng định Cộng Sản Việt Nam đã thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về họ.
Công hàm 1958, không thể để mình ông Phạm Văn Đồng gánh tội
Ngày 4/9/1958 chính quyền Trung Cộng công bố quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Theo bản tuyên bố này, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về quốc gia này.
10 ngày sau, chính quyền Việt Cộng nhanh chóng đồng ý với nội dung công bố trên của Trung Cộng.
Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ với người anh em miền Nam, chính quyền miền Bắc nghĩ, Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về các đồng chí Trung Cộng còn hơn để trong tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Có thể lãnh đạo miền Bắc trao lợi thế cho Trung Cộng để đạt được lợi thế chính trị nào đó với Việt Nam Cộng Hòa. Và có lẽ họ chưa nghĩ đến đất nước thống nhất, lãnh hải sẽ rơi vào tay đồng chí láng giềng.
Với cách làm chính trị của các lãnh đạo miền Bắc, rõ ràng ông Đồng không thể tự ý ký công hàm này mà chưa có sự đồng ý, chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đảng Lao Động Việt Nam. (Đảng Cộng Sản lúc này đã tự đổi tên thành đảng Lao Động Việt Nam từ tháng 2/1951, và quay lại tên cũ vào vào tháng 12/1976).
Do đó, hành động chính xác cho công hàm này là bán nước trong sự ngây thơ của cả bộ máy lãnh đạo cao cấp nhất đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó. Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn ý thức hệ của mình lên trên tất cả, đưa chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Điều này đang mang đến nhiều bất lợi trong việc đấu tranh chủ quyền lãnh hải của Việt Nam trước sự tham lam lãnh hải của Trung Cộng.
Vì thế, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, ông Hồ Chí Minh, là người có ảnh hưởng quyết định trong lúc đó, không thể vô can. Để chỉ một mình ông Đồng gánh tội là chưa đủ. Cần nhìn nhận thẳng thắng, đây là sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng Sản và cả ông Hồ.
Cũng không thể giải thích mập mờ như ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 23/5/2014. Theo đó, ông Hải gọi công hàm của ông Đồng là “công thư”. Một văn bản ngoại giao mà không giải thích nó có tính pháp lý, thừa nhận gì không, hay chỉ hỗ trợ ngoại giao.
Đến tháng 2/1974, khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, báo chí, sách vở, tuyên truyền của miền Bắc vẫn bịt mắt giữ vững lòng tin, lừa dân, “Trung Quốc lấy Hoàng Sa cũng vì lấy cho ta”.
Công Hàm Không Có Giá Trị Pháp Lý
Người Việt có thể vin vào điều kiện thực tế lúc đó để lý giải có lợi cho mình. Công hàm được chính quyền Việt Cộng đồng ý với Trung Cộng không thể có giá trị pháp lý. Bởi vì quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lúc đó thuộc sự quản lý của chính quyền miền Nam theo hội nghị tại San Francisco, ở Mỹ vào tháng 9/1951 về lãnh thổ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Trên thực tế, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú tại hai quần đảo trên. Trung Cộng chưa có mặt ở đó.
Do đó, tuyên bố của chính quyền miền Bắc không thể có giá trị. Bởi chính quyền Việt Cộng không thể thừa nhận cho cái đang không thuộc về mình.
Để đấu tranh trong chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay, nhà cầm quyền Việt Nam không thể phủ nhận Việt Nam Cộng Hòa không phải là một quốc gia. Tuy nhiên, việc thừa nhận này lại gặp phải một vấn đề khác. Hóa ra quốc gia miền Bắc đi xâm chiếm quốc gia khác, chứ không phải là sự giải phóng như họ đã rêu rao suốt hơn 66 năm qua.
Cho dù quốc gia có tính kế thừa, tiếp diễn, điều đó không có nghĩa người dân Việt Nam phải chấp nhận việc chủ quyền do một nhóm người độc tài cai trị, biếu không cho quốc gia khác để gia tăng lợi thế chính trị.
Không ngừng xâm chiếm, quấy phá
Sau khi chiếm Hoàng Sa, Trung Cộng không ngừng mở rộng việc đánh chiếm thêm các đảo ở Trường Sa. Xây dựng, cơi nới thêm trên các đảo chiếm của Việt Nam để biến thành những tiền đồn vững chắc. Cùng với đó, gia tăng việc quấy nhiễu lãnh hải Việt Nam, bắn giết ngư dân. Từ đặt giàn khoan Hải Dương 801 vào năm 2014, đến tàu Hải Dương Địa Chất liên tục quấy phá trong những năm gần đây.
Hơn 20 năm qua, chưa năm nào không có ngư dân Việt bị các lực lượng hung hăng như hải cảnh, dân quân bán vũ trang của Trung Cộng vây bắt, đâm chìm. Của mất. Người thương tích. Nhiều xác người Việt vẫn vùi dưới biển sâu bởi sự tàn ác của Trung Cộng. Dân Việt bực tức, nhà cầm quyền Việt Nam chẳng dám gọi thẳng tên kẻ ác, mà cứ “tàu lạ”, “nước lạ”.
Ngày 18/4 vừa rồi, Trung Cộng tuyên bố thành lập hai quận Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam), và Nam Sa (tức thuộc Trường Sa của Việt Nam). Hai quận mới này thuộc thành phố Tam Sa đã được thành lập vào tháng 7/2012.
Trước đó, Việt Nam đã hai lần gởi công hàm phản đối việc tự nhận chủ quyền lãnh hải quá mức của Trung Cộng lên các cơ quan của Liên Hiệp Quốc. Lần thứ nhất là Công hàm 257-HC, gửi vào năm 2016, lần thứ hai là Công hàm A/72/692, gửi năm 2018. Và gần đây nhất vào cuối tháng ba vừa rồi.
Ngay sau đó Trung Cộng cũng lu loa bằng nhiều cách, theo cách vừa ăn cướp vừa la làng, như trưng ‘bảo bối’ Việt Nam từng tán đồng với chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng tuyên bố vào năm 1958.
Phải thừa nhận rằng, trong mấy năm gần đây, Việt Nam là quốc gia cứng rắn nhất trong khu vực Đông Nam Á, và cả châu Á đối đầu trước những đòi hỏi lãnh hải vô lý của Trung Cộng. Nhưng như thế vẫn là chưa đủ. Nhà cầm quyền Việt Nam hãy để người dân lên tiếng về chủ quyền chứ không thể cấm người dân lên tiếng, phản đối theo cách của họ để làm đẹp lòng Trung Quốc.
Dân tộc Việt Nam quyết không để đảng Cộng Sản đem dân tộc này trói vào Trung Cộng như trong hội nghị Thành Đô vào năm 1990. Bởi khủng hoảng do virus Vũ Hán hiện nay trên thế giới đang trao thêm cho quốc gia Việt Nam cơ hội để thoát khỏi Trung.

Hòa giải từ sự thật

Hòa giải từ sự thật

Trung Bảo
24-4-2020
“Hai người lính” – chiến sĩ quân giải phóng Nguyễn Huy Tạo (trái) và người lính Việt Nam Cộng hòa Bùi Trọng Nghĩa tại tuyến giáp ranh thôn Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tháng 4/1973 và gặp lại nhau đầu năm 2018 ở địa điểm xưa. Ảnh: Chu Chí Thành đăng trên Báo Phụ nữ Việt Nam
Khi tôi gặp M. ở California (Mỹ), cậu ấy đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Giáo Dục. M. sang Mỹ đã gần 5 năm từ Sài Gòn, hầu hết thời gian M. sống ở miền Nam California, nơi có rất nhiều người gốc Việt cư trú. Miền nam California với thành phố Westminster có khu Little Saigon được mệnh danh là “thủ đô của người Việt tị nạn cộng sản”, ngoài phố Bolsa tấp nập còn có tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ. Một buổi chiều cuối tuần, sau buổi cafe ở đại lộ Bolsa tôi rủ M. đi ra tượng đài chiến sĩ Việt – Mỹ chơi. M. ngần ngừ một chút rồi nói: “Ngoài đó có cờ vàng”.
Lá cờ vàng mà M. đề cập là lá cờ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH), được treo khắp nơi ở Little Saigon nhưng không hiểu sao M. lại ngần ngại với lá cờ ở tượng đài kia. Sau này, M. mới nói với tôi cậu ấy sợ ra tượng đài kia vì ở đó “chất VNCH quá đậm, thường xuyên có những người lính già mặc lại bộ quân phục cũ đứng đó hoài niệm về chuyện ngày xưa, và chửi cộng sản”.
T. là một cô gái xinh xắn, dáng người dong dỏng và nước da trắng của cô gái xứ Bắc. T. lớn lên ở Hà Nội, đi du học New Zealand rồi về làm việc trong một ngân hàng lớn ở bên hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội). Có dạo, mỗi lần tôi ra Hà Nội, chúng tôi lại ngồi uống cafe gần bờ hồ, khi nước hồ và bầu trời rất xanh. Có những lần T. hỏi tôi về Sài Gòn, tôi thích thú kể về những kỷ niệm của mình với Sài Gòn, về những góc của Sài Gòn cũ. T. nhìn tôi bằng cặp mắt to tròn rất đẹp, rồi nói: “Thế bọn Nguỵ nó cũng tốt nhỉ, cứ tưởng phải phá hết Sài Gòn trước khi chạy theo Mỹ ấy chứ”.
Tôi có nhiều câu chuyện khác về những người ở đôi bên vĩ tuyến, đôi bên bờ đại dương. Nhưng, tôi chọn câu chuyện của M. và T. để kể với bạn vì họ là một thế hệ chẳng dính dấp trực tiếp gì với thù hận hay lợi lộc từ cuộc chiến tranh đã qua giữa hai chính thể Việt Nam Cộng Hoà và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH). Cả hai đều lớn lên trong nước, đều được đi ra nước ngoài, cả hai đều nhìn VNCH như một thứ gì đó cần tránh xa, có phần đáng sợ. Những lúc đó, tôi sẽ trở thành một kẻ dở hơi nếu đem chuyện hoà giải ra nói với họ.
Hai bài viết gần đây trên Báo Sạch không phải là chủ đề mới, đặc biệt với những ai quan tâm đến tình hình biển Đông. Nó trở nên thời sự khi Trung Quốc đem vấn đề Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra Liên Hiệp Quốc. Hai bài viết đều nhắc đến việc phải thừa nhận VNCH là một thực thể chính trị và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa thuộc sự quản lý của chính thể ấy. Vì vậy, công hàm 1958 xem như không có hiệu lực về tranh chấp lãnh thổ.
Trên thực tế, sự tồn tại song song của VNCH và VNDCCH sau nghị định Geneve 1954 không khiến cho mỗi chính thể này trở thành một quốc gia độc lập và có chủ quyền. Theo nghị định trên, vĩ tuyến 17 là ranh giới ngăn đôi đất nước để đợi đến ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tiếc thay, ngày ấy không bao giờ đến mà lá phiếu tuyển cử đã bị thay bằng súng AR15 và AK47, bằng tăng T54 và thiết giáp M113, bằng máu xương của hàng triệu người Việt.
Hai thực thể chính trị VNCH và VNDCCH, nói theo ngôn ngữ Công pháp quốc tế, là hai “quốc gia chưa hoàn tất”. Chính vì điều ấy, theo Công pháp quốc tế, thừa nhận sự tồn tại lịch sử của VNCH trong hoàn cảnh hiện tại đồng nghĩa bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ trước các động thái của Trung Quốc.
May mắn thay, Chính phủ Việt Nam đã nhìn ra điều ấy với hai công hàm gửi lên Liên Hiệp Quốc vào năm 2016 và 2018. Điều đáng tiếc, cả hai công hàm này không được phổ biến rộng rãi trong nước.
Chính sách Hoà hợp – Hoà giải dân tộc là một chính sách lớn của Chính phủ Việt Nam trong suốt nhiều năm qua. Thế nhưng, như hai câu chuyện tôi kể ở trên với bạn đọc, những thế hệ trong nước sinh ra sau cuộc chiến vẫn có cái nhìn về một thực thể lịch sử như VNCH đầy thiên kiến và e dè.
Hoà hợp hoà giải sao đây khi lòng người còn cách ngăn? Bạn hãy nghe những người thuộc “bên thua cuộc” kể về những đớn đau, mất mát mà họ đã phải trải qua sau 11:30 ngày 30/4/1975. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng có một phát ngôn để đời về “triệu người vui, triệu người buồn” khi nhắc đến sự kiện 30/4. Nhưng, đó là phát biểu của một chính khách đã về hưu.
Đã 45 năm qua, ba thế hệ đã được sinh ra, kể từ ngày thống nhất đất nước. Nhưng thống nhất lãnh thổ đâu phải đồng nhất với thống nhất lòng người. Khi trong nước vẫn nhan nhản những kẻ hằn học “bọn nguỵ” còn bên ngoài kia vẫn còn giận dữ “bọn cộng sản”.
Sự hoà giải bắt đầu từ đâu nếu chẳng phải từ sự trân trọng sự thật. Dù sự thật ấy có đau đớn hay khủng khiếp đến mức nào. Bởi, không ai có thể bôi xoá được lịch sử khi chính nó có một cách rất riêng để trả về đúng chân diện mạo. Như câu chuyện của Công hàm 1958 là một ví dụ.

Nếu tôi là luật sư phía Trung Quốc?

Nếu tôi là luật sư phía Trung Quốc?

23-4-2020
Các thảo luận về tính pháp lý của Diplomatic Note 1958 không phải mới. Các anh chị bên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông bàn chuyện này từ tận 2010. Nhiều thầy cô mình biết như thầy Hữu Phước, thầy Hoàng Việt của Đại học Luật TPHCM và cô Trang từ Đại học KHXHNV TPHCM cũng có rất nhiều bài viết về việc Trung Quốc sử dụng công hàm nói trên.
Dưới đây là một số phản biện đứng trên phương diện Trung Quốc về công hàm để làm mới lại các thảo luận liên quan.
1. “Công hàm không đề cập trực tiếp đến việc từ bỏ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa” (Lập luận phổ biến nhất về công hàm).
Các loại văn bản ngoại giao ngắn như diplomatic notes, joint communiques đã được Tòa án Công lý Quốc tế ICJ bằng án lệ và các học giả quốc tế thừa nhận là có thể hình thành nên nghĩa vụ quốc tế dành cho một quốc gia. Trao đổi những văn bản này vì vậy có ý nghĩa rất lớn, không phải chỗ để chơi trò đánh lận con đen “trí khôn của ta đây”.
Anh có quyền im lặng trước Tuyên bố của Trung Quốc, nhưng khi anh đã gửi công hàm đồng ý thì hoặc là đồng ý toàn phần, hoặc là phải ghi nhận rõ mình bảo lưu (reservation) hay phản đối (protest) phần nào của tuyên bố.
Tuyên bố của Trung Quốc có đề cập cụ thể và minh thị việc xác lập hải phận của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chúng ta đồng ý mà không thể hiện rõ bất kỳ lập trường nào khác tức là chúng ta chấp nhận toàn bộ các yêu sách.
Có tranh chấp, phía Trung Quốc chỉ cần dựa vào tập quán giải thích công ước quốc tế (General Rule of Intepretation) với các thành tố về good faith, ordinary meaning và context of purposes thì chắc chắn không thể cãi lại họ.
2/ “Việt Nam Cộng hòa (VNCH – Chính quyền miền Nam Việt Nam) có chủ quyền lãnh thổ đối với HS – TS tại thời điểm năm 1958. Tuyên bố của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (VNDCCH – Miền Bắc Việt Nam) vì vậy không có hiệu lực với HS – TS” (Lập luận khá phổ biến từ năm 2016, đã được Chính phủ Việt Nam đương nhiệm áp dụng – xem thêm ở ảnh góc phải).
Ảnh: internet
Lập luận này dựa trên nguyên tắc pháp lý latin “ultra vires”: Chúng tôi không thể thực hiện hành vi vượt quá thẩm quyền pháp lý của mình. Nhiều người vịn vào điểm này cho rằng chúng ta cứ thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của VNCH là xong.
Trước tiên, có thừa nhận VNCH hay không thì họ vẫn là một quốc gia từng tồn tại theo đúng Công pháp Quốc tế. Đừng quên rằng cả hai bên vĩ tuyến đều không được cho gia nhập vào Liên Hiệp Quốc đến mãi năm 1977. Chúng ta không có cơ sở pháp lý hay đạo đức nào để phán xét về tính chính danh của họ.
Thêm vào đó, không hiểu tại sao lại có sự nhập nhằng giữa công nhận tình trạng lãnh thổ (recognition of territorial situation) với kiểm soát hiệu quả (effective control).
Một quốc gia không nhất thiết phải kiểm soát hiệu quả một vùng lãnh thổ để có thẩm quyền công nhận các tuyên bố chủ quyền liên quan đến nó. Hai phạm trù này không liên quan gì đến nhau.
So sánh dễ hiểu: Việt Nam có kiểm soát, quản lý Đài Loan hay không? Không. Chúng ta hiện nay có chính thức thừa nhận Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc đại lục hay không? Xin thưa là có.
Nói thẳng ra, việc VNDCCH không quản lý HS – TS vào năm 1958 không ảnh hưởng đến trách nhiệm của VNDCCH trong việc tuân thủ các nghĩa vụ được chính mình thừa nhận trong công hàm nói trên.
***
Đây chỉ là hai phản biện dành cho các lập luận phổ biến nhất liên quan đến Công hàm 1958. Các thầy cô, anh chị nào có lập luận khác thì vui lòng để lại phía dưới em xin được phép tổng hợp thêm.
P.S: Cá nhân người viết nghĩ rằng việc đọc lại, suy ngẫm lập luận có thể có từ phía Trung Quốc là cách tốt nhất để chúng ta chuẩn bị cho các tranh cãi tương lai với Trung Quốc. Bài viết hiển nhiên không có mục tiêu mục tiêu ủng hộ cho các tuyên bố chủ quyền của quốc gia này trên Biển Đông.

Đôi điều về vụ án thầy Nguyễn Năng Tĩnh (Phần 1)

Đôi điều về vụ án thầy Nguyễn Năng Tĩnh (Phần 1)

24-4-2020
Phiên tòa phúc thẩm thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh. Ảnh: Báo Nghệ An
Với kết quả y án sơ thẩm, vụ án xét xử thầy Nguyễn Năng Tĩnh đã khép lại với mức án kỷ lục đối với một tội danh “vạ miệng”, thường được gọi tắt là “Tội tuyên truyền chống Nhà nước”: 11 năm tù giam, 05 năm quản chế sau khi mãn hạn tù và 05 năm cấm đảm nhiệm vào các chức vụ dân cử, chính quyền và lực lượng vũ trang.
Như nhiều vụ án hình sự phúc thẩm thông thường khác đã từng diễn ra trên xứ sở này, phiên tòa xét xử thân phận pháp lý một con người diễn ra chóng vánh, chỉ khoảng hơn hai tiếng đồng hồ để tái khẳng định mức hình phạt dài dằng dặc đến hơn cả chục năm tù.
Trao đổi với các luật sư, thầy Tĩnh cho biết đã tuyệt thực 46 ngày, từ ngày 03/03 đến ngày 17/04 để yêu cầu được thực hiện các quyền về tín ngưỡng, bao gồm cả việc yêu cầu gặp một linh mục công giáo. Nhưng đã không được chấp nhận. Thầy sẽ tiếp tục tuyệt thực sau phiên tòa phúc thẩm.
Trong phiên tòa xét xử mình, thầy Tĩnh đã có đến hai lời nói cuối. Một theo quy định, trước khi hội đồng xét xử vào nghị án, thầy khẳng định: “Tôi vô tội”. Và một, từ sự phẫn uất sau khi nghe dứt lời tuyên án: “Một lũ bất nhân tạo ra một phiên tòa bất nhân”. Dĩ nhiên, cả phiên tòa, từng thành viên hội đồng xét xử, công tố viên, các nhân viên an ninh và chúng tôi… phải “nuốt” trọn lời nói cuối đó của thầy trong câm lặng.
Tuy không ngạc nhiên về kết quả vụ án, nhưng rời phiên tòa, chúng tôi vẫn thấy lòng mình trĩu nặng về mức hình phạt quá hà khắc cho một công dân lương thiện, người thầy giáo mực thước vốn chỉ mong muốn điều tốt lành cho dân tộc, sự hùng cường cho xứ sở.
Tạm biệt vội ông bà thân sinh của thầy và cả vị linh mục đang an ủi cho con chiên, tôi và LS.Nguyễn Văn Miếng sắp hành lý lên xe để rời Vinh. Rời nơi mà “ai đó” đã rất quan tâm đến sinh mạng của chúng tôi khi “ân cần” gởi lời nhắn tin từ ngay trước phiên xử: “Bọn mày là luật sư cho thằng Tĩnh à. Bọn mày xuống Nghi Phú, Yên Đại đây ông giết” [1], để lại xuôi dọc con đường quốc lộ dài 1.500km về Sài Gòn trong tâm trạng ngổn ngang.
Về ngang dòng sông Bến Hải, nơi còn lưu giữ chiếc cầu Hiền Lương, biểu tượng chia cắt với hai màu sơn khác nhau. Với thế giới, chiếc cầu chỉ là một vạch vĩ tuyến 17 để đáp ứng toan tính chính trị, nhưng với dân tộc này, đã là một sự chia cắt lòng người, không chỉ 20 năm nội chiến mà đến tận 45 năm sau thống nhất, cho dù chiếc cầu đã nối lại, nhưng lòng người vẫn chưa hề thống nhất. Đến mức, chỉ để yêu nước, mà sao vẫn quá khó khăn để thể hiện nếu khác chính kiến với chế độ…
Chuyến đi khứ hồi dài 3.000km của một tay lái không chuyên, di chuyển qua 14 tỉnh thành, trong suốt gần một tuần lễ của những ngày giãn cách xã hội đã kết thúc an toàn vào lúc nửa đêm ngày 22/04. Tất cả, là nhờ vào lời chúc lành, cầu nguyện lặng lẽ của các linh mục, sư thầy, nhiều anh chị em quan tâm và cả lời cầu nguyện của chúng tôi khi dự lễ trực tuyến lúc xe đang băng ngang Khu kinh tế Vũng Ánh, thuộc thị trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh…
Cảm ơn tất cả và xin chúc lành cho nhau và nhất là cho thầy Tĩnh, người tù nhân lương thiện!
P/s: Chúng tôi sẽ sớm có ý kiến phân tích về một số điểm pháp lý về vụ án để làm cơ sở yêu cầu xem xét giám đốc thẩm vụ án.
_____
[1] Nghi Phú, Yên Đại là nơi có khách sạn mà các luật sư thường lưu trú khi công tác ở Vinh.

“Chiến lược phòng thủ” trong hồ sơ VN kiện TQ ra sao, đến nay “trời biết”?

“Chiến lược phòng thủ” trong hồ sơ VN kiện TQ ra sao, đến nay “trời biết”?

Trương Nhân Tuấn
24-4-2020
Ảnh: Báo PLTP
Việc “leo thang” lý lẽ mấy hôm rày trong nội dung các công hàm giữa VN và TQ gởi Tổng thư ký LHQ làm “căng thẳng” khu vực Biển Đông. “Tiếng súng” có thể thay “tiếng nói” bất cứ lúc nào. “Leo thang” trong ngôn từ sẽ đưa “bàn cờ Biển Đông” vào thế “triệt buộc”.
Việc này làm “nóng” lại Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. TQ gởi công hàm ngày 17 tháng 4 năm 2020, vịn nội dung công hàm 1958 để khẳng định chủ quyền của TQ ở HS và TS.
Công hàm 1958 có giá trị pháp lý như lập luận lâu nay của TQ hay không? Nếu có thì làm thế nào để “hóa giải” hiệu lực?
Giữa VN và TQ không đơn thuần chỉ có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ HS và TS mà còn có những yêu sách đối nghịch như về “quyền lịch sử” của TQ ở biển Đông. VN còn gặp nhiều khó khăn, một mặt đối thủ là “đại cường”, có thể sử dụng vũ lực để “cả vú lấp miệng em”. Còn có việc yêu sách vùng biển và thềm lục địa sinh ra từ các đảo. Việc này cũng đặt VN vào tư thế bất lợi.
Các đảo HS và TS hiển nhiên thuộc VN. Nhưng nếu VN yêu sách vùng biển và thềm lục địa phát sinh từ các đảo này rộng 200 hải lý như đất liền, thì VN có thể bị “gậy ông đập lưng ông”. Nếu Công hàm 1958 có hiệu lực, VN có thể mất cả chì lẫn chài, mất chủ quyền HS và TS là một. Mất vùng biển và thềm lục địa phát sinh chung quanh các đảo là hai.
VN cũng kẹt nếu hủy bỏ yêu sách “vùng biển phát sinh từ đảo”. Bởi vì, nếu đảo đó của mình, thì rõ ràng là phi lý, chuyện này không ai làm.
Ta thấy rõ sự lúng túng của VN trong các tuyên bố của VN về chủ quyền lãnh thổ và yêu sách hải phận.
Thí dụ năm 1977, VN ra bản đồ (gọi là bản đồ bụng chửa). VN yêu sách vùng nước và thềm lục địa chung quanh HS và TS, theo đó các đảo HS và TS có đầy đủ hiệu lực “đảo”, theo điều 121 Luật biển 1982.
So sánh ta thấy “bản đồ bụng chửa” của VN không khác mấy bản đồ chữ U chín đoạn của TQ.
Tuyên bố của VN ở các năm sau thông thường là “thả nổi”, hiểu sao cũng được, kiểu “Luật Quốc tế về Biển 1982 là cơ sở pháp lý duy nhứt, toàn diện và triệt để, về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa VN và TQ”.
Theo tôi lựa chọn này là “thông minh”. Bởi vì VN có thể bị vướng nguyên tắc “Estoppel”, nguyên tắc “không được nói ngược”. VN không thế phản bác yêu sách đường chữ U của TQ trong khi VN cũng có yêu sách “bản đồ bụng chửa” tương tự. Ngay cả khi VN tuyên bố hủy bỏ yêu sách vùng biển 1977, thì việc bài bác yêu sách “đường chữ U” của TQ, trước một tòa quốc tế, cũng có thể làm VN phạm nguyên tắc “Estoppel”. Anh không thể cấm người khác có quan điểm y chang như anh.
VN còn có tranh chấp do chồng lấn vùng biển kinh tế độc quyền và thềm lục địa, bề rộng 200 hải lý phát sinh từ đường cơ bản ven bờ.
Ngoài ra, làm như chưa đủ phức tạp, lại có vụ “thềm lục địa mở rộng”, theo điều 76 của Luật quốc tế về Biển. Quốc gia nào có thềm lục địa “có thể mở rộng được”, thì có thể mở ra đến 350 hải lý. Việc chống lấn vì vậy, ngoài vùng biển và thềm lục địa 200 hải lý, còn có chồng lần “thềm lục địa mở rộng”.
Hiển nhiên câu hỏi cần phải đặt (mà không thấy ai đặt) là VN “phác họa” chiến lược tranh tụng với TQ ra sao?
Nếu kiện TQ thì kiện về cái gì? Kiện ở đâu?
Ải đầu tiên nếu VN muốn đi kiện TQ, là phải chắc chắn tòa “có thẩm quyền phân xử”. Việc này có hai cái khó. Thứ nhứt, hai bên phải ký nhận thẩm quyền của tòa. Thứ hai, nội dung phân xử không bị “loại trừ” do việc “bảo lưu” của một bên.
Vụ Phi đơn phương kiện TQ ra Tòa Trọng tài thường trực ở La Haye (Hòa lan). Tòa tuyên bố có thẩm quyền và ra phán quyết ra ngày 14 tháng 7 năm 2016. Theo nội dung “giải thích và cách áp dụng Luật Biển khu vực nam Biển Đông”, Phi thắng kiện. Vấn đề là TQ không tham gia, vì cho rằng Tòa không có thẩm quyền. TQ không nhìn nhận và dĩ nhiên không tuân thủ phán quyết.
Hoc giả VN luôn “lên gân” muốn VN “kiện” TQ. Nếu có ai đó hỏi “sách lược kiện tụng của VN ra sao, kiện ở đâu, kiện cái gì”? Câu trả lời coi bộ khó!
Tuy nhiên, nói vậy là “hạ thấp” trình độ của học giả VN. Lâu nay học giả VN cũng rất siêng năng, rất chuyên chú ở việc tìm kiếm bản đồ.
Làm như khi ra tòa, VN ôm một chồng bản đồ TQ trong đó không có vẽ HS và TS là đủ chứng minh TQ không có chủ quyền ở HS và TS vậy.
Vụ “hiệu lực các bản đồ” từ 10 năm trước tôi đã có bài nghiên cứu, cho thấy là trước tòa, bản đồ không hề là một “bằng chứng”. Bản đồ chỉ có giá trị “thông tin”, giúp tòa làm rõ một vấn đề (còn mù mờ) nào đó.
Ngay cả việc bất nhất trong lập luận, về tư cách pháp nhân các thực thể VNDCCH, VNCH, CPLTMTGPMN… các học giả vẫn lọng cọng. Trong khi việc lựa chọn “tư cách pháp nhân” của VNCH và VNDCCH mới là điều quan trọng nhứt, là “yếu tố nền tảng”, quyết định VN “thắng” hay “thua” trong vụ kiện.
Chưa nói tới nội dung các “sách lược” phòng thủ và tấn công (vì đâu ai biết nó hình dáng ra sao?). Các học giả VN hiện nay hầu hết có quan niệm VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia, độc lập có chủ quyền”. Việc này tôi có nói (vô số lần) là “nguy hiểm”. Làm vậy là toàn bộ lịch sử VN, kể cả giai đoạn 1954-1975, đều được xét dưới ánh sáng của luật quốc tế.
Tôi có viết nhiều bài cảnh báo, trong đó có bài “Công hàm 1958: Một vấn đề thuộc phạm vi công pháp quốc tế” và bài “Nếu công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không hiện hữu”. Rõ ràng ý kiến của tôi trong hai bài này khó lòng phản biện. Vì những gì tôi viết chỉ phản ảnh luật lệ, hay giải thích luật lệ.
Tức là khi đặt nền tảng hồ sơ kiện, với VNDCCH và VNCH là “hai quốc gia”. Bất kể lập luận ra sao, bằng chứng “chắc như bê tông”, tôi nghĩ rằng VN thua kiện 99%, ở bất kỳ một mục đích nào ghi ở trên.
Hồ sơ do tôi đề nghị từ nhiều năm nay, theo đó VNCH và VNDCCH là hai thực thể chính trị thuộc về một quốc gia “duy nhứt”, theo định nghĩa của hiệp định Genève 1954, khẳng định lại qua hiệp định Paris 1973. Tức là VN có tư cách pháp nhân là “quốc gia bị phân chia – divided state”. VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia chưa hoàn tất”. Đây là cách nói khác của pháp nhân “quốc gia hai chế độ”.
Nếu ta xét thực tế lịch sử, từ 1954 tới 1975, VNDCCH chưa bao giờ là thành viên của bất cứ một định chế, một tổ chức nào thuộc LHQ. VNDCCH không có ghế đại diện LHQ đã đành. VNDCCH cũng không phải là thành viên của bất kỳ một công ước quốc tế nào hết cả. Không phải là VNDCCH “không muốn” gia nhập. Mà bởi vì VNDCCH không có “tư cách pháp nhân” để gia nhập.
Thực tế lịch sử nó là như vậy. VNDCCH không phải là đối tượng của công pháp quốc tế. Điều này không thể phản bác.
Tức là tất cả những hành vi, thái độ bất kỳ của VNDCCH, trước một vấn đề “quốc tế” thể hiện từ 1954 đến 1975, hiển nhiên không thể soi sáng bằng luật pháp quốc tế.
Cũng nên nhắc lại chi tiết, sau khi TQ xâm lăng Hoàng Sa của VN tháng giêng 1974, VNCH vận động Hội đồng bảo an LHQ can thiệp cũng như lập hồ sơ “sách trắng” tung ta Đại hội đồng LHQ để kiện TQ lên tòa Công lý Quốc tế. Ngay cả có hay không có sự “chống lưng” của Mỹ, VNCH bất lực, thất bại trong tất cả các cuộc vận động.
Không quốc gia nào can thiệp, hay tỏ thái độ với VNCH, ngoại trừ các tuyên bố phản đối của LX và các quốc gia khác lên án việc sử dụng vũ lực của TQ.
Đơn giản vì VNCH không có tư cách pháp nhân của “Quốc gia”. VNCH cũng như VNDCCH không phải là đối tượng của luật quốc tế.
Cả hai bên, VNCH và VNDCCH, đều không phải (hay chưa phải) là “quốc gia độc lập có chủ quyền”.
Nhưng trước một tòa án, các học giả VN vẫn có thể khẳng định rằng VNDCCH là “quốc gia”, như ý muốn. Vì từ khi “lập quốc” lãnh đạo VNDCCH đã nói như vậy rồi. Hệ quả ra sao? Thì thử làm rồi sẽ biết.
Khi các học giả VN không phản biện được hai bài viết tôi dẫn trên, ý kiến của một “tay mơ” về luật, thì các học giả đỉnh cao vô phương “cãi” lại lập luận các học giả TQ.
“Chiến lược” phòng thủ của tôi hết sức đơn giản. Biết mình biết người.
Biết mình đuối lý, không thể cãi với TQ bằng luật quốc tế. Thì mình kéo địch thủ qua một “mặt trận” pháp lý khác, mà trong đó luật quốc tế không thể áp dụng được, trong khoảng thời gian 1954-1975. Đâu ai có thể cấm mình được? Thực tế lịch sử nó là như vậy mà!
Tức là, chỉ cần “điều chỉnh” lại lập trường một chút, học giả đỉnh cao và đảng viên CSVN bớt “lên gân một chút”, khiêm nhượng một chút, can đảm một chút để nhìn thực tế lịch sử. Thì Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không có hiệu lực trước công pháp quốc tế.
Đơn giản chỉ có vậy.
Nhưng sau khi tôi đăng lại hai bài viết về “giá trị pháp lý” của công hàm 1958, khối người phản biện bằng những lý do hết sức buồn cười. Có người hỏi rằng khi TQ ra Công hàm 1958 khẳng định chủ quyền và hải phận 12 hải lý thì VNCH phản ứng ra sao? Điều tương tự cũng thường thấy, đặc biệt trên BBC. Khi không thể phản biện được các lập luận của TQ bèn đổ thừa trách nhiệm VNCH làm mất HS.
Cũng có người không thấy rằng các bài viết của tôi, các bài nói về hiệu lực pháp lý của Công hàm 1958, có thể xem như là một hai miếng “puzzle” trên một tấm hình to lớn là “hồ sơ” chủ quyền lãnh thổ, hải phận và vùng biển của VN ở Biển Đông. Họ dẫn một vài đoạn trong bài viết đó rồi cho rằng đó là lập trường của tôi. Hiển nhiên là lấy chữ bỏ miệng người!
Trong khi chờ đợi công hàm của VN sẽ gởi tổng thư ký LHQ để phản biện các yêu sách của TQ. Tôi viết tóm lược ý kiến của tôi trong bài này. Hy vọng bộ ngoại giao VN tiếp nối lập luận phản biện như đã thấy trong nội dung các Công hàm năm 2016. Các học giả đỉnh cao cũng làm ơn bớt “lên gân”. Quí vị nói sướng cái miệng nhưng hệ quả có thể làm cho TQ có lý do trả lời bằng súng.

10 điều cần biết về Công hàm Phạm Văn Đồng

10 điều cần biết về Công hàm Phạm Văn Đồng

Đoan Trang
24-4-2020
1. Công hàm là gì?
Từ điển và sách giáo khoa về ngoại giao và quan hệ quốc tế thường định nghĩa công hàm (diplomatic note) là văn kiện ngoại giao chính thức của chính phủ hoặc bộ ngoại giao một nước, gửi cho chính phủ hoặc bộ ngoại giao của nước khác hoặc một tổ chức quốc tế, với nội dung trao đổi, thông báo, yêu sách hay phản đối hoạt động, sự kiện hoặc vấn đề nào đó có liên quan mà cả hai bên (hoặc nhiều bên) cùng quan tâm.
Tóm lại, ta có thể hiểu công hàm là một văn kiện ngoại giao chính thức để nêu quan điểm chính thức của một nhà nước với một nhà nước khác, về một vấn đề được quan tâm.
2. Công hàm Phạm Văn Đồng là gì?
Đó là một văn kiện ngoại giao chính thức của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ký tên Thủ tướng Chính phủ khi đó là Phạm Văn Đồng), đề ngày 14/9/1958, gửi người đồng nhiệm Trung Quốc – Chu Ân Lai (Zhou Enlai) – khi đó là Tổng lý Quốc vụ viện, tương đương thủ tướng nước CHND Trung Hoa.
Lâu nay, Công hàm này được gọi theo tên người ký, thành “Công hàm Phạm Văn Đồng”, chứ nó không có tiêu đề. (Việc không có tiêu đề này không ảnh hưởng tới nội dung và giá trị pháp lý của nó).
3. Nội dung chính của Công hàm Phạm Văn Đồng là gì?
Trích nguyên văn:
“Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa trên mặt bể”.
4. Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ Trung Quốc nói gì?
Luật Khoa dịch từ bản tiếng Anh một lá thư đề ngày 9/6/2014 của Đại sứ thường trực CHND Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc gửi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.
“Bắc Kinh, ngày 4/9/1958
Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều này áp dụng đối với toàn bộ lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Hoa lục địa và các đảo ngoài khơi lục địa, cũng như Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu (Bành Hồ), quần đảo Dongsha (Ðông Sa), quần đảo Xisha (Tây Sa), quần đảo Zhongsha (Trung Sa), quần đảo Nansha (Nam Sa), và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc, vốn bị đại dương ngăn cách với Trung Hoa lục địa và các đảo ngoài khơi lục địa.
(2) Phần lãnh hải của Trung Quốc bao quanh Trung Hoa lục địa và các đảo ngoài khơi lục địa xác định đường cơ sở là đường bao gồm các đoạn thẳng nối những điểm cơ sở trên bờ biển bao quanh lục địa và trên các đảo xa nhất ngoài khơi; vùng biển 12 hải lý tính từ đường cơ sở trở ra là lãnh hải (territorial sea) của Trung Quốc (có tài liệu dịch “territorial sea” là hải phận – NV). Vùng biển bên trong đường cơ sở, gồm cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội thủy (inland waters) của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, gồm cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dada, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội thủy Trung Quốc.
(3) Máy bay và tàu thuyền nước ngoài, vì mục đích quân sự, không được vào lãnh hải Trung Quốc và vùng trời phía trên lãnh hải đó, nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Khi qua lại trong lãnh hải của Trung Quốc, tất cả tàu bè nước ngoài đều phải tuân thủ các luật lệ có liên quan, do Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đặt ra.
(4) Ðiều (2) và (3) nêu trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo xung quanh Đài Loan, quần đảo Penghu, quần đảo Dongsha, quần đảo Xisha, quần đảo Zhongsha, quần đảo Nansha, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Ðài Loan và Penghu hiện vẫn còn bị lực lượng vũ trang Hoa Kỳ chiếm đóng. Ðây là hành động bất hợp pháp, xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, Đài Loan, Penghu và các khu vực khác trong tình trạng tương tự đều sẽ được lấy lại, và Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền lấy lại các khu vực này bằng mọi phương cách thích hợp vào một thời điểm thích hợp. Đây là chuyện nội bộ của Trung Quốc, không dung thứ mọi sự can thiệp của nước ngoài”.
5. Như vậy, Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ Trung Quốc có nhắc đến Trường Sa, Hoàng Sa không?
Có. Nó nhắc đến Xisha và Nansha. Quần đảo Xisha, tên Hán Việt là Tây Sa, chính là Hoàng Sa theo cách gọi của Việt Nam, và quần đảo Nansha, tên Hán Việt là Nam Sa, là Trường Sa theo cách gọi của Việt Nam.
6. Tại sao lại nói Công hàm Phạm Văn Đồng thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Trường Sa?
Công hàm Phạm Văn Đồng khẳng định “Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc”.
Mà Tuyên bố ấy lại khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là các quần đảo của Trung Quốc, có nội thủy, có đường cơ sở, có lãnh hải 12 hải lý bao quanh.
Như vậy, tồn tại một cách hiểu phổ biến là Công hàm không chỉ thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là quần đảo của Trung Quốc mà còn thừa nhận cả vùng biển 12 hải lý bao quanh hai quần đảo này cũng thuộc chủ quyền Trung Quốc.
7. Phía Trung Quốc có sử dụng Công hàm Phạm Văn Đồng để gây khó khăn cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền không?
Tất nhiên là có.
Một trong những lần gần đây nhất, được công luận biết đến, mà Trung Quốc đem Công hàm Phạm Văn Đồng ra để đòi chủ quyền trên Biển Đông là vào năm 2014 với sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu khổng lồ Haiyang Shiyou 981 (HD 981) trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (ngày 2/5/2014).
Trong bối cảnh căng thẳng giữa hai nước dâng cao, ngày 9/6/2014, Đại biện (Tham tán) của Phái đoàn Thường trực CHND Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc, Wang Min (Vương Mẫn), đã gửi thư tới Liên Hiệp Quốc tố cáo Việt Nam “khiêu khích”, “xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và tài phán của Trung Quốc”, khẳng định Tây Sa (tức Hoàng Sa) là “một phần không thể tách rời của Trung Quốc”, “không có tranh chấp gì cả”.
Vị đại biện nêu rõ rằng Việt Nam đã chính thức công nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc; “quan điểm này được phản ánh trong các thông báo và công hàm của chính quyền Việt Nam, cũng như trong báo chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam”.
Thư nêu một số bằng chứng:
– Một là tuyên bố ngày 15/6/1956 của Phó Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm (“theo các tài liệu tiếng Việt, quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần của lãnh thổ Trung Quốc từ trong lịch sử”). Lê Lộc, quyền Vụ trưởng Vụ châu Á, Bộ Ngoại giao Việt Nam, có mặt lúc đó, cũng trích dẫn tài liệu của Việt Nam mà nói rằng “nhận định từ giác độ lịch sử, những quần đảo này vốn đã là một phần của Trung Quốc từ đời Tống”.
– Hai là Công hàm Phạm Văn Đồng 1958.
– Ba là bản đồ Atlas Thế giới, do Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam in tháng 5/1972, gọi Xisha bằng tên Trung Quốc.
– Bốn là sách giáo khoa địa lý lớp 9 của Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1974, trong bài học về nước CHND Trung Hoa, đã viết: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa đến Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ, Chu San tạo thành hình giống như một cây cung và cấu thành nên bức tường vĩ đại bao quanh lục địa Trung Hoa”.
8. Bản thân người ký Công hàm – ông Phạm Văn Đồng – có nhận thức như thế nào về Công hàm này?
Bản thân Công hàm Phạm Văn Đồng được coi là một chủ đề nhạy cảm với báo chí và giới nghiên cứu Việt Nam. Cho nên, chúng ta hầu như không có cách nào biết Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời nghĩ gì về Công hàm này.
Tuy nhiên, trong một bài viết vào mùa hè 2014 (sau sự kiện giàn khoan HD 981), học giả người Trung Quốc Li Jianwei (Lý Kiến Vĩ) tiết lộ một chi tiết ít người biết. Xin trích dịch:
“Có thể hiểu được là, các đại diện của phía Việt Nam đã cố gắng làm giảm tầm quan trọng của công hàm Phạm Văn Đồng và muốn đưa ra một lời giải thích khác về việc tại sao công hàm này không làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, có một sự thực là trong một cuộc gặp vào năm 1977, chính ông Phạm Văn Đồng đã giải thích cho một người khi đó là Phó Thủ tướng Trung Quốc, ông Lý Tiên Niệm (Li Xiannian); và cái sự thực này quả thật đã làm suy yếu những lập luận hiện nay của Việt Nam nhằm đánh lạc hướng nội dung của Công hàm Phạm Văn Đồng. Ấy là bởi vì trong cuộc gặp, ông Đồng có nói: “Nên hiểu các tuyên bố của chúng ta, kể cả tuyên bố trong Công hàm của tôi gửi Thủ tướng Chu Ân Lai, như thế nào? Nên hiểu nó trong bối cảnh lịch sử của thời đại”, và “trong cuộc kháng chiến, tất nhiên chúng tôi phải đặt việc chiến đấu chống đế quốc Mỹ lên trên tất cả mọi thứ khác”.
Rõ ràng là ông Đồng đã công nhận mục đích của tuyên bố của ông về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng lại đòi Trung Quốc hiểu nó trong bối cảnh lịch sử. Lập luận này đi ngược với nguyên tắc quốc tế “estoppels”, theo đó: Trong một tranh chấp cụ thể, tại một thời điểm nào đó, nếu một bên có thỏa thuận/ nhất trí ngầm, hoặc công nhận chủ quyền của một bên khác đối với một vùng lãnh thổ đang tranh chấp, thì sự công nhận hoặc nhất trí đó có hiệu lực pháp lý”.
(Bài viết của bà Li Jianwei dành riêng cho cho RSIS – Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, trực thuộc ĐH Công nghệ Nanyang, Singapore).
Nghĩa là gì? Có thể phỏng đoán rằng Phạm Văn Đồng cũng hiểu Công hàm mà ông ký là một sự nhượng bộ chủ quyền của Việt Nam cho Trung Quốc, nhưng ông biện minh rằng vì khi ấy Bắc Việt đang chống “đế quốc Mỹ” cho nên phải làm như thế.
9. Vậy Công hàm Phạm Văn Đồng có giá trị pháp lý không?
Điều này tùy vào việc Việt Nam có bác bỏ (phủ nhận) được giá trị pháp lý của Công hàm Phạm Văn Đồng trước một tòa án quốc tế có thẩm quyền, hay không.
Có nhiều học giả người Việt trong và ngoài nước đã tìm cách bác bỏ giá trị pháp lý của Công hàm, với nhiều lập luận khác nhau. Bài mới nhất là của Luật sư Đào Tăng Dực, đăng trên báo Tiếng Dân ngày 22/4 vừa qua, với nhan đề “Duyệt lại giá trị pháp lý của Công hàm Phạm Văn Đồng”.
10. Có phải thừa nhận Việt Nam Cộng hòa là một cách hóa giải Công hàm Phạm Văn Đồng không?
Đó là một trong những cách được đề xuất, và không có gì khẳng định cách nào sẽ thành công.
Cụ thể, trong những quan điểm tìm cách hóa giải Công hàm Phạm Văn Đồng, một trong những lập luận được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng là lập luận cho rằng: Khi ông Đồng gửi Công hàm đó (ngày 14/9/1958), thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nằm dưới vĩ tuyến 17, thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng hòa chứ không phải thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Học giả người Pháp Monique Chemillier-Gendreau viết rằng: “Trong bối cảnh này, bất kỳ tuyên bố hoặc lập trường nào của chính quyền Bắc Việt đều không ảnh hưởng gì đến danh nghĩa chủ quyền. Họ không phải là một chính quyền có quyền tài phán về lãnh thổ đối với các quần đảo. Người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không có thẩm quyền với nó”. (Monique Chemillier-Gendreau, “La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, NXB Harmattan, 1996).
Sau năm 1975, theo nguyên tắc kế thừa, nước Việt Nam thống nhất được hưởng những gì Việt Nam Cộng hòa để lại, trong đó có cả chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Với cách hóa giải này, điểm mấu chốt là chính quyền Việt Nam bây giờ phải thừa nhận rằng trước năm 1975, đã tồn tại hai quốc gia riêng biệt và độc lập: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Nói cách khác, chính quyền phải công nhận rằng đã có một quốc gia Việt Nam Cộng hòa, với một chính quyền có tính chính danh, chứ đó không phải là một triều đại “ngụy”, “bù nhìn” do “Mỹ và tay sai” dựng nên.
Tuy nhiên, lập luận này vẫn có thể bị phản bác. Chẳng hạn, một quốc gia không nhất thiết phải kiểm soát một vùng lãnh thổ trên thực tế để có thể có thẩm quyền công nhận các tuyên bố chủ quyền liên quan đến nó. Ví dụ: Việt Nam hiện nay không hề kiểm soát Đài Loan nhưng vẫn có thể ủng hộ quan điểm “Đài Loan thuộc về Trung Quốc” của Bắc Kinh. Hoặc một lập luận nữa: “trong bối cảnh này” – cụm từ mà bà Monique Chemillier-Gendreau dùng – là bối cảnh nào? Theo học giả Trương Nhân Tuấn, đó lại không phải là bối cảnh của ông Phạm Văn Đồng năm 1958; đó là bối cảnh bà Monique Chemillier-Gendreau đang phản biện một tác giả khác (ông L. Thomas Bradford trong “The Spratly Island Imbroglio: a tangled web of conflict”).