Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Nỗi đau mất đất

Nỗi đau mất đất

bauxitevnWed 11:00 AM



Tòa xử phúc thẩm bà Cấn Thị Thêu 
clip_image001
Bà Cấn Thị Thêu được nhiều người biết đến là một nhà hoạt động vì các quyền đất đai và môi trường.
Phiên tòa xử phúc thẩm bà Cấn Thị Thêu, một nhà hoạt đấu tranh vì quyền đất đai từng bị kết án 20 tháng tù hồi tháng 9, diễn ra ngày 30/11 tại Hà Nội.

Phó Giám đốc bộ phận châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Phil Robertson cho biết trong một thông cáo: “Công lý thực sự mà Tòa Phúc thẩm có lẽ phải dành cho bà Cấn Thị Thêu là bác bỏ các cáo buộc không có thật và phóng thích bà ngay lập tức”.
Ông cho biết thêm, việc bỏ tù bà Thêu không làm thay đổi thực tế rằng biểu tình ôn hòa phản đối việc tịch thu đất đai không thể được coi là phạm tội.
“Chính phủ Việt Nam cần khẩn trương sửa đổi luật đất đai và các quy trình khiếu nại để bảo vệ quyền lợi của người nông dân, không phải để trừng phạt họ vì đã lên tiếng và đòi hỏi hành động trước những yêu cầu của họ”, ông nói.
Bà Cấn Thị Thêu và nhiều người dân ở Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cách đây 2 năm đã đấu tranh, phản đối việc nhà chức trách thu hồi đất của dân để giao cho một doanh nghiệp tư nhân để kinh doanh bất động sản. Họ cho rằng qui trình thu hồi đất không đúng pháp luật, điều này sau đó đã được Thanh tra Chính phủ xác nhận.
Vì hoạt động đấu tranh của mình, bà Thêu và chồng đã bị bắt một lần vào cuối tháng 4/2014 và phải nhận án tù 15 tháng. Họ mới mãn án vào cuối tháng 7 năm ngoái.
Theo HRW, VOA
Tham khảo thêm một bài từ 2012:
Chế đ đđai Vit Nam: Sai đếđâu sđến đó

Nguyễn Quốc Khải

clip_image003
Hình (giaoduc.net.vn): Hai anh em ông Đoàn Văn Vươn (phải) và Đoàn Văn Quý (trái), nạn nhận của vụ cướp đất tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng.
Trong thời gian gần đây người ta bàn cãi rất nhiều về những mưu toan tịch thu đất đai của người dân ở Huyện Cờ Đỏ thuộc tỉnh Cần Thơ và Huyện Tiên Lãng ngoại thành Hải Phòng mà bà Trần Ngọc Sương và ông Đoàn Văn Vươn là hai nạn nhân chính. Trước đây đã có hàng trăm ngàn trường hợp nông dân bị ức hiếp như vậy vì họ đều cùng ở trong cùng cảnh ngộ như Bà Sương hay ông Vươn. Trong nhiều trường hợp hàng trăm dân oan kéo về Hà Nội và Saigon để khiếu kiện về đất đai trong hơn mười năm vừa qua. Một tai nạn này đã gây xúc động mãnh liệt trong nước cũng như ở hải ngoại xẩy ra vào cuối năm 2005 liên quan đến đất đai và bà Phạm Thị Trung Thu là một nạn nhân. Tuyệt vọng vì khiếu kiện đòi nhà đất bị tịch thu tại Đà Lạt không có kết quả, bơ vơ không nơi nương tựa và uất ức vì bị đối sử bất công, Bà Phạm Thị Trung Thu đã ra Hà-Nội tự thiêu ngay tại nhà tiếp dân ở Quận Ba Đình. Bà bị phỏng nặng nhưng được cứu sống 1/ và chữa trị bằng một phần tiền của một số người hảo tâm mà Bà không hề quen biết ở nước ngoài gửi về giúp.
Đất đai là một tài nguyên khan hiếm, một tích sản quý giá và là một vấn đề quan trọng liên quan đến tất cả 90 triệu người Việt Nam. Ai cũng cần có một mái nhà trên một mảnh đất để ở. Nhưng đất đai còn là một phương tiện sinh sống thiết yếu của 63 triệu người dân nông thôn. Nhà nước đụng đến đất đai là đụng đến an sinh của cả 90 triệu dân. Gần nửa thế kỷ vừa qua, Cộng Sản Việt Nam CSVN) đã dùng đất đai và nhà ở làm phương tiện để sách động và kiểm soát dân. Chính sách đất đai và hộ khẩu cũng như cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950, đều là những thứ vay mượn của Trung Quốc. Chúng đã cản trở việc phát triển đất nước và gây ra không biết bao nhiêu đau thương và bất công trong xã hội.
Chế độ đất đai tại Việt Nam phản ảnh trung thực mưu đồ tối tăm và tầm nhìn thiển cận của cấp lãnh đạo.
Chính sách tập thể hóa đất đai
Trong thời gian chưa nắm được quyền hành, CSVN phát động đấu tranh giai cấp, đấu tố địa chủ, lấy đất chia lại cho dân, “trả ruộng cho người cầy” để lôi kéo nông dân. Đến khi có được quyền hành trong tay, CSVN thâu hồi lại đất đai và bắt dân làm mướn. Chính sách tập thể hóa đất đai kéo dài không được bao lâu vì nông dân chống đối mạnh mẽ, đặc biệt tại miền Nam Việt Nam. Tính đến năm 1986, chỉ có 5.9% nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long, 20% ở miền Đông Nam phần, và 85% ở vùng đất thấp của miền Trung gia nhập các hợp tác xã. Số lượng nông phẩm sản xuất giảm xuống nhanh chóng khiến Việt-Nam bị đe dọa bởi nạn khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng. Nạn thiếu đói này làm người ta liên tưởng đến chính sách bắt dân trồng đay thay vì lúa gạo để làm nguyên liệu cho việc sản xuất quân trang, quân phục của quân phiệt Nhật vào năm Ất Dậu 1945. Hậu quả là một triệu dân Việt bị chết đói.
Để giải quyết nạn đói đe dọa, CSVN đã phải nương tay để mặc dân chúng tự sản xuất nông phẩm trên những mảnh đất quanh nhà hay bỏ hoang. Vào năm 1981, CSVN ban hành Chỉ Thị 100, thiết lập hệ thống “khoán sản phẩm” để chính thức hoá tình trạng “xé rào” ở cả hai miền Nam Bắc. Theo chỉ thị này đất đai vẫn thuộc về toàn dân và do nhà nước quản trị, nhưng nông dân được trao cho một số nguyên liệu và được khoán cho làm một số công việc sản xuất trên mảnh đất được nhà nước chỉ định, được trả công trên số giờ làm, và được giữ số lượng nông phẩm thăng dư trên số lượng ấn định phải nộp cho nhà nước. Nhờ vậy số lượng nông phẩm tăng lên.
Chính sách này có nhiều khuyết điểm như tiền công trả cho nông dân không dựa trên lượng và phẩm của nông sản do gia đình nông dân sản xuất. Ngoài ra việc phân phối đất đai không công bằng đã gây ra nhiều kiện tụng. Tuy nhiên Chỉ Thị 100 là bước đầu quan trọng đưa đến những cải tổ rộng lớn với chính sách “Đổi Mới” vào cuối năm 1986. Sau thời điểm này CSVN ban hành nhiều luật đất đai và tu chính nhiều lần khác nhau theo kiểu vá víu “sai đến đâu sửa đến đó”.
Luật Đất Đai 1988
Để giải quyết tình trạng kiện tụng về đất đai mỗi ngày một nghiêm trọng, CSVN đã ban hành luật đất đai lần đầu tiên vào năm 1988 sau khi chiến tranh chấm dứt tại Việt-Nam. Đất được phân phối cho dân chúng sử dụng, nhưng việc mua bán, thuê mướn đất đai, thay đổi mục tiêu sử dụng hoàn toàn bị cấm đoán. Cũng vào năm này, nhà nước ra Nghị Quyết số 10, chính thức hủy bỏ hệ thống sản xuất nông phẩm tập thể.
Luật Đất Đai 1988 có những điểm chính sau đây: 1) Đất đai thuộc quyền sở hữu chung đặt dưới sự quản lý của nhà nước; 2) Nhà nước cho cá thể và các tổ chức thuê đất để sử dụng lâu dài; 3) Người sử dụng đất có thể bán những sản phẩm gặt hái từ miếng đất đã sử dụng; 4) Mua bán đất bị cấm đoán; 5) Tranh chấp về đất đai sẽ được xử theo luật lệ; 6) Đất không được phép cho thuê lại; và 7) Không được thay đổi cách sử dụng đã mô tả.
Luật Đất Đai 1993
Luật đất đai thứ 2 ban hành vào năm 1993. Luật mới tiến bộ hơn, cho phép người sử dụng đất được quyền chuyển nhượng, mua bán, cho thuê, thừa kế hoặc thế chấp. Trong việc áp dụng luật mới năm 1993 có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng khác nhau. 2/ Luật Đất Đai 1993 có rất nhiều hạn chế cản trở việc thực hiện các quyền trên. Trước tiên, chính phủ không ban hành bất kỳ sắc lệnh nào giải thích việc áp dụng các quyền này. Thứ 2, luật quy định diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm tối đa mà mỗi hộ miền Nam được phép sử dụng là ba mẫu hectare – ha) còn ở ngoài Bắc là hai mẫu. Đối với đất trồng cây lâu năm, giới hạn tương ứng là 10 mẫu đất đồng bằng và 30 mẫu đất đồi núi. Thứ 3, thời gian sử dụng đất trồng cây hàng năm là 10-15 năm và gia hạn thêm. Thứ 4, cấm chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng các loại cây khác. Thứ 5, việc chuyển nhượng đất lâu dài bị hạn chế bởi các trường hợp cụ thể đi ra khỏi vùng, không có khả năng sử dụng mảnh đất riêng) và đòi hỏi phải có giấy phép của chính quyền địa phương. Thứ 6, không cho phép cho thuê hay cho thuê mướn đối với đất trồng cây hàng năm hoặc đất nuôi trồng thủy sản quá ba năm, trừ khi có giấy phép của chính quyền. Thứ 7, việc mua bán trao đổi đất đều phải nộp thuế. Thuế suất áp dụng là 50% giá trị đất nếu là đất trồng lúa của một hộ gia đình sang tên cho một hộ gia đình khác và để trồng các loại cây khác. Thuế suất là 30% trong trường hợp đất xây dựng cơ sở công nghệ.
Luật Đất Đai 1993 đã được tu chính lại hai lần vào năm 1998 và 2001. Tu chính 1998 cho phép khoảng 100,000 mẫu đất nông nghiệp được dùng cho mục tiêu khác mỗi năm. 3/ Tình trạng đất đai ngày càng rắc rối với số đơn khiếu nại và kiện cáo ngày càng gia tăng. Mỗi năm riêng Viện Giám Sát Nhân Dân nhận được 5,000-7,000 khiếu nại. Tính đến cuối năm 2003 đã có khoảng 120,000 tranh chấp liên quan đến đất đai. 4/ Những biến loạn lớn ở Cao Nguyên Trung Phần đã xẩy ra vào 2001 và 2004 chỉ vài tháng trước khi Luật Đất Đai 2003 bắt đầu có hiệu lực một phần liên quan đến việc xâm chiếm đất đai của đồng bào thiểu số.
Trong một số trường hợp, cuộc tranh chấp về đất đai trở nên sôi nổi khiến dân chúng trở thành hung bạo. Vào cuối năm 1998, dân chúng thuộc làng Thổ Hà thuộc tỉnh Bắc Giang đã dùng liềm, giáo mác, gậy, cuốc, và dao dựa tấn công mãnh liệt và làm bị thương một số viên chức chính quyền khi họ đến viếng thăm một địa điểm được thu hồi từ nông dân để xây sân gôn trong một dự án hợp tác với Daewoo Group của Đại Hàn. Trước đó thỉnh thoảng cũng đã xẩy ra những cuộc xô sát có tính cách bạo lực như vậy. Dân chúng liên hệ chấp nhận đất của họ bị thu hồi nhưng họ đòi hỏi bồi thường hợp lý. 5/
Vào cuối năm 2002 trước khi CSVN họp đại hội, hàng trăm nông dân đã đụng độ với công an tại quận Hoài Đức ở miền bắc của tỉnh Hà Tây, chỉ cách Hà Nội 20 km. Khi nhân viên công lực hợp lực với công nhân dùng võ lực buộc khoảng 190 người thuộc 38 gia đình phải dời khỏi một vùng bị giải tỏa để xây khu công nghiệp, một cuộc xô sát đã xẩy ra. Một số viên chức nhà nước đã bị thương, một chiếc xe hơi bị đập phá. Hai công an và một viên chức bị dân chúng bắt giữ. Tại đại hội đảng, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh có nhắc nhở các đảng viên rằng những xáo trộn xã hội sẽ gây ra những bất ổn, mặc dù ông không đề cập rõ ràng đến sự kiện ở Hà Tây. Ông phê bình rằng cuộc cải tổ hành chánh tiến hành chậm chạp, tội ác và đồi trụy lan rộng, và ông cũng nhận thấy tình trạng tham nhũng của một số đảng viên và viên chức chính quyền. 6/
Luật Đất Đai 2003
Luật mới này thay thế Luật Đất Đai 1993, những tu chính và bổ túc 1998 và 2001 cũng như những sắc lệnh và nghị định liên hệ và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004.
Luật 2003 tái xác nhận rằng đất đai không thuộc quyền sở hữu tư nhân mà là của toàn dân do nhà nước quản lý. Nhà nước bao gồm Quốc Hội, Chính Phủ, và Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh và huyện. Luật Đất Đai 2003 có những điểm chính sau đây được giải thích rõ hơn so với luật cũ:
1. Đất được chia ra làm 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi-nông nghiệp, và dất bỏ hoang Trước đây đất được phân làm 6 loại: đất nông trại, đất rừng, đất nông thôn, đất thành thị, đất dùng cho mục đích đặc biệt, và đất hoang). Trong mỗi loại đất lại chia ra nhiều thứ khác nhau tùy theo mục tiêu sử dụng như đất dành cho khu công nghệ, đất dùng cho khu kỹ thuật cao, đất dùng cho khu kinh tế, đất dành xây công sở, v.v.
2. Một điều khoản trong Luật Đất Đai 2003 ấn định về giá đất, hủy bỏ bao cấp, đấu thầu đất, khảo giá bao gồm quyền sử dụng đất, thu hồi đất chậm trễ sử dụng, v.v.
3. Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, chỉ định, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, thế chấp, bảo đảm, và góp vốn đối với quyền sử dụng đất.
4. Một số điều khoản nằm trong Luật Đất Đai 2003 quy định quyền lợi và bổn phận của người Việt hải ngoại, các tổ chức và người ngoại quốc đối với việc sử dụng đất tại Việt-Nam. Các công ty tư nhân nội địa được phép cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê mướn lại quyền sử dụng đất dài hạn của mình với sự chấp thuận của cơ quan chính quyền đã cấp quyền sử dụng dất đai cho các công ty tư nhân này và thời hạn cho thuê không được quá hơn thời hạn đã ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai. 7/
Luật Đất Đai 2003 được coi như là một bộ luật tỉ mỉ nhất từ trước đến nay bao gồm 6 chương và 146 điều. Tuy nhiên sau hơn một năm áp dụng Luật Đất Đai 2003 đã để lộ ra một số thiếu sót. Theo Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường, cơ quan chính phụ trách thanh tra việc thi hành luật đất đai, những khiếu nại của dân chúng là hợp lý và có những lý do khác nhau như số tiền bồi thường quá thấp, xin chứng chỉ khai phá đất khó khăn, v.v. Mặt khác, các toán thanh tra của Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường báo cáo một than phiền và khiếu nại khác của dân chúng như nhân viên quản lý đất đai thiếu khả năng, trình độ hiểu biết luật kém, một số nhiệm vụ của các cơ quan địa phương trùng hợp nhau, việc cấp phát chứng chỉ sử dụng đất chậm trễ v.v. Ngoài ra việc thi hành luật đất đai rất chậm, đặc biệt đối với những dự án xây cất, kế hoạch sử dụng đất lớn. Trong khi đó việc thu hồi những đất bỏ hoang tiến hành chậm.
Luật Đất Đai 2003 vẫn giữ nguyên hạn chế diện tích dành cho mỗi hộ nông dân như Luật Đất Đai 1993. Điều này có nghĩa là hai mẫu ở miền Bắc và ba mẫu ở miền Nam dành cho cây hàng năm, 10 mẫu đất đồng bằng và 30 mẫu đất đồi núi dành cho cây lâu năm. Nhưng trên thực tế có dân được giao cho sử dụng tới 40 mẫu đất như ở Long An. Ông Võ Quan Huy ở huyện Đức Hòa tích tụ được tới 550 mẫu vì nhờ người đứng tên giùm. 8/
Một điểm quan trọng hơn cả là luật đất đai 2003 vẫn không thừa nhận quyền sở hữu của người dân. CSVN giải thích rằng “Đất đai là kết quả của một quá trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc chứ không của riêng ai. Tách khỏi những điều kiện của nhà nước, của cộng đồng, thì không một cá nhân nào có thể khai phá và giữ gìn bất cứ mảnh đất nào để rồi sau đó nói nó hoàn toàn là của mình. Có chăng, ở đây họ chỉ có công khai phá và sử dụng nó.” 9/ Tuy nhiên nguyên nhân sâu sa vẫn là tham vọng độc quyền không thay đổi từ xưa đến nay của CSVN về cả hai mặt chính trị và kinh tế. Với cùng một tư duy thiển cận và phản quốc hại dân này, hơn 10 năm qua CSVN vẫn không dứt khoát cải tổ các xí nghiệp quốc doanh mặc dù đa số những công ty này thua lỗ, phung phí tài nguyên quốc gia, và cũng là nơi nuôi dưỡng bè phái, tham nhũng. Điển hình là trường hợp Tập Đoàn Công Nghiệp Tàu Thủy Việt Nam Vinashin.
Chính vì có những thiếu sót nghiêm trọng sau nhiều lần sửa đổi, Luật Đất Đai 2003 vẫn không làm giảm được sự bất mãn và ngăn chặn được những cuộc khiếu nại tập thể. Vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở Hà Nội là nơi hàng trăm dân khiếu kiện ở các nơi đổ về tập trung hàng ngày để mong Văn Phòng Tiếp Dân của nhà nước giải quyết nỗi oan ức mất nhà mất đất của họ. Phóng viên Diễm Hương của Đài Tiếng Nước Tôi có mặt tại Hà Nội tường thuật rằng vào cuối năm 2005, những người dân khiếu kiện đã gởi ra hải ngoại một lá thư kêu cứu có 44 người ký tên cùng với 900 gia đình ở thôn Phú Thượng, quận Tây Hồ; Hà Nội, và 560 gia Đình ở xã Lai Vũ, Hải Dương, 100 gia đình ở tỉnh Thái Bình và 200 gia đình ở tỉnh Bắc Giang. Tất cả cũng thường xuyên có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng. 10/
Trước sự kiện là ngày càng có nhiều biểu tình Ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt-Nam đã phát biểu như sau: “Chế độ dân chủ của chúng ta ngày càng loạn.” 11/ Hai năm sau nhà nước Việt Nam ban hành Nghị Định số 38/2005/NĐ-CP vào ngày 18/3/2005 với tựa đề là “Nghị Định Của Chính Phủ Quy Định Một Số Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự Công Cộng” bao gồm những luật lệ ngăn chặn những cuộc biểu tình của dân chúng vì nhiều lý do khác nhau liên quan đến nhà đất, thuế, tham nhũng, nhân quyền và tôn giáo. Thông Tư số Số: 09/2005/TT-BCA của Bộ Công An nêu rõ rằng những cuộc tập trung từ năm người trở lên đều bị cấm.
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, khoảng 376,000 mẫu trồng lúa đã bị thu hồi làm một triệu nông dân bơ vơ trong khoảng thời gian 2001-2006. Luật Đất Đai 2003 nhắm đơn giản hóa thủ tục làm các các hợp đồng lớn, nhưng cũng lại tăng tốc độ nông dân mất đất. Khoảng 70% của 31,000 đơn khiếu nại trong năm 2007 không được đền bù thỏa đáng. 12/
Chính sách quy hoạch đất đai
Quy hoạch đất đai là lấy đất bỏ hoang hay thu hồi đất do dân chúng đang sử dụng, dời dân đi nơi khác để lấy đất dùng cho các dự án có lợi ích công cộng. Mục tiêu đề ra rất hợp lý, nhưng việc thực thi chính sách này gây ra nhiều kiện tụng và tạo ra căm phẫn trong dân chúng. Hiện tượng này hầu xẩy ra ở khắp 61 tỉnh và thành phố trên toàn quốc.
Luật đất đai có nhiều kẽ hở và mù mờ, nên dễ bị lạm dụng. TS Nguyễn Thanh Giang tại Hà Nội mới đây vừa phát biểu với phóng viên của đài Radio France International RFI) rằng “cái gọi là sở hữu toàn dân là nguồn gốc gây ra nhiều tham nhũng, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, làm giảm năng suất nông nghiệp và nói chung là cản trở sự phát triển của đất nước. Thực chất sở hữu toàn dân là gì? Là sở hữu của Nhà nước. Mà sở hữu của Nhà nước là sở hữu của chính phủ. Mà sở hữu của chính phủ là của các quan chức. Cho nên có một thực tế là một giám đốc nhỏ như giám đốc một công ty chế biến cây trồng nông nghiệp đã biếu không 700 hectare đất công ở huyện Bến Cát, Bình Dương. Một ông giám đốc nhỏ như vậy mà có thể biếu 700 hectare đất, vậy thì những ông quan lớn hơn 5, 7 bậc có thể biếu không đến bao nhiêu hectare đất?” 13/
Trường hợp thông thường là dân bị lấy lại đất nhưng không được bồi thường theo giá thị trường hoặc không được đền bù gì cả vì không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất đai. Dân có những trường hợp khiếu nại nghiêm trọng mà nhà nước không giải quyết nhanh chóng. Có trường hợp kiện cáo kéo dài 15 năm rồi mà vẫn chưa kết thúc. 14/ Đất bị nhà nước thu hồi, “giải phóng mặt bằng”, rồi được phân lại thành các lô và rao bán lại với giá cao gấp nhiều lần cho những người giầu có để xây biệt thự hay các mục tiêu khác mà “chủ cũ” không đủ điều kiện thực hiện. Một nông dân ở Củ Chi, Trảng Bàng được đền bù 15 triệu đồng US$951) cho một miếng đất rông ½ mẫu. Nhưng giá thị trường gấp 10 lần tức là 150 triệu VNĐ US$9,510). Với một số tiền ít oi như thế, một nông dân không được huấn luyện để có nghề khác, vì nhà nước không có đủ ngân sách, chẳng bao lâu sẽ trở thành kẻ vô sản thuần tuý. 15/ Một số nông dân trồng rau ở Đà Lạt bị đuổi ra khỏi khu đất đang sinh sống, xin đất ở nơi khác để tiếp tục sống về nghề trồng rau, nhưng không được chấp thuận. Nhà nước tính đưa số nông dân vào ở trong chung cư. Xưa nay chỉ biết cầm cuốc, cầm sẻng, họ lo sợ vì không biết làm gì khác để sống.
Nguyên nhân của tình trạng quy hoạch hỗn loạn này là do nhà nước không có một chính sách đất đai rõ ràng, không có sự giám sát hữu hiệu và sự lạm dụng địa vị của các quan chức nhà nước ở địa phương cũng như tại trung ương. “Trên bảo dưới không nghe. Địa phương tự tung, tự tác, muốn làm gì thì làm; vượt ra ngoài vòng kiểm soát của chính phủ.” 16/ Ngoài ra một số cán bộ kiểm tra việc thi hành luật lại không hiểu rành rẽ về luật lệ đất đai. Các dự án phát triển cần quy hoạch đất đai được soạn thảo một cách thiếu minh bạch. Có những dự án quy hoạch được thiết kế giả tạo để làm tiền dân chúng.
Giải pháp
Việt Nam cần phải gia tăng diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp (hạn điền) cho mỗi hộ nông dân để họ có thể cơ giới hóa sản xuất và gia tăng năng suất. Theo ông Nguyễn Tử Cương, Ủy Viên Thường Vụ Trung Ương của Hội Nghề Cá, Việt Nam hiện có 14 triệu hộ nông dân nhưng có tới 70 triệu mảnh đất trên 10 triệu hec ta đất nông nghiệp. 17/ Như vậy mỗi mảnh đất trung bình chỉ có 1,429 thước vuông. Trong tình trạng này, phát triển nông nghiệp một cách quy mô không thể thực hiện được một khi Việt Nam muốn phát động một cuộc đổi mới thứ hai.
Quan trọng hơn nữa, thời gian sử dụng đất cần được kéo dài hơn để nông dân yên tâm làm ăn, sẵn sàng bỏ vốn cải thiện đất đai và có đủ thời gian kiếm lời và thu hồi số vốn đã đầu tư. Theo Luật Đất Đai 2003, thời hạn cho thuê đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là không quá hai mươi năm; thời hạn cho thuê đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là không quá năm mươi năm. Việc ấn định thời gian sử dụng đất đai từ 1 – 20 năm thuộc quyền sinh sát của chính quyền địa phương. Những lổ hổng của luật đất đai là những cơ hội giúp cho các quan chức dễ dàng bóc lột dân vô tội vạ một cách hợp pháp. Theo cuộc điều tra của báo Tuổi Trẻ, các xã ven biển của huyện Tiên Lãng, các hộ dân được giao đất với thời hạn khác nhau: từ 4 năm đến 15 năm. Không ai được sử dụng đất đến 20 năm. 18/
Việc cấp bách là nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho dân chúng bị trưng thu ruộng đất và nhà cửa theo giá thị trường. Luật này cần phải có hiệu lực hồi tố đối với những trường hợp trưng thu tài sản từ khi có Luật Đất Đai 1993 đến nay. Dân chúng phải được quyền khiếu nại tại địa phương cũng như tại các cấp cao hơn kể cả trung ương. Trung ương không thể phủi tay đổ lỗi hết cho địa phương. Những Biện pháp này không những vì lý do công bằng mà còn là cách để ngăn chặn nạn đầu cơ, tham nhũng, bóc lột những kẻ thân cô thế cô và giúp rút ngắn thời gian chờ đợi của các nạn nhân.
Những biện pháp trên chỉ có tính cách ngắn hạn. Để giải quyết vấn đề đất đai tận gốc, Việt Nam cần phải sửa đổi hiến pháp, trả lại quyền sở hữu đất đai cho người dân. CSVN cần phải học bài học nông trường tập thể và hợp tác xã nông nghiệp để cấp bách kết thúc chính sách “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý”. Một khi có quyền sở hữu đất đai, người dân mới có động lực và tự do để tăng gia sản xuất và phương tiện để vay vốn để phát triển. Nạn tham nhũng đất đai sẽ chấm dứt để người dân nông thôn thấp cổ bé miệng được yên ổn làm ăn.
Theo ông David Brown, một nhà ngoại ngoại giao Hoa Kỳ trước đây phục vụ lâu năm tại vùng Đông Nam Á, nay đã về hưu, nhờ sửa đổi luật đất đai sản lượng nông nghiệp của Việt Nam đã tăng hơn 100% trong khoảng thời 1993-2008 và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất cảng nông phẩm lớn nhất trên thế giới về gạo, cà phê, hạt điều, hột tiêu và hải sản… Ông Brown nhận xét thêm rằng luật đất đai hiện nay của Việt Nam là một quả bom nổ chậm. Nó sẽ nổ vào năm 2013 [khi thời hạn cho sử dụng đất 20 năm chấm dứt] – nếu không có một cuộc cải tổ căn bản thì những thảm kịch như thứ bất ngờ xẩy đến cho ông Đoàn Văn Vươn sẽ đe dọa một nửa dân số. 19/
Kết luận
Nếu Việt Nam thực hiện một cuộc đổi mới thứ hai, tạo điều kiện dễ dãi cho tư nhân làm ăn, nông dân tự do cầy cẫy, tiềm năng sẵn có sẽ giúp Việt Nam tiến mạnh hơn nữa để dân Việt có cơ hội ngửa mặt lên với thế giới, chứ không còn phải đi bán thân xác và sức lao động ở nước ngoài. Có sức mạnh kinh tế mới có thể có sức mạnh quân sự để bảo vệ giang sơn.
Kể từ ngày ban hành luật đất đai đầu tiên kể từ sau 1975 đến nay đã được 24 năm, một thời gian khá dài. Sự oan ức của dân chúng mỗi ngày một tích lũy nhiều hơn trước sự vô cảm của nhà nước. Tình trạng này đã đưa đến sự chống cự bằng võ lực mới nhất tại Tiên Lãng. Tuy nhiên đây cũng sẽ không phải là phát súng cuối cùng. CSVN xem ra chưa sẵn sàng từ bỏ độc quyền về đất đai để chấp nhận cho nó một cuộc cải tổ toàn diện nhằm giải phóng nông dân, cũng như hiện nay họ cũng chưa sẵn sàng giải phóng những xí nghiệp quốc doanh như tờ tạp chí nổi tiếng trên thế giới The Economist nhận định. 20/
Trong cuộc họp liên bộ tại văn phòng Thủ Tướng ở Hà Nội về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng vào chiều 10-02-2012, ông Nguyễn Tấn Dũng nhận định rằng cả việc giao đất và thu hồi đất đối với trường hợp của ông Đoàn Văn Vương đều không làm đúng theo pháp luật. Việc tổ chức thưc hiện cưỡng chế có nhiều sai sót và đã gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nguyên do là sự yếu kém của chính quyền huyện Tiên Lãng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện Tiên Lãng bị đình chỉ công tác. Thủ tục khởi tố việc phá nhà ông Vươn bắt đầu được tiến hành. UBND Huyện Tiên Lãng không hành động đơn phương. Tuy nhiên không một viên chức nào ở cấp tỉnh bị xử lý. Trái lại họ còn được trao cho trách nhiệm kiểm điểm toàn bộ sự việc. Nói tóm lại Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ phê phán về sự sai trái trong việc thi hành luật lệ đất đai mà không đề cập gì đến nội dung của bộ luật. Nhưng đây mới thật sự là nguồn gốc của những rắc rối làm nông dân mất ăn mất ngủ bấy lâu nay.
Đất nước vẫn sẽ tiếp tục bị kìm hãm bởi những chính sách phi lý của CSVN để không thể vươn lên trừ phi có một sự thức dậy đồng loạt của toàn dân. 21/
Chú thích:
1/ Việt Hùng, “Tình Trạng Hiện Nay Của Bà Phạm Thị Trung Thu Sau Khi Tự Thiêu,” RFA, 12-01-2006.
2/ Rita Liljestrom và các cộng sự , “Thuận lợi và khó khăn của nông thôn Việt Nam: kẻ mất người được trong công cuộc đổi mới”, Curzon Press, United Kingdom: 1998.
3/ Tran Dinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004.
4/ Financial Times Information, “Vietnam’s Legislators Call for Lower Land Prices,” October 28, 2003.
5/ Reuters, “Villagers Attack Vietnam Officials in Land Dispute,” Hanoi, Oct. 21, 1998.
6/ Reuters, “Vietnam Land Dispute Turns Violent As Party Meets,” Hanoi, Nov. 8, 2002.
7/ National Assembly, Socialist Republic of Vietnam, “Law on Land, No. 13-2003-QH11, March 31, 2004.
8/ Q. Vinh – Vân Trường, “Bất Cập Trong Luật Đất Đai,” Tuổi Trẻ, 07-02-2012.
9/ Đỗ Thúy Hường, “Tôi Tìm Hiểu Luật Đất Đai,” 25-03-2008.
10/ Diễm Hương, “Tiếng Kêu Cứu Của Người Dân Khiếu Kiện,” Đài Tiếng Nước Tôi, 14-01-2006.
11/ Deutsche Presse-Agentur, “Land Protest in Vietnam’s Capital,” Hanoi: June 26, 2003.
12/ David Brown, “Vietnam’s Contentious Land Law,” Asia Sentinel, Feb 3, 2012.
13/ Thanh Phương, “Luật Đất Đai Phải Công Nhận Quyền Sở Hữu Tư Nhân,” RFI, 10-01-2012.
14/ Tiền Phong, “Đà Nẵng: Một Vụ Khiếu Kiện 15 Năm Chưa Kết Thúc do UBNDTP Tiền Hâu Bất Nhất,” 10.10.2005.
15/ Tran Đinh Thanh Lam, “Factories Grabbing Land From Farmers,” Inter Press Service, Ho Chi Minh City: June 3, 2004.
16/ Chu Vũ, “Đất Đai: Vấn Đề Nóng Bỏng Hiện Nay ở Việt-Nam,” 16.09.2005.
17/ Nam Nguyên, “Sửa Luật Đất Đai Để Tránh Những Vụ Tiên Lãng,” RFA, 07-02-2012.
18/ Xuân Long – Đức Bình, “Tiên Lãng – Nơi Luật Đất Đai Bị Bóp Méo,” Tuổi Trẻ, 03-02-2012.
19/ David Brown, “Vietnam’s Contentious Land Law,” Asia Sentinel, Feb 3, 2012.
20/ The Economist, “Rulers Pass Up The Chance To Deal With Mounting Economic Problems,” Hanoi, Jan. 6, 2011.
21/ Bài phân tích này một phần dựa vào tài liệu “Chính Sách Đất Đai Tại Việt Nam” của cùng tác giả phổ biến ngày 29-11-2005.
N.Q.K.
Tác giả gửi BVN cả video và bài viết

Nước Mỹ từ Trump, TPP và kinh tế Việt Nam

Nước Mỹ từ Trump, TPP và kinh tế Việt Nam

bauxitevnWed 10:57 AM


Phạm Chi Lan
clip_image001
Ảnh: Tễu blog 
Cả thế giới những ngày này không ngớt xôn xao về nước Mỹ từ thời kỳ của Donald Trump và tác động đến thế giới, đến khu vực và chính nước mình sẽ ra sao. Trong khi nhiều chính sách khác của Mỹ chưa biết sẽ hình thành như thế nào, thì hôm 21/11 Tổng thống sắp nhậm chức của Mỹ đã tuyên bố sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Cho tới gần đây, Việt Nam kỳ vọng rất nhiều vào hiệp định TPP sẽ được thực hiện để tạo những cú hích trong cải cách và phát triển kinh tế của mình, cũng như trong phát triển quan hệ các mặt, đặc biệt về kinh tế, thương mại với Mỹ. 
Trước tình hình mới này, Việt Nam cần suy nghĩ nghiêm túc về các khả năng trong tương lai, và đặc biệt là về việc mình phải làm gì để thích ứng với bối cảnh kinh tế chính trị trên thế giới chắc chắn sẽ khác trước. 
Thứ nhất, về cải cách kinh tế. TPP với những chuẩn mực cao được kỳ vọng sẽ tạo động lực và áp lực cho VN trong việc cải cách mạnh thể chế kinh tế. Tuy nhiên, cải cách thể chế trước hết là yêu cầu tự thân của nền kinh tế Việt Nam. Các nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI, XII, Chiến lược phát triển của VN cho thời kỳ 2011-2020 đều coi cải cách thể chế là một trong ba đột phá chiến lược. Do vậy, có hay không có TPP thì người VN vẫn phải tự mình chủ động tiến hành công cuộc cải cách này. 
Tình trạng sụt giảm tốc độ tăng năng suất lao động, sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và những vấn đề nổi cộm trong mấy năm gần đây đều có nguồn gốc từ thể chế. Để gỡ những nút thắt tăng trưởng và tránh bị tụt hậu xa hơn, người VN biết rõ cần cải cách càng sớm, càng triệt để càng tốt. Động lực, áp lực từ bên trong đối với cải cách đang tăng cao hơn bao giờ hết. VN thấy rõ, qua những cam kết trong TPP, cần cải cách như thế nào để xây dựng một hệ thống thể chế hiện đại, nhằm khắc phục những vấn đề hiện tại và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tương lai. 
Hai là, về các nguồn lực cho phát triển. TPP được kỳ vọng sẽ bổ sung cho nền kinh tế còn tương đối nhỏ và thiếu thốn nhiều bề của VN những nguồn lực cần thiết để có thể phát triển mạnh hơn, bền vững hơn. Đó là thị trường hàng hóa và dịch vụ, là dòng vốn đầu tư, là công nghệ, kỹ năng và tri thức, là sự kết nối trong các chuỗi giá trị toàn cầu… TPP tạo nhiều thuận lợi cho việc tiếp cận các nguồn lực đó, nên không có TPP, khả năng tiếp cận các nguồn lực này, đặc biệt từ Mỹ, sẽ khó khăn hơn. VN sẽ phải điều chỉnh những dự định, chiến lược phát triển các sản phẩm của mình cho phù hợp với bối cảnh thay đổi cả về cấu trúc thị trường và điều kiện, phương thức tiếp cận các nguồn lực. 
Mặt khác, chính trong bối cảnh này, VN càng cần nhận thức sâu sắc hơn rằng, trong phát triển của mọi quốc gia, nội lực bao giờ cũng là quyết định nhất. Cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, tạo mọi thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong nước tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực của hệ thống điều hành, VN có thể khơi dậy và khai thác các nguồn lực còn dồi dào ở trong nước để phục vụ cho nhu cầu phát triển. Tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và tính bền vững. 
Hơn nữa, nguyên lý “tài nguyên là hữu hạn, sức sáng tạo là vô hạn” đúng hơn bao giờ hết trong thời đại phát triển của công nghệ, của kinh tế tri thức ngày nay. Tập trung tạo lập các nền tảng cho phát triển nguồn lực con người, nguồn lực tri thức và đổi mới sáng tạo, nguồn vốn xã hội trong nước là việc phải được ưu tiên cao. 
Ba là, về hội nhập quốc tế. TPP là quan trọng nhất, nhưng không phải là kênh hội nhập duy nhất của VN. Ngoài TPP, VN còn có FTA với EU, với Liên minh kinh tế Á-Âu, có AEC và ASEAN+6 và một số FTA khác đã ký kết hoặc đang đàm phán. Những hiệp định này bao gồm hầu như tất cả các đối tác kinh tế quan trọng nhất của VN. 
Riêng với Mỹ, VN vẫn có BTA và hiệp định “BTA +” được ký trước khi VN gia nhập WTO, làm nền tảng cho quan hệ kinh tế giữa hai bên. Những bước tiến dài và quan trọng đã đạt được trong quan hệ nhiều mặt giữa hai nước trong hơn 20 năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ cũng là vốn quý mà hai bên đã chung tay tạo lập. Và trên hết, lợi ích chung giữa hai nước, phù hợp với lợi ích phát triển của cả khu vực, là điều không ai có thể bỏ qua. 
Bối cảnh thay đổi đòi hỏi VN phải gắng sức gấp bội để nâng cao khả năng tận dụng tốt nhất các mối quan hệ này, phát huy các động lực FDI và xuất khẩu mà các mối quan hệ này mang lại cho nền kinh tế, và tăng cường nội lực để tham gia hiệu quả hơn các chuỗi giá trị toàn cầu. 
Cuối cùng, về số phận của TPP. Nhiều nước trong và ngoài TPP đang toan tính về TPP với những động cơ khác nhau. Việc Nhật thông qua TPP cho thấy Nhật sẵn sàng cùng các nước bàn bạc, điều chỉnh một số qui định cần thiết để cùng nhau thực hiện một TPP không (hoặc chưa) có Mỹ. Xét lợi ích khi tất cả các nước nếu tham gia có thể có được, điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên, mà đáng hoan nghênh chứ! 
P.C.L.
Bài đã đăng trên Vietnam Forbes tháng 12-2016
Tham khảo thêm:

Mất TPP: Triển vọng phát triển còn tốt lắm?

Lê Dung

clip_image002
Vào “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc” diễn ra tại Bắc Ninh vào tháng 11/2016, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra một nhận định và dự báo gây tranh cãi: “Mặc dù bây giờ ra đường lắm chuyện khó chịu, nghe báo chí nói rất nhiều chuyện tiêu cực hàng ngày, rất là bực mình. Tệ nạn tham nhũng, cán bộ hư hỏng có cả nhưng nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không? Triển vọng phát triển còn tốt lắm, sắp tới thực hiện một loạt hiệp định kinh tế tự do thế hệ mới nữa thì chúng ta còn có điều kiện phát triển đi lên nữa”. 
Phát ngôn trên toát lộ sau sự kiện bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ và ngay sau đó Tổng thống đắc cử Donald Trump tuyên bố sẽ gạt TPP ngay ngày làm việc đầu tiên của ông, còn Quốc hội Hoa Kỳ tuyên bố sẽ không có cuộc bỏ phiếu nào cho TPP trong năm 2016 này. 
Nhiều quốc gia thất vọng, mà đặc biệt là Việt Nam – nước đã bỏ công sức chạy theo đàm phán TPP từ năm 2010 cho đến nay. Thậm chí vào năm trước, Tổng bí thư Trọng còn muốn TPP đến mức ông chấp nhận cam kết với Hoa Kỳ rằng, Việt Nam sẽ từng bước công nhận định chế công đoàn độc lập – điều mà giới lãnh đạo và công an CSVN vẫn luôn nêu cao cảnh giác từ trước đến nay. 
Một khi hy vọng TPP đột ngột lụi tàn, bắt đầu xuất hiện những lý lẽ tự an ủi theo cách muôn thuở của giới lãnh đạo CSVN, và được hệ thống tuyên truyền một chiều loan tải: TPP mà không có Việt Nam sẽ không có ý nghĩa gì, Việt Nam sẽ tự phát triển bằng nội lực của mình, Việt Nam vẫn còn đến 17 hiệp định thương mại song phương (FTA) với các nước… 
Và gần đây nhất là “Triển vọng phát triển còn tốt lắm” của Tổng bí thư Trọng. 
Có thể cảm nhận một nỗi thất vọng siêu hình và sâu xa của ông Trọng cùng giới quan chức dưới trướng ông trước sự việc TPP gần như tan vỡ. 
Theo tính toán của một số bộ ngành kinh tế Việt Nam như Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, nếu vào dược TPP thì GDP của Việt Nam sẽ tăng đến 25% cho đến năm 2030. Như vậy nếu quả thực không có TPP thì nền kinh tế Việt Nam sẽ mất đúng con số 25% GDP ấy, tương đương khoảng 50 tỷ USD tính theo giá trị GDP năm 2015. 
Và người ta cũng không hiểu niềm lạc quan của ông Trọng dựa trên cơ sở nào về điều mà ông gọi là “hiệp định kinh tế tự do thế hệ mới”, khi hầu hết các hiệp định thương mại này còn khá lâu mới phát huy tác dụng. Còn ngay trước mắt, “thế hệ mới” sau đại hội 12 đang phải đối mặt với ít nhất 25 tỷ USD nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, ít nhất 98% GDP của nợ công. Cùng một nền ngân sách đã eo hẹp đến mức mà trong năm 2016 này, ngay cả công an cũng trở nên lười biếng để “canh theo” giới bất đồng chính kiến như vẫn thường phô diễn vào những năm trước. 
Trong khi đó, “thời điểm Minsky” – hạn thanh toán các món nợ đáo hạn – đối với Việt Nam đã bùng nổ từ năm 2014. Chỉ riêng năm 2015, Việt Nam phải trả nợ nước ngoài 20 tỷ USD, còn năm 2016 là ít nhất 12 tỷ USD. Năm 2017 cũng vào khoảng 16-17 tỷ USD, và những năm sau đều thế… 
Hoàn toàn không có nguồn lực mới, không hiểu Việt Nam sẽ lấy đâu ra “triển vọng phát triển còn tốt lắm”? 
L.D.
(SBTN) 
Nguồn: VNTB gửi BVN

Kỷ nguyên Fidel Castro kết thúc có tác động đến giới lãnh đạo VN?

Kỷ nguyên Fidel Castro kết thúc có tác động đến giới lãnh đạo VN?

bauxitevnWed 7:04 AM


Phạm Chí Dũng / VOA
Fidel Castro còn bị coi là người bảo thủ hơn cả Nguyễn Phú Trọng”. Sự so sánh của anh làm cho người trong nước giật mình thon thót đấy anh Phạm Chí Dũng. Không những khập khễnh mà có vẻ như còn bất kính nữa. Anh có đọc Trang Tử không? Trang Tử từng nói đến tầm mắt của con chim bằng nơi biển lớn và kẽ mắt ti hí của con chim cưu và con ve sầu nơi hồ chằm. Tất nhiên ông Fidel là một người bảo thủ, cả thế giới này chứ không phải một mình ai thấy như vậy. Không những bảo thủ mà với chế độ độc tài sắt máu ông ta thiết lập ở Cuba, ông ta còn trói chặt dân chúng Cuba trong nghèo khổ đến gần 60 năm, nghĩ đến ai cũng phải rùng mình. Nhưng ông ta cũng đã làm nên một cuộc cách mạng dân tộc đáng kính nể năm 1959 lật đổ ách độc tài Batista, dựng lên một nước Cuba độc lập ngay sát nách nước Mỹ. Còn ông Trọng? Chỉ một việc ông này trải chiếu cho con sói Tập Cận Bình bước chân vào phòng họp Diên Hồng của ngôi nhà Quốc hội, há cái mõm đỏ lòm để thuyết giảng về “tình hữu nghị giữa hai nước Trung-việt” cũng đủ thấy ông ta khác với ông Fidel như thế nào rồi. 
Có lẽ cái tài duy nhất của cụ Tổng nhà ta là tài ve sầu, thế thôi – tài đến mức Tổng thống Brazil cũng phải kính sợ. Còn như dựng nước, giữ nước thì thế hệ trước cụ làm hết chứ cụ có phải làm gì đâu. Riêng về đổi mới kinh tế thì chắc chắn nếu ông Fidel là bảo thủ hẳn cụ còn xứng đáng là “cha thằng bảo thủ” nữa kia. Anh chẳng thấy vào thời còn đánh nhau giữa Nam và Bắc, có đội quân cầu đường Cuba sang giúp Việt Nam, họ làm những con đường cao tốc ở Sơn Tây đến nay còn tốt nguyên đấy sao? 
Nhưng nói là nói thế, chúng tôi rất tán thành với anh, Fidel ra đi đã làm cho dân chúng Châu Mỹ Latinh nhẹ hết cả người, biết rằng con ngoáo ộp chủ nghĩa CS chết chóc thế là vĩnh viễn xuống mồ, không bao giờ trở lại đe dọa nhân dân Mỹ Latinh được nữa. Vậy thì cái chết của ông chúa tể Cuba để lại điều mong mỏi gì cho Việt Nam? Chắc không phải là để Việt Nam gánh thêm nhiệm vụ thức canh đế quốc Mỹ suốt đêm ngày có phải không anh? Không. Quan trọng là cái chết ấy bỗng nhiên gieo vào dân ta một tia hy vọng mơ hồ. Biết đâu sau Fidel sẽ là... Tập Cận Bình, là Putin, hai gã độc tài còn làm thế giới mất ăn mất ngủ. Phải, cái gì mà không có thể trở thành sự thực nhãn tiền được nhỉ? Biết đâu đấy. 
Bauxite Việt Nam

clip_image001
Chủ tịch nước Trần Đại Quang (giữa) cùng phu nhân thăm ông Fidel Castro ở Havana, Cuba, ngày 15/11/2016. Ảnh: AP 
Biểu tượng – không biểu tượng
Khác rất nhiều với sự hiếm hoi của vai trò cá nhân chính trị ở Việt Nam, trong nhiều năm qua Fidel Castro là một biểu tượng ở Cuba, kể cả sau khi ông từ bỏ mọi chức vụ vào năm 2006. 
Gần như ngược lại với Cuba, sau khi Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969, giới lãnh đạo Việt Nam hầu như không còn biểu tượng chính trị. Nhân vật duy nhất mà khi qua đời đã khiến hàng vạn người dân tự nguyện đi viếng và rơi nước mắt là ông Võ Nguyên Giáp. Nhưng thật trớ trêu, ông Giáp đã bị ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tước hết quyền bính từ nhiều năm trước khi ông chết. 
Không chỉ bởi mối quan hệ anh em “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” như lời của Fidel Castro trong quá khứ, mà mối tương tác “Cuba và Việt Nam thay nhau thức canh hòa bình thế giới” vẫn còn kéo dài đến ngày nay. 
Có lẽ không phải vô cớ mà hơn nửa năm sau khi bất ngờ diễn ra kết quả bình thường hóa Cuba - Mỹ vào cuối năm 2015, và tiếp đó là chuyến công du lịch sử đến Cuba của Tổng thống Obama vào tháng 3/2016, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là ông Nguyễn Phú Trọng – một nhân vật bị xem là cực kỳ bảo thủ – cũng đã làm một cử chỉ lịch sử khác khi lần đầu tiên đặt chân lên đất nước cựu thù để đàm phán với Tổng thống Obama về TPP và Công đoàn độc lập. 
Trì trệ không đáng có
Các nhân vật lịch sử, dù có huyền thoại đến thế nào, vẫn chỉ có tính giai đoạn trong lịch sử. Fidel Castro không phải là ngoại lệ. 
Fidel Castro còn bị coi là người bảo thủ hơn cả Nguyễn Phú Trọng. Bất chấp ông là biểu tượng chính trị và vẫn khiến nhiều người dân thương tiếc, quá trình cải cách lẽ ra phải có của Cuba đã bị trì trệ một cách kinh khủng. 
Điều đáng nói là sự trì trệ không đáng có như thế lẽ ra phải được cải thiện ngay cả trong thời gian Cuba còn bị Mỹ cấm vận. Không thể đổ hết nguyên nhân cho hoàn cảnh khách quan để không cần cải cách. 
Cuba đã có thể bắt đầu cải cách kinh tế ngay vào năm 2008 là năm Obama nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ đầu tiên, trong khi Fidel Castro đã từ bỏ quyền lực 2 năm trước đó. Nhưng thời kỳ 7 năm (2008 - 2015) dễ chơi của Obama đã là một sự phí hoài đối với Đảng Cộng sản Cuba. 
Lẽ ra, bình thường hóa Cuba - Mỹ đã phải được thực hiện ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của Obama. 
Nhưng đó là chuyện quá khứ. 
Còn bây giờ thì sao? 
‘Thành quả kinh tế’
Một số chuyên gia phân tích chính trị quốc tế cho biết với việc cha đẻ của Cách mạng Cuba Fidel Castro qua đời hôm 25/11/2016, Cuba đã lật qua một trang sử mới, bởi vì lần đầu tiên Chủ tịch Raul Castro thật sự nắm quyền một mình. Theo tiết lộ của Chủ tịch Quốc hội Cuba Ricardo Alarcón vào cuối năm 2011, kể từ khi được chỉ định làm chủ tịch Cuba năm 2006, ông Raul Castro vẫn tham khảo ý kiến của người anh trước khi ra những quyết định quan trọng. 
Theo nhận định của ông Michael Shifter, Chủ tịch trung tâm Inter-American Dialogue, nói với hãng tin AFP, sau cái chết của Fidel Castro, tình hình kinh tế và chính trị của Cuba sẽ cởi mở hơn. Nó sẽ trút đi một gánh nặng cho ông Raul Castro. Kể từ nay ông không còn sợ nói trái ý người anh nữa. 
Chuyên gia về Cuba thuộc đại học Texas Arturo Lopez Levy thì không tin vào ảnh hưởng của ông Raul Castro, người đã tuyên bố là sẽ rút lui vào năm 2018. Ông Levy dự đoán, sau cái chết của Fidel Castro, việc mở cửa cho kinh tế thị trường và bãi bỏ những trói buộc của những quy định cộng sản sẽ được thúc đẩy. Không còn sức hấp dẫn của Fidel Castro nữa, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Cuba sẽ chỉ còn dựa trên thành quả kinh tế. 
Lại một điểm chung, và có thể là điểm chung quyết định của cả hai trường hợp Cuba và Việt Nam: “thành quả kinh tế” cũng là yếu tố duy nhất còn giúp kéo dài sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam. 
Ai sẽ cải cách thể chế ở Việt Nam?
Gần như chắc chắn trong thời gian tới, Raul Castro sẽ tiến hành một số cải cách nào đó về kinh tế ở Cuba. Ở vào tuổi 85 và còn 2 năm trước khi từ bỏ quyền lực vào năm 2018, hình ảnh không chỉ là “Hòn đảo tự do” mà còn khấm khá về dân sinh hẳn là ấn tượng cuối đời mà Raul muốn để lại. 
Chỉ cần tân Tổng thống Trump, hoặc một ai đó có thể thay thế Trump trong năm 2017 như dự đoán của Giáo sư Mỹ Allan Lichtman – người đã dự đoán đúng gần như toàn bộ kết quả bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ từ năm 1984 đến cuộc bầu cử năm 2016 – không chủ trương chính sách đối đầu của Mỹ với Cuba, quá trình cải cách kinh tế theo hướng gần hơn với kinh tế thị trường ở Cuba sẽ bắt đầu. 
Cuba lúc này có thể đang ở vào thời điểm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ vào năm 1995. Nhưng nếu cải cách kinh tế, Cuba lại ở vào bối cảnh mở cửa kinh tế của Việt Nam bắt đầu từ năm 1990. Tuy nhiên, truyền thống và nhịp độ cải cách hay làm cách mạng ở những quốc gia Mỹ Latinh như Cuba thường diễn ra nhanh hơn tại những nước châu Á như Việt Nam và Trung Quốc. 
Công cuộc cải cách ở Cuba lại có thể sẽ khiến giới lãnh đạo Việt Nam có thêm “quyết tâm chính trị” để không chỉ tiếp tục phải cải cách kinh tế theo hướng thị trường, mà còn phải cải cách cả thể chế, bao gồm cả những định chế pháp luật về nhân quyền, cho dù họ không còn buộc phải làm theo những điều kiện của TPP vì hiệp định này vẫn chưa đâu vào đâu. 
Fidel Castro qua đời cũng là điểm chấm dứt một kỷ nguyên thống trị của ý thức hệ bảo thủ ở phía Tây bán cầu. Chắc hẳn một bộ phận trong giới lãnh đạo Việt Nam – những người như ông Nguyễn Phú Trọng – phải có cảm giác như vừa mất đi một chỗ dựa an toàn, và có thể là chỗ dựa cuối cùng, về hệ tư tưởng một chiều chỉ đóng không mở. 
Lại có một dấu hiệu từa tựa như “điềm báo”: một tuần trước khi Fidel Castro qua đời, ông đã tiếp nhân vật số 2 của Việt Nam – Trần Đại Quang. Từ sau Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cho tới nay, ông Quang vẫn giữ im lặng trong thế tiến thoái lưỡng nan về đối ngoại và cả nội trị của đảng này. 
Trong khi đó, tình thế đang trở nên “bùng nổ”: nếu không tự cải cách kinh tế và thể chế chính trị trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế đang đến rất gần cùng phản kháng xã hội sôi trào, tuổi thọ còn lại của một Đảng Cộng sản Việt Nam “chính danh” sẽ chỉ tính từng năm một. 
P.C.D.
VNTB gửi BVN

Phản ứng về Quốc tang cho Chủ tịch Fidel Castro tại Việt Nam

Phản ứng về Quốc tang cho Chủ tịch Fidel Castro tại Việt Nam

bauxitevnWed 6:58 AM


Mặc Lâm, biên tập viên RFA 
Lãng quên
Đám cỗ đi trước, lội nước theo sau. 
Trong khi em gái ông Fidel Castro còn không về quê dự đám tang ông này. Người dân Cuba ở Mỹ thì vui mừng trong ngày ông ấy mất. Putin cũng từ chối không sang dự lễ viếng của nhà độc tài lãnh đạo tới 50 năm khiến đất nước này chìm sâu trong nghèo đói và lạc hậu. 
Chúng ta không thể thay đổi thái độ của đám đông, nhưng từ đó chúng ta thấy được điều cần thấy ở họ. 
Đến giờ chắc ngoài nền tảng y tế (tuy nhiên chính sách dành cho Bác sỹ lại quá thấp), những điếu Cigar và cụm Mía ngọt lịm đường ra thì chúng ta khó lòng có thể tìm thấy điều gì đáng để ngợi ca ở quốc gia khốn khổ này. 
Tưởng nhớ và tiếc thương, không ở giữa đám tang, không phải ở ướp hình hài, cũng không ở việc dựng tượng đài giữa đồng, mà là trong lòng người với những gì tốt đẹp còn đọng lại, cho con người, cho Tổ quốc thân yêu. Đó mới là điều vĩnh viễn. 
Nếu không, tất cả chỉ là những thứ phô bày đáng để chôn vùi và lãng quên (1). 

clip_image001
Ảnh chụp bên ngoài Tòa Đại sứ Cuba tại Hà Nội hôm 28/11/2016. 
Dư luận xã hội đang tranh luận về việc Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa có quyết định để tang Chủ tịch Fidel Castro của Cuba với hình thức Quốc tang. 
Chúng tôi có đồng minh? 
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không có điều khoản nào quy định tổ chức một Quốc tang cho bất cứ ai. Tuy nhiên theo một nghị định của Chính phủ ban hành vào năm 2012 thì một lễ Quốc tang cho cá nhân sẽ được áp dụng trong những trường hợp như sau: thứ nhất bốn vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội dù đang tại chức hay mãn nhiệm khi chết đều được cử hành Quốc tang. Trong trường hợp đặc biệt một cán bộ cao cấp nào đó có công lao to lớn với quốc gia hay quốc tế sẽ được xét và tổ chức Quốc tang. Tuy nhiên theo luật cán bộ ban hành năm 2008 thì người này phải là công dân Việt Nam. 
Cái Đảng Việt Nam này tổ chức Quốc tang coi như là một cách nói với thế giới cũng như với người dân trong nước rằng chúng tôi có đồng minh đây! - Nguyễn Huệ Chi
Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội cho biết: 
“Trong Hiến pháp Việt Nam không có quy định gì về lễ Quốc tang còn trong nghị định của Chính phủ cũng như quy định nội bộ thì có quy định Quốc tang. Còn về trong văn bản nhà nước thì có một nghị đỉnh của Chính phủ rất cụ thể trong trường hợp đó. Cũng có một nghị quyết của Bộ chính trị, một nghị quyết của Thường vụ Quốc hội quy định về các lễ tang của Việt Nam gồm có Quốc tang, lễ tang nhà nước, lễ tang cấp cao còn cái chuyện làm lễ Quốc tang cho một người nước ngoài thì nếu 4 cơ quan đó họ hè nhau họ làm thì coi như họ quyết định rồi”.
Đối với trường hợp Chủ tịch Fidel Castro Việt Nam quyết định để tang cho ông với nghi thức Quốc tang vào ngày 04 tháng 12 năm 2016. Trong thời gian này, các cơ quan, công sở trong phạm vi cả nước và các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài treo cờ rủ, có dải băng tang như quy định, không tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí công cộng. 
Về việc này Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi nhận định: 
“Cái Đảng Việt Nam này tổ chức Quốc tang coi như là một cách nói với thế giới cũng như với người dân trong nước rằng chúng tôi có đồng minh đây! Đồng minh ở nơi xa xôi ấy và đã từng là hai nước chống Mỹ thì đồng minh ấy đối với chúng tôi rất quan trọng, nghĩa là họ vẫn muốn sống lại những ngày quá khứ chứ họ không nhìn đến tương lai gì cả”.
clip_image002
Chủ tịch Fidel Castro (phải) tiếp Nguyên Tổng bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh tại Havana, Cu Ba hôm 6/3/2004. AFP 
Chủ tịch Fidel Castro được công bố Quốc tang tại Việt Nam khiến rất nhiều người bức xúc. Câu hỏi đặt ra là ông Fidel không có công trạng cụ thể nào đối với đất nước nhưng lại hưởng vinh dự to lớn đối với nhân dân Việt Nam là một sai lầm mang tính trình diễn. 
Trong thông cáo đặc biệt quyết định về việc này có loan đầy đủ tiểu sử của Chủ tịch Fidel Castro từ những hoạt động đầu tiên cho tới khi mất. Trong khoảng thời gian ấy ông sang thăm Việt Nam ba lần, ông vô cùng gần gũi với Đảng và nhà nước Việt Nam bằng những sự ủng hộ, lên tiếng cũng như luôn đứng về phía Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Ông là nguyên thủ đầu tiên tới thăm Việt Nam sau khi Quảng Trị được giải phóng đầu tiên vào năm 1973. 
Bản thông cáo cũng ghi nhận trên phương diện quốc tế, Fidel Castro là nhà hoạt động Nhà nước và Lãnh đạo xuất sắc trong Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, có đóng góp to lớn và tích cực cho Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. 
Không thể nâng lên thành hàng Quốc tang?
Nhìn tổng quát nội dung bản thông cáo dân chúng không tìm ra được một việc làm cụ thể nào của Chủ tịch Fidel đối với cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam ngoài các cử chỉ đầy tính ngoại giao giống như các nước cộng sản với nhau. 
Những quan hệ được gọi là đặc biệt dù sao cũng không thể nâng lên thành hàng Quốc tang, vốn dành riêng cho người có công với Tổ quốc. 
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi phân tích việc Hà Nội tổ chức Quốc tang cho Fidel như sau: 
Bây giờ làm Quốc tang cũng là cách bày tỏ sự tương liên đối với người bạn xưa, tức là tưởng niệm quá khứ. Tức là họ nhìn về quá khứ, còn nếu nhìn về tương lai thì mọi chuyện đều vô nghĩa rồi... - GS Nguyễn Huệ Chi
“Fidel Castro thực lòng khâm phục Việt Nam bởi vì ông ấy là biểu tượng cho một đội quân đã lật đổ một chế độ độc tài nhưng mà lại dựng lên một chế độ độc tài khác. Có lẽ trên phương diện nào đó còn kinh khủng hơn chế độ độc tài cũ vì độc tài cũ chỉ là một cá nhân còn độc tài này là cả một đảng. Đứng về phương diện ấy ông Fidel Castro không phải là người để đất nước này làm Quốc tang mà chính Đảng Cộng sản Việt Nam làm Quốc [đảng] tang cho một ông thủ lĩnh Đảng Cộng sản Cuba, như thế đúng hơn. Fidel Castro chỉ vì ý thức hệ mà quy phục Việt Nam, còn ông Việt Nam thì thấy có một ông từ xa xôi quy phục mình thì đồng bệnh tương liên cho nên quy phục lại!
Bây giờ làm Quốc tang cũng là cách bày tỏ sự tương liên đối với người bạn xưa, tức là tưởng niệm quá khứ. Tức là họ nhìn về quá khứ, còn nếu nhìn về tương lai thì mọi chuyện đều vô nghĩa rồi, bởi vì chúng ta đang phải đi theo quy luật [chung của thế giới] là con dường dân chủ tự do”.
Người dân tự hỏi, nếu những quan hệ mang tính rất đặc biệt cho một người bạn cùng ý thức hệ được áp dụng vào Trung Quốc thì biết bao nhiêu cán bộ cao cấp của họ sẽ đương nhiên được hưởng vinh dự này vì trong chiến tranh Trung Quốc đã bỏ rất nhiều của cải lẫn xương máu để Việt Nam chống Mỹ. 
Người dân Việt Nam theo dõi cái chết của Fidel Castro với những góc nhìn khác nhau. Nếu hàng trăm người xếp hàng trước Tòa đại sứ Cuba tại Hà Nội để khóc lóc, tỏ bày sự thương tiếc thì cũng có hàng ngàn người khác bày tỏ sự hả hê của mình trên hệ thống mạng xã hội. Sự mâu thuẫn ấy đã làm cho Quốc tang của Fidel tại Việt Nam nếu có sẽ đào thêm hố sâu chia rẽ vì ngăn cách. 
Từ khi Việt Nam thống nhất, Hà Nội đã nhiều lần giúp cho Cuba thoát khỏi khó khăn về lương thực bằng hàng ngàn tấn gạo viện trợ, đây cũng đủ trả mối thân tình mà Fidel dành cho Việt Nam. 
Nếu vì mục đích trả lễ cho cá nhân ông Fidel Castro thì Quốc hội Việt Nam đã có bà Nguyễn Thị Kim Ngân, trong tư cách Chủ tịch đã dẫn phái đoàn sang Cuba vào ngày 28 tháng 11 để dự lễ tang đã trả đủ lễ đối với một nước cộng sản anh em nằm bên kia bán cầu có cùng ý thức hệ cũng như giữ vững lập trường tiến lên Chủ nghĩa xã hội như Việt Nam đang theo đuổi. 
Cùng lúc với cái chết của Fidel, báo chí Việt Nam loan tải Tư lệnh hải quân Trung Quốc là tướng Ngô Thắng Lợi hôm 25 tháng 11 đã tới tham dự lễ tưởng niệm 18 tử sỹ Trung Quốc trong trận đánh vào tháng 1 năm 1974 với hải quân Việt Nam Cộng hòa để chiếm Hoàng Sa. Nếu ngay lúc này Việt Nam làm Quốc tang cho 74 người lính đã đổ máu cho Tổ quốc ấy thì ý nghĩa biết bao nhiêu thay vì đem Fidel Castro vào vòng tranh cãi. 
M.L.
Đọc thêm
Thiên hạ ai người khóc bác Phi?
Phạm Đoan Trang
Việc Đảng Cộng sản ép toàn dân phải quốc tang Fidel Castro làm cho bao nhiêu người vốn không định nói gì về sự kiện này, bây giờ khó chịu quá lại phải nói, ví dụ như mình. 
Mình có học chút ít tiếng Tây Ban Nha, chơi tây ban cầm, và cũng từng quan tâm đến Cuba cũng như mối quan hệ quốc tế vô sản Việt - Cu. Ai học tiếng Tây Ban Nha thì đều biết Fidel Castro là nhà hùng biện nổi tiếng, và cách ông ấy phát âm chữ “r” thì tuyệt vời, maravilloso. 
Ai quan tâm đến quan hệ Việt Nam - Cuba thì đều biết trong thời gian chiến tranh (kể cả chiến tranh lạnh), đảng và nhà nước Cuba đã là người bạn tốt của đảng và nhà nước Việt Nam. Fidel Castro từng nói nhiều câu nổi tiếng, đại loại như “vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình”, “cần tạo ra hai, ba và nhiều Việt Nam hơn nữa” (Ở đây, Việt Nam được hiểu là Bắc Việt). Cuba xây đường sá, bệnh viện, trường học cho Việt Nam, cử chuyên gia y tế sang Việt Nam chữa bệnh cho dân. Thời bao cấp, lúc dân Việt Nam đói vàng mắt thì Cuba tặng đường mía. Đấy là chưa kể đến đội ngũ hàng trăm sinh viên Việt Nam được đảng và nhà nước cho du học Cuba, sau này trở về đều thành cán bộ, nói theo cách của tuyên giáo là đều nắm giữ những cương vị quan trọng để tiếp tục cống hiến cho đất nước. 
Thiết tưởng Cuba thương Việt Nam đến không lời nào tả xiết, chẳng có nước nào trên thế giới này thương Việt Nam làm vậy, chứ đến như hai ông anh vĩ đại Liên Xô và Trung Quốc rồi cũng bỏ rơi Việt Nam hết (Riêng anh hai Trung Quốc thì sau khi đánh Việt Nam, dạy cho thằng em một bài học, đã trở thành cố vấn, sư phụ, bạn vàng bốn tốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính sách ngoại giao của đảng ta quả thật là khủng khiếp). 
Nói chung, để kể về mối quan hệ thắm tình hữu nghị Việt - Cu hay nói đúng hơn là quan hệ giữa hai đảng và nhà nước anh em thì mình kể hay hơn các dư luận viên nhiều. Vậy nên, không cần nhắc mình những câu "sống phải có ơn nghĩa", "nghĩa tử nghĩa tận"... 
Nhưng chẳng có gì biện minh được cho việc làm lố bịch của Đảng Cộng sản ngày hôm nay. 
- Thời chiến tranh, một nửa đất nước không phải là bạn của Cuba và không nhận được gì từ Cuba. 
- Saddam Hussen cũng từng nói những lời có cánh về Việt Nam đó, sao lúc y chết, đảng không tổ chức viếng? 
- Trong thời đại ngày nay, bày trò khóc thương một nhà độc tài (bất chấp luật pháp và lòng dân) là cách làm tốt nhất để thể hiện cho dân chúng và cộng đồng quốc tế thấy mình lạc hậu và lạc lõng như thế nào. 
- Ngay cả thời chiến tranh và thời kỳ bao cấp hậu chiến, việc Việt Nam thân với Cuba cũng chỉ cho người ta cảm giác đó là một đám nước nghèo và kém văn minh tự co cụm lại, lủi thủi chơi với nhau. Có cái gì đó vừa đáng thương, vừa đáng buồn, vừa đáng giận. 
Một lần nữa phải nhắc lại: Chính sách ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam quả thật là khủng khiếp. 
Còn ai nói Fidel Castro không phải nhà độc tài, thì hãy nhìn xem ông ấy ngồi ghế bao nhiêu năm? Vâng, “Người” đã là Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba từ 1959 đến 2008. Suốt nửa thế kỷ không có một cuộc bầu cử nào, “đảo tươi một dải” của các bạn đấy! 
Cũng xin nói thêm, chuyện nền y tế của Cuba ưu việt, thật ra giống một huyền thoại hơn, các bạn ạ. Đừng quên là khi xảy ra động đất ở Armenia năm 1988, khi tham gia cứu trợ, các bác sĩ Việt Nam đã làm cho bạn bè quốc tế phải ngạc nhiên về trình độ (thao tác thủ công) của mình. 
P.Đ.T.

Cái chết của TPP và tương lai nghiệp đoàn độc lập Việt Nam

Cái chết của TPP và tương lai nghiệp đoàn độc lập Việt Nam

bauxitevnWed 6:52 AM


Kính Hòa, phóng viên RFA 
clip_image001
Biểu tình phản đối Hiệp định Kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP bên ngoài tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ ở Washington DC hôm 7/9/2016. 

Không còn sức ép từ bên ngoài
Vào năm 2014, khi bắt đầu có nhiều hy vọng về sự hình thành Hiệp ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là TPP) sẽ góp phần thúc đẩy công cuộc cải cách ở Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm, làm việc tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược châu Á Thái Bình Dương cho chúng tôi biết: 
Ở Việt Nam có nhiều người muốn cải cách, muốn thay đổi, thì họ hy vọng rất nhiều vào TPP để dùng áp lực từ bên ngoài để buộc Việt Nam phải thay đổi, phải cải cách thể chế”. 
Trong những cải cách thể chế, có việc cho phép thành lập các nghiệp đoàn độc lập của công nhân. 
Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ mới đắc cử Donald Trump tuyên bố rằng trong những này đầu làm việc của ông ở Nhà Trắng, ông sẽ rút Hoa Kỳ ra khỏi TPP, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, một nhà nghiên cứu kinh tế hiện sống ở Hà nội cho phóng viên Anh Vũ của đài RFA biết: 
Tôi tin chắc VN vẫn tiến hành tiến trình cải cách, song các hạng mục sẽ chậm hơn. Thí dụ như việc phát triển Công đoàn Độc lập, nếu không còn TPP thì tôi không rõ VN còn thực hiện điều đó hay không và tiến trình thực hiện sẽ diễn ra như thế nào?”
Ông Nguyễn Thiện Nhân, một người có nhiều hiểu biết về hoạt động đình công của công nhân khu công nghiệp Bình Dương gần Sài Gòn cho biết những quan sát của ông trong thời gian gần đây: 
Liên đoàn lao động Việt tự do vẫn phát triển xây dựng qua nhiều hình thức, trong nhiều điều kiện khó khăn. Bây giờ không có TPP thì Lao động Việt vẫn tiếp tục đi theo con đường đó - Ông Nguyễn Đình Hùng 
“Những công nhân tiên phong tổ chức biểu tình, đình công diễn ra hồi 2014, 2015 hiện bị chính quyền theo dõi và gây áp lực với công ty. Một phần trong số họ bị cho thôi việc, một phần bị chuyển qua bộ phận khác. Do đó sự ảnh hưởng của họ đối với phong trào bị giảm xuống và gây nỗi sợ hãi cho những công nhân còn lại. Vì vậy phong trào biểu tình và đình công của công nhân tạm thời lắng xuống trong một thời gian”.
Trong suốt thời gian hai năm qua, sau những cuộc biểu tình lớn của công nhân trong cả nước, người ta thường thấy báo chí nhà nước loan đi ý kiến của nhiều quan chức, nhấn mạnh đến hoạt động thực chất của công đoàn là phải bảo vệ quyền lợi của tầng lớp công nhân, thậm chí còn phê phán công đoàn của nhà nước đã không tổ chức được những cuộc biểu tình nào để đòi quyền lợi cho người lao động. 
Nhận xét về những lời phát biểu này ông Nguyễn Thiện Nhân nói: 
Họ phát biểu trong tư thế là TPP sẽ được thông qua, nghiệp đoàn độc lập sẽ được hình thành. Họ chuẩn bị điều kiện cho ra đời công đoàn độc lập theo ý họ, và công đoàn của nhà nước cũng có phần cạnh tranh trong đó. Từ trước tới nay công đoàn nhà nước chưa bao giờ tổ chức đình công, nhưng mà họ có chuẩn bị tư thế để công đoàn nhà nước tổ chức đình công cạnh tranh với công đoàn độc lập”. 
Nghiệp đoàn độc lập không cần TPP
Ông Nhân cũng nói ông nghĩ rằng dù không có TPP, không có những điều kiện thuận lợi để công đoàn phát triển nhưng điều đó không có nghĩa là hoàn toàn vô vọng đối với sự hình thành của các tổ chức công đoàn độc lập trong tương lai, vì sẽ có những thỏa thuận mới, và những thỏa thuận đó sẽ bắt buộc Việt Nam phải cho ra đòi công đoàn độc lập. 
clip_image002
Tài xế hãng taxi Sao Sài Gòn tại Hà Nội đình công hôm 31/7/2008. AFP photo 
Đồng tình với ý kiến này, ông Nguyễn Đình Hùng, hiện là Chủ tịch Liên đoàn lao động Việt tự do, một tổ chức đấu tranh cho quyền lợi của công nhân trên toàn thế giới cho chúng tôi biết từ Sydney, Australia, rằng không có TPP thì chính quyền Hà nội có thể làm chậm trễ việc thành lập công đoàn độc lập trong nước, nhưng: 
Dù có TPP hay không thì Việt Nam vẫn mở cửa ra thị trường thế giới thì Việt Nam vẫn chịu sự kiểm soát của chính phủ các quốc gia tư bản cũng như là nghiệp đoàn quốc tế, mà Việt Nam là thành viên”. 
Ông Hùng cho biết thêm là cách đây 10 năm, dù không được nhà nước Việt Nam cho phép, các tổ chức công đoàn do công nhân thành lập cũng đã được thành lập: 
Lúc đó chưa có TPP, và những người thành viên của Ủy ban bảo vệ người lao động, và bây giờ phát triển trở thành Liên đoàn lao động Việt tự do, vẫn tiếp tục phát triển và xây dựng nghiệp đoàn độc lập ở trong nước. Đó là con đường tất yếu phải đi. Trong 10 năm qua không có TPP. Từ đó đến nay Liên đoàn lao động Việt tự do vẫn phát triển xây dựng qua nhiều hình thức, trong nhiều điều kiện khó khăn. Bây giờ không có TPP thì Lao động Việt vẫn tiếp tục đi theo con đường đó”. 
Trở lại với Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm và câu chuyện trao đổi với chúng tôi về TPP cách đây hai năm, ông cho rằng TPP là một cuộc đổi chác giữa các chính phủ, và chính phủ nào cũng cố gắng giữ những quyền lợi của mình: 
TPP không phải là một liều thuốc thần để giúp Việt Nam cải cách - Ông Vũ Hồng Lâm 
Hai bên họ sẽ đổi chác thì Việt Nam vì lợi ích gọi là ý thức hệ của họ rất là lớn, cho nên họ sẽ không nhượng bộ những vấn đề như là quyền lợi của người lao động, những vấn đề như là doanh nghiệp nhà nước”. 
Ông Lâm cũng nhắc lại thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhiều người cũng hy vọng là việc làm thành viên của WTO sẽ thúc đẩy Việt Nam cải cách, nhưng theo ông thì dù có những cải cách nhỏ nhưng những việc đáng phải cải cách thì lại không diễn ra. Ông cho rằng TPP cũng không phải là một liều thuốc thần để thúc đẩy Việt Nam cải cách. 
Ông Nguyễn Đình Hùng thì kể ra một kinh nghiệm tại Miến Điện khi nghiệp đoàn bí mật được thành lập ở đây dưới chế độ độc tài mà không có một sức ép nào giống như TPP. Tổ chức nghiệp đoàn này đã công khai hoạt động khi Miến Điện thay đổi sang chế độ dân sự, dân chủ hơn. Khi liên hệ với tình hình Việt Nam, ông Hùng cho rằng sự phát triển của các tổ chức dân sự độc lập đang diễn ra cũng góp phần thúc đẩy sự hình thành hoạt động của các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. 
K.H.

Vì sao Quốc hội Việt Nam hoãn thông qua Luật về Hội?

Vì sao Quốc hội Việt Nam hoãn thông qua Luật về Hội?

bauxitevnTue 6:52 AM


Phạm Chí Dũng
Không ngoài dự đoán của phần lớn giới quan sát độc lập, kỳ họp cuối năm 2016 của Quốc hội Việt Nam đã “nhất trí cao” với đảng cầm quyền về việc hoãn thông qua Luật về Hội. 
Buổi sáng Washington và buổi chiều Việt Nam
Luật về Hội đã suýt được thông qua ngay đầu kỳ họp Quốc hội vào cuối Tháng Mười. Tuy nhiên, nội dung khi đó của Luật về Hội lại mang tính “siết” về nhiều vấn đề, khác hẳn với bản dự thảo Tháng Mười, đến mức một Luật sư nhân quyền là ông Trần Vũ Hải phải cảnh báo Dự Luật về Hội này là “luật phản động”. 
Vào buổi sáng ngày 25 Tháng Mười, các đại biểu Quốc hội đã “tập trung thảo luận” theo hướng vẫn chấp nhận quan điểm của bản giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “siết hội” mà không có bất kỳ đại biểu hoặc đề xuất nào trong nghị trường nằm ngoài “đường ray”.

Chỉ ngay sau cuộc gặp giữa ông Đinh Thế Huynh và ông John Kerry tại Washington, DC vào buổi sáng ngày 25 Tháng Mười, đến cuối giờ chiều ngày hôm đó (giờ Việt Nam) Dự luật về Hội mới bất ngờ được ông Lê Vĩnh Tân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cơ quan về danh nghĩa là “chủ trì soạn thảo Dự luật về Hội, nêu trước Quốc hội: “Thừa nhận việc chuẩn bị dự án luật chưa được chu đáo, và vì còn nhiều ý kiến khác nhau về dự thảo luật nên cần có thời gian chuẩn bị tiếp để trình Quốc hội tại kỳ họp sau, tạo sự đồng thuận cao mới thông qua luật”. 
Tuy cho đến nay đảng không xác nhận bất cứ mối liên hệ nào giữa cuộc gặp đột biến Đinh Thế Huynh - John Kerry với hiện tượng Quốc hội Việt Nam đột ngột hoãn Luật về Hội, nhưng phần lớn giới quan sát và phân tích cho rằng hẳn một trong những mục đích lớn nhất của chuyến đi của ông Đinh Thế Huynh là nhằm đề nghị phía Mỹ tái cam kết về việc “sẽ cho Việt Nam vào TPP”. Mà điều kiện tiên quyết để vào TPP là Việt Nam phải chấp nhận định chế Công đoàn Độc lập và Luật về Hội – tất nhiên là một luật mở chứ không phải đóng đối với các hội đoàn dân sự, đặc biệt là 30 tổ chức xã hội dân sự độc lập đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. 
Rất có thể tác động trực tiếp từ cuộc gặp trên của ông Đinh Thế Huynh đã giúp Quốc hội triển khai thực thi việc hoãn Luật về Hội để chờ kết quả của TPP tại Quốc hội Hoa Kỳ, đồng thời vẫn chuẩn bị sẵn việc thông qua TPP tại Quốc hội Việt Nam nếu nỗ lực trình TPP ra Quốc hội Hoa Kỳ của Tổng thống Barack Obama đạt thành công. 
Vì sao “bỏ ngỏ” Luật về Hội?
Đến gần trung tuần Tháng Mười Một, Tổng thống Obama bất ngờ phải nhận một trong số ít thất bại trong nhiệm kỳ của ông, nhưng lại là thất bại nặng nề: Thượng Viện Mỹ tuyên bố thẳng thừng sẽ không họp hành gì về TPP trong năm 2016. Điều đó cũng có nghĩa là TPP, nếu còn đôi chút tương lai để được xem xét và thông qua, sẽ phải bị treo lại thêm ít nhất một năm nữa. 
Ngay lập tức, tác động tiêu cực trên đã khiến chẳng cần đảng phải chỉ đạo, Quốc hội Việt Nam cũng mau mắn “hoãn bỏ phiếu thông qua TPP”. Cũng chẳng còn ai nhắc đến Công đoàn Độc lập nữa. 
Nhưng riêng Luật về Hội thì lại là một câu chuyện tương đối khác biệt. 
Luật về Hội không chỉ là một trong những yêu cầu cải cách luật pháp về nhân quyền mà Mỹ và phương Tây đặt ra đối với giới lãnh đạo Việt Nam liên quan mật thiết đến TPP, mà còn tương tác mật thiết với hiện tồn Việt Nam đang là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Từ đầu năm 2014 đến nay, nhiều quốc gia thành viên của Hội đồng này liên tục khuyến cáo chính thể Việt Nam phải công nhận xã hội dân sự và các tổ chức dân sự độc lập nằm trong mô hình tiến bộ này. 
Dù sao, việc Quốc hội quyết định không thông qua Luật về Hội tại kỳ họp cuối năm 2016 cũng là một dấu hiệu cho thấy chủ trương “Việt Nam luôn quan tâm và bảo đảm quyền con người” chưa đến nỗi quá tệ: nếu thông qua với nội dung siết bức, Quốc hội sẽ phải tiếp nhận vô số phản ứng từ cộng đồng dân chủ và có thiện cảm với dân chủ trong nước, đồng thời gây bất lợi không nhỏ về kinh tế, ngoại giao và cả chính trị cho chế độ một đảng Việt Nam trong quan hệ với các nước phương Tây. 
Khả năng rõ nhất là chính thể một đảng ở Việt Nam không còn dám áp đặt luật pháp độc trị theo cách đã từng thông qua Hiến pháp 2013 khi vẫn giữ nguyên những nội dung cực kỳ bảo thủ như “kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo” và “sở hữu đất đai toàn dân”, khiến từ năm 2014 đến nay lượng tín dụng cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế cho Việt Nam đã giảm hẳn, còn số viện trợ không hoàn lại từ các chính phủ Bắc Âu đối với Việt Nam cũng xuống dốc thê thảm. Khả năng rõ nhất là chế độ độc trị ở Việt Nam muốn kéo lùi Dự luật về Hội để ngó chừng “tình hình mới”. 
Nếu tạm loại bỏ yếu tố rất quan trọng xúc tác cho Luật về Hội là TPP, Luật về Hội vẫn là một điều kiện để phương Tây và các ngân hàng chủ nợ của Việt Nam đặt điều kiện về vấn đề cho Việt Nam vay tín dụng, thậm chí có thể liên quan cả chủ đề sự hiện diện của hải quân Mỹ ở Biển Đông. 
Hẳn giới lãnh đạo Việt Nam không bỏ qua những điều kiện “còn nước còn tát” liên quan mật thiết đến nền kinh tế và chân đứng chế độ Việt Nam như thế. 
“Nhóm muốn thay đổi”
Cần chú ý một biểu hiện khá lạ lùng là cùng thời điểm công bố bản dự thảo “phản động” Luật về Hội vào Tháng Mười Một, trên Tạp chí Tuyên giáo (thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương) đã xuất hiện một bản tin có tựa đề “Dự thảo Luật về hội còn những điểm ‘sai lệch’ cần tháo gỡ”, ghi nhận những ý kiến “đề nghị Quốc hội cân nhắc, dành thêm thời gian để hoàn thiện dự thảo luật và có thể để lùi lại việc thông qua vào kỳ họp sau trong năm 2017”. 
Trước kỳ họp Quốc hội cuối năm 2016, cũng xuất hiện hiện tượng một số quan chức trung và cả cao cấp từ cơ quan kinh tế, tuyên giáo, dân vận tỉnh thành đến văn phòng Chính phủ và văn phòng Chủ tịch nước tỏ ý đồng thuận với việc ban hành một luật về hội mang tính “mở”, thay vì “siết”. Trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt không chỉ với “vách đá tài chính” mà cả với cơn sóng ngầm phản kháng dữ dội từ dân chúng về quá nhiều vấn nạn và quốc nạn xã hội, rất có thể đang xuất hiện ngày càng nhiều quan chức bộc lộ quan điểm “cải cách” theo hướng mị dân hoặc nói văn hoa hơn là chủ nghĩa dân túy. 
Dù chưa có một thống kê chính thức nào, nhưng rất nhiều tin tức ngoài lề cho biết nhiều quan chức trung cấp và cả cao cấp của Việt Nam có tài sản cố định, tài khoản ngân hàng và thân nhân ở Mỹ và các nước phương Tây. Cho tới nay, bằng chứng sống động nhất là đã có đến $19 tỷ được chuyển từ Việt Nam ra nước ngoài vào năm 2015. Rất nhiều nghi vấn đã được nêu ra nhắm vào giới quan chức Việt Nam đã và đang âm thầm kiếm tìm “bến bờ mới”. 
Khuynh hướng “ngả về phương Tây” trong giới quan chức Việt Nam cũng bởi thế hầu như tương đồng với giới quan chức ăn đậm ở Trung Quốc. Kìm nén quyền dân về tự do lập hội đã quá lâu, nhưng nay thời thế đã quá đổi khác. Trong bối cảnh các tổ chức dân sự độc lập ra đời ở Việt Nam đã thỏa mãn phần lớn tên gọi quyền dân của xã hội, Luật về Hội nếu có ban hành cũng chẳng khiến phát sinh thêm nhiều tổ chức xã hội dân sự. Trong khi đó, luật này lại luôn có thể được xem như một “món quà” trong con mắt phương Tây nếu chính thể Việt Nam buộc phải nới pháp luật về nhân quyền để đổi lấy những lợi ích về kinh tế, chính trị và cả quân sự. 
Có thể đặt cho nhóm quan chức đang ngày càng mở rộng về số lượng “ngả về phương Tây” là “nhóm muốn thay đổi”, tuy vẫn chưa nhận ra một dấu hiệu nào thật sự mang tính cải cách từ họ. Nhưng chính nhóm này và ảnh hưởng của họ tại các địa phương và khối cơ quan trung ương đang và sẽ dần có tác động, khiến chính sách bảo thủ trì trệ và áp chế dân chúng của đảng cầm quyền không còn nhiều cơ hội nảy nòi như trong quá khứ. 
Trong khi đó, tình hình thế giới trong năm 2017 như giới lãnh đạo Việt Nam dự đoán là “vẫn còn rất phức tạp”. Thật ra, với một Tổng thống mới của Hoa Kỳ là Donald Trump, tương lai sẽ không biết đâu mà lường. Có thể tệ hơn, nhưng cũng không loại trừ xác suất có thể tốt lên. Bằng chứng rõ nhất cho đến nay là phần lớn kết quả thăm dò về ông Trump trước khi bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra đều sai lầm, tương tự phần lớn dự doán về thị trường chứng khoán Mỹ sẽ sụt mạnh nếu ông Trump đắc cử Tổng thống cũng sai nốt. 
Những biến chuyển kỳ lạ vẫn có thể xảy ra ở Mỹ trong thời gian tới. Trong đó, không loại trừ có cả vài động thái chính trị, ngoại giao, quân sự liên quan đến Việt Nam và do đó có thể khiến thay đổi dẫn đến “bứt phá” cho chính sách đối ngoại ngả nghiêng của giới lãnh đạo Hà Nội. 
P.C.D.
VNTB gửi BVN

'VN hãy nhìn xa và hoàn toàn độc lập'

'VN hãy nhìn xa và hoàn toàn độc lập'

bauxitevnTue 6:51 AM


Quốc Phương BBC Tiếng Việt 
clip_image002
Tiến sỹ Vũ Quang Việt nói về đối sách của Việt Nam ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Biển Đông trong tình hình có thay đổi vị thế, chiến lược từ Mỹ và Trung Quốc. 
Trước khả năng Trung Quốc có thể gia tăng vị thế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm Biển Đông và Đông Nam Á, trong bối cảnh hậu bầu cử Mỹ 2016, Việt Nam cần có chính sách 'độc lập hoàn toàn', và phải có tính toán sách lược 'rất dài hạn', theo một học giả và nhà quan sát bang giao quốc tế, khu vực từ Hoa Kỳ.

Trả lời câu hỏi của BBC Việt ngữ về việc Việt Nam cần đối phó thế nào nếu Mỹ thay đổi, thuyên giảm vai trò, ảnh hưởng ở khu vực, trong lúc Trung Quốc nhân đó nâng cao hơn nữa vị thế vốn đã rất cạnh tranh hiện nay về an ninh, quân sự, hôm 26/11, từ New York, nhà nghiên cứu Việt Nam học, cựu chuyên viên cao cấp về thống kê của Liên Hợp Quốc, Tiến sỹ Vũ Quang Việt nói: 
"Việt Nam bây giờ ở thế là muốn giữ cân bằng, trong suốt thời gian dài muốn có cân bằng, muốn có vị thế đối với Mỹ và để cân bằng như thế, TPP (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) là một hình thức Việt Nam 'giả vờ' là mình dân chủ hơn, 'giả vờ' này nọ kia khác, để được đưa vào TPP. 
Trump... mà không thay đổi chính sách (như lúc tranh cử), thì cũng chỉ được một thời gian và lúc khác nước Mỹ sẽ khác. Do đó VN không thể tính đường ngắn hạn trước mặt được mà phải là đường rất dài, mà đường rất dài thì bắt buộc phải độc lập - Tiến sỹ Vũ Quang Việt 
"Nhưng TPP giờ không có nữa, thì Việt Nam chỉ có một con đường thôi, đó là hoàn toàn phải độc lập, cũng phải xây dựng quân sự để có cơ sở bảo vệ chính mình. 
"Ít nhất là Trung Quốc mà động đến Việt Nam, thì không giống như là Philippines, là họ sẽ phải trả giá khá đắt chứ không phải là nhỏ, vì con đường hàng hải là con đường lớn. 
"Nếu Việt Nam đi vào vấn đề cuộc chiến tranh gây ra, tấn công thường xuyên tàu bè của Trung Quốc đi lại, tàu buôn, thì Trung Quốc phải trả giá không phải là nhỏ, dĩ nhiên là Việt Nam sẽ trả giá cực lớn, và điều đó Việt Nam không bao giờ muốn, tôi nghĩ không ai muốn chuyện đó. Do đó, Việt Nam bắt buộc phải ở thế độc lập, phải tự bảo vệ mình. 
"Còn nếu đi theo Trung Quốc, trong tương lai, ông (Donald) Trump, tôi nghĩ, một Tổng thống như vậy mà không thay đổi chính sách (như lúc tuyên bố khi tranh cử), thì cũng chỉ được một thời gian và lúc khác nước Mỹ sẽ khác. 
"Do đó Việt Nam không thể tính đường ngắn hạn trước mặt được mà phải là đường rất là dài, mà đường rất dài thì bắt buộc phải độc lập". 

'Mua chuộc và sập bẫy'?

clip_image003
Mỹ có thể có những thay đổi mạnh và khác biệt lớn so với chính quyền trước về chính sách ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương dưới nhiệm kỳ của ông Donald Trump, theo giới quan sát và bình luận. 
Liên quan điều chỉnh chiến lược, chiến thuật có thể có tới đây của Trung Quốc, cường quốc đang lên ở khu vực và quốc tế, trong bối cảnh hậu bầu cử Mỹ 2016, học giả từ New York tiếp tục đưa ra ý kiến riêng mang tính dự đoán: 
"Dĩ nhiên trong thời gian sắp tới, nếu Trung Quốc khôn khéo ra, thì họ sẽ áp (lực), giống như họ xây một vài cái (công trình) ở ngoài biển, họ chiếm một vài hòn đảo, xây lên, Mỹ bản thân cũng không dám làm gì. 
"Phải tính cách khác vì đem tàu đánh nhau thì dĩ nhiên Mỹ không muốn. TPP là một trong các đối pháp của Mỹ. Hiện tại, Trung Quốc 'khôn ra', thì họ bắt đầu 'mua chuộc' (?). Họ 'mua chuộc' bằng nhiều hình thức, tức là bắt đầu ông (Rodrigo) Duterte ở Philippines, họ đã có tính chất họ 'mua chuộc' rồi, tức là họ hứa sẽ đầu tư. 
Họ để cho Philippines đánh cá ở khu vực tranh chấp, mặc dù họ vẫn nói rằng khu đó của họ, nhưng họ cho Philippines được tới đánh cá, sắp tới, nếu khôn ra, họ sẽ làm đủ mọi cách 'mua chuộc' Việt Nam như vậy - Tiến sỹ Vũ Quang Việt 
"Họ để cho Philippines đánh cá ở khu vực tranh chấp, mặc dù họ vẫn nói rằng khu đó của họ (Trung Quốc), nhưng họ cho Philippines được tới đánh cá, sắp tới, nếu khôn ra, họ sẽ làm đủ mọi cách 'mua chuộc' Việt Nam như vậy. 
"Vấn đề của Việt Nam là có rơi vào 'cái bẫy' đó hay không, đề rồi cuối cùng bị lệ thuộc, cơ bản là Việt Nam hiện tại lệ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc về mặt nhập khẩu hàng ở Trung Quốc. Nhưng nhập khẩu, thì nếu có chính sách tốt, có thể chuyển đổi nhập khẩu từ nơi khác. 
"Và chính sách tốt hơn nữa là nâng cao chất lượng, lúc bấy giờ không cần phải nhập những hàng (hóa) hay những máy móc rất tệ hại của Trung Quốc - chỉ có hại cho mình. 
"Trong trường hợp như hiện tại của Việt Nam, nếu nhìn kỹ ra, nhập khẩu máy móc và làm ăn với Trung Quốc bây giờ là thiệt, chứ không phải là lợi, Việt Nam phải suy nghĩ cái đó, dĩ nhiên phải có chính sách, nếu không chỉ nhìn trước mắt, thì họ (Việt Nam) sẽ làm ăn với Trung Quốc, miễn sao có tiền để trả cho Trung Quốc. 
"Đây là một điều mà tôi nghĩ Việt Nam cho đến bây giờ không bao giờ nhìn dài lâu cả", Tiến sỹ Vũ Quang Việt đưa ra nhận xét từ quan điểm riêng. 

Ai khác ngoài Trung Quốc?

clip_image004
Nhà báo Ngô Ngọc Văn, BBC World Service (trái), nói với Bàn tròn thứ Năm về khả năng thay đổi trong vị thế và sức mạnh của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương hậu bầu cử Mỹ 2016. 
Mới đây, trong một trao đổi với Bàn tròn thứ Năm tuần này của BBC Việt ngữ, nhà báo Ngô Ngọc Văn (Yuwen Wu), từ Thế giới vụ BBC, nguyên Biên tập viên thời sự thuộc BBC Tiếng Trung, bình luận với Tọa đàm hôm 24/11 về khả năng Trung Quốc tăng vị thế ở khu vực và Biển Đông sau khi ông Donald Trump đánh bại bà Hillary Clinton của đảng Dân chủ để trở thành Tổng thống đắc cử thứ 45 của Hoa Kỳ. 
Trả lời câu hỏi liệu với việc Tổng thống Trump chuẩn bị lên nhậm chức thay ông Barack Obama, Hoa Kỳ đang 'chuyển giao' vị thế cường quốc 'dẫn đầu' khu vực sang tay Trung Quốc hay không, bà Ngô Ngọc Văn nói: 
"Tất nhiên chúng ta phải xem Chính phủ mới của Mỹ của Donald Trump sẽ làm gì, các chính sách chính xác liên quan tới châu Á ra sao. 
"Nhưng có một điều thú vị khi chúng ta xem một phát biểu gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra tại cuộc họp thượng đỉnh của APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương) ở Peru hồi tuần trước. 
Và vào thời điểm này, nếu Hoa Kỳ rút lui về mặt nào đó khỏi châu Á, hay là rút đi sự can dự của họ khỏi nơi này, thì ai khác sẽ lấp vào chỗ trống đó ngoài Trung Quốc đây? - Nhà báo Ngô Ngọc Văn, BBC World Service 
"Ông đã tỏ ra hài hước khi nói có một số loại cây bắt rễ ở một chỗ rồi sau đó lan ra, Trung Quốc luôn luôn có gốc rễ ở châu Á - Thái Bình Dương. Nhận xét đó đưa ra với các đại biểu dường như để nhắc nhở rằng Trung Quốc luôn luôn là một quốc gia châu Á - Thái Bình Dương. 
"Những người khác có thể đến và đi, nhưng Trung Quốc luôn cắm rễ ở đó. 
"Do đó, thông điệp đó có nghĩa là ở đâu mà sức mạnh của châu Á là một sức mạnh lớn, chúng tôi (Trung Quốc) sẽ thực thi sự kiểm soát chính đáng của chúng tôi và theo cách thức của chúng tôi, đưa khu vực hợp lại với nhau trong sáng kiến của chúng tôi. 
"Tôi đã nói về chiến lược "Một vành đai - Một con đường", sáng kiến đó đang hình thành, nó sẽ liên kết không chỉ các quốc gia ở vùng châu Á - Thái Bình Dương, mà còn với cả các nước ở Trung Á và cả các quốc gia châu Âu nữa. 
"Như thế Trung Quốc có tham vọng và với sức mạnh kinh tế và quân sự, tôi nghĩ Trung Quốc đang cảm thấy tự tin hơn rất nhiều để có một vai trò mạnh mẽ, chủ động hơn. 
"Và vào thời điểm này, nếu Hoa Kỳ rút lui về mặt nào đó khỏi châu Á, hay là rút đi sự can dự của họ khỏi nơi này, thì ai khác sẽ lấp vào chỗ trống đó ngoài Trung Quốc đây?", nhà báo Ngô Ngọc Văn nói với Bàn tròn thứ Năm của BBC Việt ngữ hôm 24/11. 
Q.P.