Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

Chỉ nhõn Người Việt mình với nhau

 

Chỉ nhõn Người Việt mình với nhau

Lưu Trọng Văn

clip_image002clip_image004

Hôm nay gã muốn không viết gì. 

Giờ này Sài Gòn nắng và oi. Không biết 30.4.1975, Sài Gòn có ai than vãn sao nắng và oi không, bởi lúc đó có lẽ chẳng ai đủ bình tâm để cảm nhận về nắng hay mưa nữa. Nghĩ vậy, lật lại một cảnh trong vở kịch “Họ chưa biết tên nhau” gã viết từ 1982 nhưng mới hoàn chỉnh lại trong bộ bốn vở kịch “Thời tôi sống” hay “Đất nưỡc tôi”. 

Đọc và không khỏi nhói ngực. Vậy đó, chả thể chạy trốn được, vì chưa bao giờ tan biến nỗi buồn Đất nước phân ly bủa vây mình.

Gã xin gửi bạn đọc lớp kịch lần đầu tiên gã công bố này.

“Đầu toa vang lên tiếng đàn. Ông mù xuất hiện, mắt đeo kính đen, vai đeo ampli và chiếc loa nhỏ, khoác cây đàn ghi ta. 

Ông mù hát: Tím đỏ đồi sim ôi tím đỏ đồi sim…(giọng thiểu não, u uất).

Ông thuốc lào lấy thuốc lào châm đóm định rít. Ông đeo kính ngăn ông thuốc lào, thổi tắt đóm, tay chỉ về phía ông mù. Ông thuốc lào bật lại lửa, châm thuốc cố tình rít thật to, thật lâu. Bài hát dứt. Mọi người bỏ tiền vào chiếc mũ của ông mù.

Ông mù: Cảm ơn quý vị.

Bà chít khăn: Hát bản nào vui vui ấy ông ạ.

Ông mù: Chỉ nhạc đỏ cách mạng mới vui vui thôi. 

“Đi ta đi giải phóng miền Nam” hay “Chào em cô gái Lam Hồng…”, nhưng tôi lại không biết hát nhạc đỏ.

Ông đeo kính: “Cho một người nằm xuống”.

Ông thuốc lào: Về liệt sĩ hy sinh à? Được lắm.

Ông mù đàn và hát:

“Bạn bè còn đó anh biết không anh

Bạn bè rồi xa, người tình rồi quên…”

Ông thuốc lào: Sao kì vậy? Các liệt sĩ hy sinh không ai quên họ sất. Không bao giờ quên. Các nghĩa trang luôn có dòng chữ “Tổ quốc ghi ơn”.

Ông đeo kính: Bài này Trịnh Công Sơn viết cho một phi công của Việt Nam Cộng hòa bị chết trận đó ông.

Ông thuốc lào: Thế thì đâu phải liệt sĩ? Hừ! Nhạc vàng phản động à?

Lính thủy: Thỉnh thoảng nghe một chút có sao đâu. Tụi cháu ở đảo lúc buồn cũng hát “Bao anh lính khổ xa nhà”, nhạc Ngụy đấy. Chỉ huy biết, bảo, tụi mày hát nhạc đỏ hay vàng, tùy thích. Miễn là bọn Tàu Cộng chó má chiếm đảo cứ tẩn chết bỏ là được.

Ông thuốc lào: Nói vậy mà nói được à. Chết thật, mất lập trường hết mẹ nó rồi. Tôi thời chống Pháp cũng là lính trận đó. Chỉ hát “cô hái mơ” thôi mà bị kỷ luật. Nhạc vàng nó làm nhũn người ra chứ ở đó mà còn sức chiến đấu à?

Ông mù đàn mạnh hơn và hát lớn hơn như cố tình bất chấp lời nói của ông thuốc lào: “Bầu trời nào đó anh đã bay qua…”

Bà chít khăn: Các ông bảo sao? Anh phi công ấy là ai thế? Người đàng mình à?

Thơm: Bà ơi, Ngụy đấy.

Bà chít khăn: Nó đi thả bom à?

Người nằm võng thét to: Thôi!

Người nằm võng nhổm người lên nắm cổ đàn.

Uyên đột nhiên giọng thách thức: Ông cứ hát nữa đi! Tôi thích nghe.

Người nằm võng: Xin các người đừng độc ác như thế.

Lính thủy: Anh làm gì mà căng thế?

Người nằm võng: Tôi, cậu thế nào cũng được.

Bà chít khăn từ từ đứng dậy đi ra đầu toa.

Ông đeo kính: Tôi gửi ông thêm tiền. Ông cứ hát tiếp bài hát ấy cho cô gái này nghe. Cô gái ấy thích nghe. Chúng ta phải biết tôn trọng ý thích của người khác chứ!

Người nằm võng: Tôi trả cao hơn, để xin ông không hát bài đó nữa.

Ông mù: Nào, các ông quyết định đi! Để tôi còn qua toa khác.

Người nằm võng: Tôi yêu cầu ông không hát. Các người biết vì sao bà chít khăn ấy bỏ đi không? Bà ấy không muốn nghe bài hát nói về người thả bom mà có thể con trai của bà đã… Các người có biết cái ba lô…

Chàng trai: Hàng buôn lậu à?

Người nằm võng: Câm mõm! Hài cốt của con trai bà cụ ấy đấy.

Thơm: Sao anh biết?

Người nằm võng: Vì đêm qua, khi tất cả ngủ say, tôi bỗng nghe tiếng khóc. Tôi hé mắt, thấy bà cụ ôm cái ba lô thì thầm khóc, con ơi, con ơi, u sắp đưa con về nhà mình rồi.

Uyên đứng dậy đi ra đầu toa, ông mù ngưng hát. Uyên đứng bên bà chít khăn.

Bà chít khăn: Cháu cứ vào nghe bài hát cháu thích đi!

Uyên vẫn đứng lặng rồi đột nói: Bà ơi, tại sao lại phải như vậy hả bà? Con không thể hiểu được, tại sao cứ phải là như vậy ở đất nước mình? Anh trai con là phi công bị chết mất xác ở Kon Tum. Còn ba con thì…đang bị bắt cải tạo ở khu rừng phía Bắc. Con không hề ra Bắc thăm miền Bắc như bao năm con mơ ước mà con chỉ ra thăm nuôi ba con.

Bà chít khăn: Thế mẹ con đâu?

Uyên: Má con vượt biển cùng hai em con, bị… Uyên òa khóc. Tại sao cứ phải như vậy hả bà? Người miền Nam bao đời nay nói người miền Bắc cũng hiểu mà, cùng nói tiếng Việt của cha ông mình mà. Tại sao không tha thứ cho nhau?

Bà chít khăn ôm Uyên: Bà không hiểu con à. Bà không thể hiểu. Nhưng tha lỗi cho bà, bà không thể đành đoạn nghe tiếng hát về người có thể thả bom vào con trai của bà.

Vang lên tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray.

Trong toa.

Ông mù trút ngược chiếc mũ đổ những đồng tiền trên bàn, gom lại thành xấp. 

Ông thuốc lào: Cái gì thế?

Ông đeo kính: Ông ta trả lại tất cả.

Lính thủy chặn ông mù lại: Ông bạn, nhìn vết sẹo trên mắt tôi biết ông không bị mù bẩm sinh. Ông ở bên nào?

Người nằm võng: Bên nào chả được. Ông ấy không muốn nhận tiền nữa thì thôi.

Lính thủy: Nhưng đây là những đồng tiền sòng phẳng.

Ông mù: Tuy tôi mù, nhưng tôi biết rõ những ai đang có mặt ở khoang tàu này. Chúng ta là những thằng đàn ông, dù quá khứ ở bên nào không quan trọng. Quan trọng là chúng ta đang may mắn còn cùng trên một con tàu này. Quan trọng là tôi may mắn còn có giọng để hát, còn có tay để đánh đàn, còn có trái tim để biết mình cần đem tiếng hát cho ai. Hãy cho tôi xin lỗi bà cụ ấy.

Lính thủy: Sao ông trả lại tiền?

Ông mù: Tôi hát kiếm tiền, chứ không cầu ai bố thí. Ông nói đúng, chúng ta sòng phẳng. Tôi ăn xin thì đã không hát, nếu hát dở thì tôi cũng không hát. Ông nào bảo tôi hát nhạc phản động cứ việc kêu cảnh sát tống tôi vô tù. Mắt đui, trong tù hay ngoài tù khác gì nhau?

Lính thủy cầm xấp tiền dúi tay ông mù: Cầm lấy đi, ông ạ.

Ông mù: Tiền này của tôi, cầm hay không cầm là quyền của tôi. Tôi nhờ anh hãy đưa số tiền ít ỏi này cho người đàn bà đêm qua ôm cái ba lô có tro cốt con trai mình ấy.

Bà chít khăn và Uyên cùng quay lại toa. Bà chít khăn đến bên ông mù, đặt tay lên tay ông mù.

Bà chít khăn: Cảm ơn cậu. Tôi không nhận được đâu. Chắc cậu cũng có một bà mẹ…

Ông mù: Thưa bà, khi tôi từ Quảng Trị về với băng trắng quấn quanh mắt, má tôi không khóc. Má tôi bảo, từ nay ngôi nhà này có đàn ông rồi. Xin bà hãy nhận ở tôi tấm lòng của tôi đối với bà.

Bà chít khăn: Tôi hiểu lời mẹ cậu nói bởi đó cũng là mong ước của tôi, nhà có đàn ông.

Uyên thút thít khóc.

Bà chít khăn ôm Uyên: Thôi, đừng khóc cháu à. Rồi thì đàn bà chúng ta sẽ lại sinh ra đàn ông, sinh ra thật nhiều đàn ông.

Người nằm võng: Bao nhiêu đàn ông cho đủ nếu cứ đánh nhau và thù hận mãi thế này? Tôi xin lỗi anh! Anh… nghệ sĩ.

Ông mù: Má tôi nói đúng. Hãy hát những bản tình ca thôi, ai nghe cũng được, bên nào nghe cũng được, chớ con hát nhạc nói về lính bên này thì gia đình lính bên kia không muốn nghe, con hát về lính bên kia thì gia đình lính bên này động lòng. Tôi nói với má tôi, con không hát được nhạc trai gái yêu nhau má ơi, những ngày ở mặt trận những bài hát về đời lính thấm vào con, là chính con, càng không thể rời khỏi con được khi con bị mất đi đôi mắt. 

Trong bóng tối con chỉ còn nhìn ra quá khứ má à… Vậy thì đập đàn đi. Má tôi nói vậy. Nhưng tôi không thể đập đàn được vì má tôi quá già rồi, tôi lại mù chỉ còn có tiếng đàn, tiếng hát để kiếm sống… Mà đã hát thì tôi không thể hát những bài hát không phải là máu thịt của cuộc đời tôi. 

Ông mù nắm tay bà chít khăn: Xin bà hãy nhận cho tôi vui.

Bà chít khăn: Không, không con ơi. U không thể nhận được đâu.

Ông mù: Nếu những đứa trẻ sinh ra cả người đàn bà miền Bắc với người đàn bà miền Nam đều gọi “con ơi” thì làm gì phải đánh nhau thế này…

Ông đeo kính: Thế tại sao cậu không sáng tác một bài hát nói về hai tiếng “con ơi” như thế? Nó sẽ là máu thịt của cậu đấy. Nếu con người ta chỉ còn biết quá khứ là máu thịt của mình thì muôn năm thù hận vẫn mãi ngự trị, mà nỗi khổ đau vẫn là những ngôi nhà trống hoắc thiếu vắng đàn ông.

Ông thuốc lào: Mặc dù tôi khác lập trường với ông, nhưng tôi thừa nhận ông nói đúng đấy. Tôi đề xuất thế này nhá. Số tiền này chia đôi. Một nửa cậu đem về cho má cậu, một nửa thì bà nhận đi cho cậu ấy tạ tội với…

Ông đeo kính: Trên chuyến tàu này, theo tôi chả ai vô can cả. Tốt nhất quên mẹ nó quá khứ đi. Nhìn coi nào, giờ đây có thằng mắt xanh mũi lõ chó nào đâu, chỉ nhõn người Việt mình với nhau.

L.T.V.


Một ngày nhiều mây

 

Một ngày nhiều mây

Tạ Duy Anh 

Với tôi, bắt đầu từ năm 1975, ngày 30-4 luôn là một ngày đặc biệt. Tâm trạng của tôi có sự thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, cảm xúc vui mừng về cái ngày chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất, thì luôn hiện hữu trong tâm trí tôi. Nếu không nói đúng như vậy, nếu nói khác đi, tôi trở thành kẻ dối trá và cơ hội.

Sáng nay có hai chuyện đặc biệt đến với tôi: Sau khá nhiều năm, tôi lại xem bản tin thời sự buổi sáng, của VTV1. Tôi muốn kiểm chứng lời của một anh bạn: Chính quyền sẽ không chiếu cảnh “người Việt thắng người Việt nữa” và theo anh, đó sẽ là một tiến bộ. Nhắc lại kí ức đau buồn khi đất nước đã hòa bình, để làm gì? 

Nhưng hóa ra bạn tôi sai. Đúng là việc phô trương chiến thắng đã giảm rất nhiều, nhưng bệnh thèm khoe thành tích thì vẫn còn nặng.

Chuyện thứ hai là tôi nhận được bài viết của một giáo sư nổi tiếng người Việt, qua bạn văn từ Canada. Ông khiến tôi rất buồn, khi chỉ ra một cách khá chính xác rằng, cuộc chiến khiến người Việt bị chia rẽ từ trong mỗi gia đình. Tôi quan tâm đến bài viết của ông, vì tôi dành khá nhiều thời gian cho việc người Việt hòa giải với nhau. Dù là ý thức hệ thế nào, thì người Việt vẫn có một điểm để cùng hướng tới, đó là một nước Việt cần phải hùng mạnh, nếu muốn tránh được nạn Bắc thuộc lần thứ hai.

Tôi không bình luận về bài viết. Thay vào đó, tôi trích lại vài quan điểm của tôi liên quan đến ngày 30-4. Đoạn trích cuối cùng, lấy ra từ chuyên luận “Sống với Trung Quốc”, viết cách nay 10 năm, cho thấy tôi có thể là một người ảo tưởng.

Nhưng tôi sẽ tiếp tục nuôi dưỡng ảo tưởng ấy.

Một ngày đúng là nhiều mây. Nhưng hiện tượng đó đôi khi lại báo hiệu một ngày rất đẹp.

______________________ 

“Tôi đã từng nói người Việt mình thất bại quá lâu cho một cuộc hòa giải thực sự. Nay tôi vẫn bảo lưu ý kiến ấy. Nguyên nhân của nó thì nhiều, nhưng nguyên nhân cơ bản là cả hai phía đều chính trị hóa một cách cực đoan quá trình hòa giải. Cả hai phía đều chưa vượt qua những “mặc cảm” lịch sử. Đành rằng chế độ hiện nay phải chịu trách nhiệm chính cho việc hòa giải chưa thành công. Nhưng vẫn có thể trách mỗi cá nhân về chuyện này. Chúng ta tốn nhiều thời gian cho tranh cãi vô bổ, hơn là bắt tay làm những việc, dù nhỏ, nhưng có ý nghĩa đưa người Việt gần lại phía nhau. Lịch sử là thứ không thể sửa chữa. Mọi trách móc những gì thuộc về quá khứ đáng được cảm thông nhưng nếu chúng ta thực tâm lo lắng cho tương lai của người Việt - trong tiến trình phát triển chung của nhân loại- thì có thể suy nghĩ sẽ khác”.

(Trả lời Nguyễn Thị Thanh Bình)

“Một cuộc chiến tranh khiến hàng triệu người Việt bị giết chết, hàng triệu người phải tha hương (nên nhớ, không chỉ có đồng bào miền Nam tha hương vì cuộc chiến tranh) chắc chắn là một biến cố khủng khiếp của lịch sử dân tộc, có tác động đến không chỉ mỗi người trong cuộc, mà dư chấn của nó sẽ còn lan sang các thế hệ tương lai. Với khá nhiều người miền Nam, ngày 30 tháng Tư năm 1975 là một ngày đau buồn, trong khi với hầu hết người miền Bắc thời điểm ấy, đó là một ngày chấm dứt sự chết chóc. Mỗi trạng thái tình cảm đều có lý do lịch sử và bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội cụ thể của nó. Nhưng bình tâm một chút, chúng ta có thể sẽ gặp nhau ở ý nghĩ: Chiến tranh cần phải chấm dứt, đó là điều quan trọng nhất. Hãy thử giả định nếu chiến tranh không kết thúc năm 1975, thì biết bao người của cả hai phía (họ đều là người Việt), tiếp tục ngã xuống?

(Trả lời Nguyễn Thị Thanh Bình)

“Với niềm tin rằng, không kẻ thù nào chiến thắng nổi một dân tộc có tới ngót 100 triệu quyết tâm, có nhiều hơn thế lòng tự tôn và có vô số khả năng nằm ngoài mọi phán đoán của những kẻ ngoại bang, chúng tôi đưa ra kiến nghị khẩn thiết sau:

Thực hiện triệt để hoà giải dân tộc thể hiện bằng một đạo luật, trong đó nghiêm cấm tất cả những hành vi phân biệt đối xử giữa các công dân Việt Nam qua các thời kỳ và các thể chế khác nhau và hiện sinh sống trên những quốc gia khác nhau, nghiêm cấm trả thù, nghiêm cấm hành vi tuyên truyền, kích động thù hận, hành vi gợi lại nỗi đau của dân tộc. Ngày 30-4 hàng năm trở thành ngày Hoà Bình”.

(Sách SỐNG VỚI TRUNG QUỐC)

Chú thích ảnh dưới: Hãy nhìn bọn trẻ chơi đùa, bạn sẽ biết một cách chính xác mình phải làm gì và không nên làm gì. 

clip_image002

 

T.D.A.

Nguồn: Fb Lao Ta

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2023

Trung ương lấy phiếu tín nhiệm năm 2023

  Trung ương lấy phiếu tín nhiệm năm 2023.


 Cuối năm 2022 trung ương ĐCSVN thông báo xây dựng hai đề án quan trọng về nhân sự.


Đề án thứ nhất là kế hoạch tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các chức vụ do BCH trung ương bầu trình trung ương 7 khoá 13.


Đề án thứ hai là quy hoạch ban chấp hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư khoá 14 và lãnh đạo chủ chốt của đảng, nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 trình trung ương 8 khoá 13.


Như vậy việc lấy phiếu tín nhiệm ở trung ương 7 sẽ là căn cứ để quyết định nhân sự khoá 14 ở trung ương 8.


Để thể chế hoá quyết định của trung ương, quốc hội sẽ họp sau trung ương 7 và 8. Tức vào tầm tháng 10 năm 2023 khi mà trung ương 7 và 8 đã xong, quốc hội Việt Nam sẽ lấy phiếu tín nhiệm những chức vụ cho quốc hội bâù hoặc phê chuẩn.


Trung ương lấy tín nhiệm, sau đó quốc hội lấy tín nhiệm.


Cán bộ trung ương cũng là cán bộ quốc hội, hoặc người được quốc hội bầu, phê chuẩn. Kết quả của quốc hộị khó mà lệch được với kết quả trung ương. Nhưng cơ chế này cần quốc hội để làm vì, cho nên vẫn phải cần đến hình thức tín nhiệm của quốc hội.


Phiếu tín nhiệm giữa trung và quốc hội khác nhau như thế nào ?


-Kết quả về đối tượng trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư và các chức danh trong đảng chỉ công bố trong hội nghị.


-Kết quả đối tượng do Quốc Hội bầu sẽ công khai cả nước trên phương tiện thông tin đại chúng.


Về phần phiếu tín nhiệm của trung ương có những chi tiết đặc biệt hơn, ví dụ như người bỏ phiếu ghi tên mình hay không ghi tên mình cũng được. Trên phiếu có 3 ô là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp cho ông A. Người bỏ phiếu đánh dấu một ô. Ghi kèm ý kiến của mình vì sao đánh giá ông A tín nhiệm cao, vì sao đánh giá ông ấy thấp.


Khoản này nghe có vẻ dân chủ, ai ghi tên thì ghi, không ghi thì thôi. Vì số phiếu phát ra mỗi người trong hội nghị chỉ có một. Nhưng cũng không dân chủ ở chỗ là đã ghi tên thì ghi hết, không ghi thì không ghi tên hết. 


Việc ghi hay không ghi tên người bỏ phiếu và ý kiến là kẽ hở, có dấu hiệu thế lực cầm đầu đảng vẫn không dám khách quan, thẳng thắn. Phải dùng đến chiêu trò úp mở để dễ bề thao túng kết quả.


Chuyện thu phiếu về, tổng hợp kết quả cũng chẳng rõ ràng.


Quy định số phiếu phát ra, số phiếu thu về, trừ đi số phiếu không hợp lệ sẽ tính % tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệp thấp.


Thử hỏi ví dụ số phiếu tín nhiệm ông A phát ra là 100 phiếu


Thu về 100 có 10 phiếu không hợp lệ, không được tính. Vậy là còn 90 phiếu.


Ông A được 31 phiếu tín nhiệm cao. 30 phiếu tín nhiệm, 29 phiếu tín nhiệm thấp.


Vậy ông A sẽ được công bố là gì, là tín nhiệm cao chăng ?


Trường hợp trong 90 phiếu hợp lệ, ông A có 59 phiếu tín nhiệm thấp. Ông A bị đưa khỏi quy hoạch, xem xét cho giữ chức vụ thấp hơn. Tức ông A vẫn có thể giữ chức cho đến hết nhiệm kỳ hoặc bị hạ chức kém hơn.


Trường hợp trong 90 phiếu, ông A có 61 phiếu tín nhiệm thấp. Lúc ấy ông mới bị bãi nhiệm tức khắc hoặc giữ chức thấp hơn.


Trường hợp trong 90 phiếu có 44 phiếu tín nhiệm thấp, 44 phiếu tín nhiệm và 2 phiếu tín nhiệm cao. Ông A chẳng bị sao cả, vẫn được giữ chức và có khi vẫn được quy hoạch vào cán bộ chủ chốt cho nhiệm kỳ sau.


Phiếu tín nhiệm được lấy ở hai nơi. Nơi công tác và nơi sinh hoạt. Cấp trên sẽ tuỳ liệu tổng hợp kết quả.


Phần này cũng dễ bịp, phiếu ở nơi sinh hoạt là nơi nào ? Là địa phương người ấy thường trú ?


Vậy ai sẽ là người bỏ phiếu tín nhiệm, đơn vị nào tổ chức. Chả lẽ người dân ở tổ dân phố  X sẽ bỏ phiếu tín nhiệm cho ông chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra trung ương có nhà ở trong tổ dân phố mình và kết quả của số phiếu tổ dân phố bỏ này cũng quan trọng như số phiếu ở đơn vị công tác là ban chấp hành trung ương ?


Người ta là cán bộ cấp cao, công việc triền miên, có người bảo vệ nghiêm ngặt. Hàng xóm chỉ nhìn từ xa, đánh giá kiểu gì, chả lẽ nhìn thấy ông ấy cười thì bỏ phiếu cho ông ấy tín nhiệm cao. Nhìn xa thấy ông ấy không cười thì bỏ phiếu tín nhiệm thấp. Tiếp xúc như nào mà biết được, hay họp tổ dân phố ông ấy tích cực phát biểu về giữ vệ sinh khối phố, hạn chế tiếng ồn nọ kia thì sẽ được đánh giá có trách nhiệm và tín nhiệm cao?


Nói chung phần lấy tín nhiệm nơi sinh hoạt để đánh giá cán bộ chủ chốt là tào lao, nó chỉ có mục đích cần thì dùng số phiếu đó để hạ bệ hay đưa nhau lên chứ chẳng có tí cơ sở nào. Tổ dân phố chỉ biết đến công an phường chứ chả biết mặt trận hay chi bộ gì. Một anh công ạn khu phố và một anh công an trưởng phường bảo bỏ phiếu cao hay thấp thì % số dân được chọn đều nghe răm rắp.


Cả một đảng lãnh đạo đất nước cùng với một bầy nghiên cứu chính sách , luật pháp chỉ nhằm mục đích tạo ra những khe hở để hại nhau hoặc nâng đỡ nhau chứ chẳng có tí khoa học gì.


Cách lấy tín nhiệm khoa học nhất là mang từng cán bộ cần lấy phiếu tín nhiệm kia vào viện xét nghiệm y tế, pháp y.


 Cán bộ nào mà xét thấy cơ thể đã dùng những thứ quý hiếm, đắt tiền như xì gà, rượu, thuốc bổ, thịt cá ...thì cứ theo đó mà tính tín nhiệm.


Cán bộ nào dùng ít thứ như thế thì tín nhiệm cao, nhiều thì tín nhiệm thấp. Vì chỉ có bọn tham nhũng mới sài đồ quý hiếm và có tiền để thoả mãn sở thích cao cấp, đắt tiền ấy.


Bùi Thanh Hiếu 

ĐẤT NƯỚC SẼ VỀ ĐÂU?

 ĐẤT NƯỚC SẼ VỀ ĐÂU?


Tôi có khá nhiều bạn bè hiện đang sinh sống tại Úc, trước đây, khi còn làm việc, cứ ao ước đến ngày về hưu, con cái khôn lớn, có gia đình và có việc làm ổn định cả, sẽ về Việt Nam an hưởng tuổi già. Bức tranh người ta vẽ ra rất đẹp: với số tiền hưu trí tại Úc, người ta có thể dễ dàng có một cuộc sống rất phong lưu ở Việt Nam. Có thể thuê người giúp việc. Có thể đi đây đi đó. Có thể ăn hết món lạ này đến món lạ khác. Thế nhưng, đến ngày họ thực sự về hưu, sau vài chuyến thăm viếng Việt Nam, người ta lại đổi ý. Theo họ, Việt Nam chỉ là nơi để đi du lịch chứ không phải là nơi có thể sống được lâu dài. Người ta đưa ra hai lý do chính: Một là nhớ con cháu tại Úc; hai là, Việt Nam hoàn toàn không an toàn.


Tôi cũng có khá nhiều bạn bè ở hướng ngược lại: Họ sống tại Việt Nam, phần lớn đều khá thành đạt, có chức có quyền và có tiền. Họ cho con cái du học ngoại quốc. Học xong, các cháu có việc làm đàng hoàng, sau đó, bảo lãnh cho cha mẹ từ Việt Nam, sau khi về hưu, ra ngoại quốc sinh sống. Họ bỏ lại sau lưng cuộc sống rất dư dả và cũng rất vui vẻ trên quê hương để sang sống ở một quốc gia xa lạ về cả ngôn ngữ lẫn văn hoá; và vì sự xa lạ ấy, cũng khá buồn rầu. Hỏi tại sao, họ cũng nêu lên hai nguyên nhân: Một là muốn gần gũi con cháu; và hai là, ở ngoại quốc, dù buồn, vẫn an toàn hơn hẳn Việt Nam.


Bỏ qua việc sống gần con cháu, cả hai nhóm người ấy đều có nhận thức giống nhau: Việt Nam, dù là quê hương người ta rất yêu mến, không còn là một nơi an toàn để sống.


Trước hết là thiếu an toàn về chính trị. Ở bình diện cá nhân, người ta có thể bị bắt bớ hay tra tấn bất cứ lúc nào nếu muốn có một tư duy độc lập và nếu muốn thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ở bình diện quốc gia, dù nhà nước Việt Nam luôn xem sự ổn định là một trong những mục tiêu lớn nhất của họ, ai cũng biết, Việt Nam lúc nào cũng ẩn chứa đầy những nguy cơ bất ổn. Bất ổn trong nội bộ đảng với các khuynh hướng và phe phái khác nhau. Nhưng quan trọng nhất là bất ổn trong quan hệ với Trung Quốc: Không ai dám chắc những mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông sẽ không bùng nổ thành chiến tranh. Đã đành Việt Nam lúc nào cũng nhân nhượng Trung Quốc. Nhưng sự nhân nhượng nào cũng có giới hạn. Mà Trung Quốc thì rõ ràng không muốn dừng lại ở bất cứ giới hạn nào cho đến lúc hoàn toàn trở thành bá chủ trên Biển Đông.


Thứ hai là thiếu an toàn về giao thông. Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 10.000 người chết vì tai nạn xe cộ. Mười ngàn: tức mỗi ngày trung bình gần 30 nạn nhân. Đó là người chết. Con số những người bị thương tật chắc chắn sẽ nhiều hơn hẳn. Bởi vậy, ở Việt Nam, nhiều người nói, cứ mỗi lần bước ra khỏi cửa nhà là thấy phập phồng. Con đường nào cũng đầy bất trắc. Đi đúng luật và lái xe cẩn thận cũng có thể bị những chiếc xe “điên” bị mất tay lái cán chết. Ngay cả đi bộ cũng không an tâm. Mỗi lần băng qua đường là một lần đối diện với rủi ro.


Nhưng quan trọng nhất là mất an toàn thực phẩm. Báo chí đã nói rất nhiều về thực phẩm bẩn ở Việt Nam. Hầu như tất cả đều bẩn. Hầu như bất cứ loại gia súc nào cũng được cho ăn các hoá chất độc hại để tạo nạc và tăng trọng. Tệ hại hơn, người ta còn đem bán cả thịt thối rữa, sau khi tẩm ướp bằng các loại hoá chất để bay mùi và săn thịt. Ngày trước, đã có nhiều người giả thịt trâu thành thịt bò. Bây giờ, “tài” hơn, người ta còn biến cả thịt heo thành thịt bò. Thịt giả như vậy cũng được đi. Nhưng vấn đề là để làm giả như thế, người ta lại sử dụng các loại hoá chất độc hại để nhuộm màu thịt. Ăn chúng, người ta ăn cả các chất có thể gây ung thư.


Thịt đã thế, rau trái cũng thế. Cũng đầy hoá chất. Hoá chất trong phân bón và trong các loại thuốc trừ sâu. Hoá chất còn được dùng để ướp trái cây cho chúng bắt mắt hơn. Ngay cả nước dừa cũng không an toàn. Để trái dừa có màu tươi như mới, người ta lại nhúng chúng vào hoá chất. Lại hoá chất.


Trước, người ta tưởng ăn cá tôm và các loại hải sản là an toàn. Nhưng không phải. Tôm cá và hải sản nuôi trong các hồ nhân tạo cũng nhiễm đầy các chất cấm. Còn tôm cá và hải sản được đánh từ sông và biển? Từ mấy năm nay, chúng lại cũng bị nhiễm độc. Hàng trăm tấn cá bị chết, tấp trắng các bờ biển từ Hà Tĩnh vào đến Huế, kéo dài cả hơn 200 cây số. Chính quyền còn ú ớ trong việc xác định nguyên nhân cá chết nhưng có một điều chắc chắn: chúng bị nhiễm độc các loại hoá chất do con người thải ra. Thành ra tôm cá đánh bắt từ biển khơi cũng không còn an toàn nữa.


Thịt: độc. Tôm cá: độc. Rau, trái và củ: độc. Cả không khí người ta thở, đặc biệt tại hai thành phố lớn, Hà Nội và Sài Gòn, cũng nhiễm đầy chất chì và thuỷ ngân: độc. Cả nước bị nhiễm đầy chất độc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỉ lệ người Việt Nam mắc bệnh ung thư rất cao. Càng ngày càng cao.


Lâu nay, nói đến những khó khăn mà Việt Nam đang đối diện, chúng ta hay nghĩ đến các yếu tố chính trị và địa chính trị, đến vấn đề dân chủ và nhân quyền, đến chuyện các đại công ty phá sản và nợ công chồng chất. Nhưng ngay cả về phương diện xã hội, liên quan đến chuyện ăn uống và hít thở hàng ngày, Việt Nam cũng đối diện với bao nhiêu nguy hiểm.


Tôi cứ tự hỏi: Trong một khí quyển như thế, làm sao người Việt Nam có thể sống được và tương lai đất nước sẽ đi về đâu?


Nguyễn Hưng Quốc

Bà Lê Thị Dung phạm tội gì?

 

Bà Lê Thị Dung phạm tội gì?

Thái Hạo

2-5-2023

Như chúng ta đã biết, bà Lê Thị Dung bị tòa án huyện Hưng Nguyên tuyên phạt 5 năm tù giam về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ” vì “nhiều lần thanh toán trái quy định, chiếm đoạt gần 45 triệu đồng”.

Tuy nhiên, cũng như chúng ta đã biết, số tiền này được chi ra là căn cứ vào Quy chế chi tiêu nội bộ của TTGDTX Hưng Nguyên, mà Quy chế này thì lại đã được các bộ phận hữu trách của TT xây dựng và thống nhất, rồi đã được các cấp có thẩm quyền bên trên phê duyệt, kiểm soát chi.

Tiền thì rõ ràng là do phòng Tài chính, Kho bạc và Kế toán chi ra (tức “thanh toán”), chứ bà Dung đâu có chi(?). Nếu nói “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ” để “thanh toán trái quy định” thì phải là phòng Tài chính, Kho bạc và Kế Toán chứ, sao lại là bà Dung được?

Lúc này, “tội” của bà Dung, nếu có, chỉ là đã chủ trì xây dựng một Quy chế chi tiêu nội bộ không đúng quy định, chứ không phải là “thanh toán trái quy định”, vì bà đâu có thanh toán? Tức, ở đây, “tội” của bà Dung là thuộc về năng lực quản lý, chứ không phải động cơ vụ lợi để mà quy về “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ”?

Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định một tội là “tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”. Tội này cụ thể như sau: “1. Người nào được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước mà vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản, gây thất thoát, lãng phí từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Tuy nhiên, ngay cả khi bà Dung có phạm vào nội dung này (vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí) thì số tiền cũng chưa đến mức bị xử lý hình sự, tức chưa thành Tội (vì số tiền bà gây thất thoát mới chưa tới 45 triệu đồng).

Mà đó là chưa nói về sự liên đới trách nhiệm. Ở đây, nếu có sai thì là sai phạm tập thể, bao gồm TTGDTX, phòng Tài Chính, Kho bạc, chứ không phải chỉ mình bà Dung.

Bây giờ thử đặt một tình huống như sau: cũng Quy chế chi tiêu nội bộ ấy và cùng một số tiền bị thất thoát (45 triệu đồng) nhưng người được hưởng lợi không phải bà Dung mà là một cá nhân khác có tên là Nguyễn Văn A thuộc nhân sự của TTGDTX, vậy ai phải chịu trách nhiệm, và chịu trách nhiệm gì?

Rõ ràng trong tình huống này Thủ trưởng (tức bà Dung) chỉ “vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” chứ không thể là “lợi dụng chức vụ quyền hạn” được, vì tiền được chi ra căn cứ trên Quy chế chung và người chi tiền không phải bà. Còn cá nhân Nguyễn Văn A thì cũng chẳng thể bị quy là chiếm đoạt tài sản được.

Tóm lại, “tội” của bà Dung (nếu có) thì chỉ là năng lực quản lý không tốt, dẫn đến xây dựng một Quy chế chi tiêu chưa đúng quy định, khiến cho phòng tài chính và kho bạc chi sai. Trong một tình huống như thế, Nguyễn Văn A chỉ phải nộp lại tiền; thủ trưởng cơ quan (bà Dung) chỉ bị kỷ luật (vì số tiền gây thất thoát, lãng phí chưa đủ để bị xử lý hình sự); và phòng tài chính, kho bạc và kế toán phải chịu trách nhiệm chính vì chi tiền sai quy định của pháp luật.

Cho nên, mấu chốt của vụ án này là ở TỘI DANH, tội danh nào thì sẽ có mức án ấy. Việc xác định đúng tội danh sẽ quyết định việc bà Dung có tội hay không.

Cá nhân tôi cho rằng, với tất cả tính chất và bản chất của sự vụ này, bà Dung chỉ “vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”. Tuy nhiên, mức thiệt hại chưa đủ để cấu thành tội hình sự. Vì thế, bà Dung phải được trả tự do và đền bù thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần do những gì bà đã phải chịu trong suốt hơn 1 năm qua. Xử lý tất cả các cá nhân và tổ chức có liên quan trong việc chi sai lẫn việc bắt giam, xét xử và tuyên án bà. Đồng thời, mở cuộc điều tra, làm rõ động cơ phía sau bản án này.

Trên đây là quan điểm của cá nhân tôi – một người “ngoại đạo”, trình bày quan điểm với mong muốn nhận được sự chia sẻ kiến thức của các vị luật sư và bạn bè FB làm việc trong lĩnh vực tư pháp, vốn là những người am hiểu pháp luật và cũng là sự hiện diện của công lý.

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

 

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

Nguyễn Ngọc Chu

2-5-2023

1. PHƯƠNG ÁN KẾT TỘI BẤT LỢI NHẤT

Cùng một sự việc, Viện kiểm sát, hay Toà án có thể áp dụng các điều khoản khác nhau, dẫn đến những hình phạt khác nhau. Trong thực tế, việc thay đổi tội danh rất thường xẩy ra. Việc thay đổi tội danh, do bản chất của sự việc, có khi còn do chủ đích của người có quyền buộc tội.

Trong các phương án kết tội, TAND huyện Hưng Nguyên đã vận dụng những điều khoản bất lợi nhất cho cô giáo Lê Thị Dung.

Cơ sở để TAND huyện Hưng Nguyên kết tội cô giáo Lê Thị Dung là ở mục thanh toán trùng. Như cáo trạng đã viết:

“Như vậy, việc Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Hưng Nguyên thanh toán tiền phụ cấp cấp ủy cho bà Lê Thị Dung hàng tháng; thanh toán tiền công tác phí, hỗ trợ đi học là đúng quy định.

– Tuy nhiên, ngoài các khoản đã thanh toán nêu trên, bà Lê Thị Dung còn tiếp tục quy đổi các nội dung trên sang tiết dạy để thanh toán tiền thừa giờ cho cá nhân mình là thanh toán trùng (thanh toán 2 lần) cho cùng 01 nội dung… Từ việc thanh toán trùng nêu trên đã gây thiệt hại cho ngân sách của Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Hưng Nguyên số tiền 48.383.908 đồng”.

Chưa khẳng định được tính đúng đắn của cáo trạng. Còn nhiều tranh cãi. Bản thân bà Lê Thị Dung chưa đồng ý với cáo trạng. Nhưng cứ giả sử số tiền chi sai 44.700.000 đồng là đúng, thì cách xử lý đơn giản là bằng Nghị định số 63/2019/NĐ-CP. Nghị định số 63/2019/NĐ-CP, ngày 11/7/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2019), trong đó Điều 55 quy định:

“Điều 55. Hành vi lập hồ sơ, chứng từ sai chế độ quy định và hành vi lập hồ sơ, chứng từ sai so với hồ sơ, chứng từ gốc tại đơn vị nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi ký hợp đồng trước khi có kế hoạch vốn được cấp có thẩm quyền phê duyệt (trừ các công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp).

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Lập hồ sơ, chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước để chi các khoản chi không đúng tiêu chuẩn về chức danh, đối tượng sử dụng;

b) Lập hồ sơ, chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước để chi các khoản chi vượt định mức chi về số lượng, giá trị;

c) Lập hồ sơ, chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước để chi các khoản chi sai chế độ (chi không đảm bảo điều kiện, nguyên tắc của chế độ chi).

Trường hợp của bà Lê Thị Dung phù hợp với các mục a), c), khoản 2 Điều 55 “Nghị định số 63/2019/NĐ-C: “a) Lập hồ sơ, chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước để chi các khoản chi không đúng tiêu chuẩn về chức danh, đối tượng sử dụng; c) Lập hồ sơ, chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước để chi các khoản chi sai chế độ (chi không đảm bảo điều kiện, nguyên tắc của chế độ chi)”. Chiếu theo các mục a), c) khoản 2 Điều 55 “Nghị định số 63/2019/NĐ-CP” thì cô giáo Lê Thị Dung bị phạt hành chính “từ 3.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng” và phải hoàn lại số tiền 44 triệu 700 ngàn đồng.

Nhưng TAND huyện Hưng Nguyên đã quy cho bà Lê Thị Dung “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, và quy cho phạm tội nhiều lần để áp dụng khung hình phạt khoản 2 từ 5-10 năm tù giam. Đây là cách áp dụng bất lợi nhất trong tất cả các phương án kết tội bà Lê Thị Dung. Các điều khoản của “tội tham nhũng” hay “vô ý gây thiệt hại tài sản” áp dụng cho số tiền 44 700 000 đồng đều có khung hình phạt nhẹ hơn.

Câu hỏi hiển nhiên là, cách áp dụng tội danh cho bà Lê Thị Dung có bị tác động bởi các nhân tố bên ngoài không?

Cách đây hơn 3 năm, Báo điện tử ‘Ngày mới’ ngày 26 /9/2019 đã đăng bài viết “Huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An: Tại sao lại “bới lông tìm vết” để thi hành kỉ luật bà Lê Thị Dung”?. Từ bài báo của Báo điện tử ‘Ngày mới’ ngày 26 /9/2019 có thể dự đoán, nếu bà Lê Thị Dung tuân theo yêu cầu của UBND huyện Hưng Nguyên, ký hợp đồng không xác định thời hạn với bà Nguyễn Thị Phương Thuý, thì chắc rắc rối và tù đày đã không xảy ra đối với bà.

Để thêm trọng lượng cho dự đoán này là tin cách đây vài hôm, bà thẩm phán xử án đã thăm bà Lê Thị Dung và chia sẻ là “bị sức ép, trong quá trình xét xử bị giảm 2 kg, phải chuyền nước, mong bà Dung thông cảm”.

2. TỰ LÀM KHÓ CHO MÌNH VÀ “THẦN DÂN” CỦA MÌNH

“Tính quyết liệt của người Nghệ” đang làm hại Nghệ An. Chuyện bé xé ra to. Đưa vụ việc sai phạm hành chính thành vụ án hình sự. Làm liên đới đến nhiều cấp lãnh đạo cùng với sự tốn kém thời gian, tiền bạc, công sức. Và trầm trọng hơn là đẩy số phận một con người vào cảnh tù đày oan ức, gieo thêm mâu thuẫn, làm xã hội bất ổn.

Luật pháp thì chung cho cả nước. Nhưng làm thất thoát 15 000 tỷ đồng thì ở TP HCM bị xử 3 năm tù treo. Làm thất thoát 53, 7 tỷ đồng thì ở Hà Nội xử 3 năm tù giam. Còn làm thất thoát chưa đến 45 triệu đồng, thì ở Nghệ An bị xử phạt 5 năm tù. Có phải người Nghệ An thấp kém hơn nên phải chịu hình phạt nặng hơn?

Cũng chẳng phải riêng Nghệ An. Dường như quan sát thấy khuynh hướng, rằng các tỉnh càng nghèo thì “đối đãi” với “thần dân” của mình càng khắt khe.

Lấy vài thí dụ. Ăn trộm 1 con vịt mà toà án ở Kiên Giang xử phạt 7 năm tù. Ăn trộm 2 con vịt, toà án ở Kontum xử 09 tháng và 13 tháng tù. Còn ở Lâm Đồng, ăn trộm 2 con vịt bị xử tổng cộng 13 năm tù cho 3 nông dân. Thiết nghĩ, ở vị trí lãnh đạo thì phải cố mang về nhiều lợi ích nhất cho người dân của mình, chí ít thì cũng không kém địa phương khác. Đằng này, ngược lại, dân đã nghèo mà đối đãi lại khắt khe, hình phạt thì nặng nề.

3. “VIỆC NHÂN NGHĨA CỐT Ở YÊN DÂN”

Có thể dự đoán, trong phiên phúc thẩm sắp tới sẽ có các thế lực tìm cách bảo vệ và biện minh cho kết quả toà án sơ thẩm; bảo vệ một cách quyết liệt. Nhưng đó không phải là lối thoát đúng. Cách xử lý khủng khoảng tốt nhất là công nhận sự thật. Mọi cố gắng bảo vệ hay che đậy sai lầm chỉ khiến cho vụ việc thêm trầm trọng. Mục đích tối thượng của mọi vụ xử án là thiết lập công lý. Vụ án phúc thẩm tới đây phải trả lại công lý cho bà Lê Thị Dung.

Hàng ngày, ở các cơ quan hành chính của nhà nước, từ cấp huyện, cấp tỉnh, cấp bộ cho đến văn phòng chính phủ. hay ở các cơ quan, trường học, bệnh viện của nhà nước… thì việc thanh toán thù lao, công tác phí, tiếp khách, quà cáp…luôn là một vấn đề mà kế toán và thủ trưởng phải “vận dụng linh hoạt”. Đó là một thực tế không chối cãi.

Làm Giám đốc một Trung tâm Giáo dục Thường xuyên trong suốt 10 năm trời, sau bao nhiêu lần thanh tra, chỉ phát hiện chi chưa đúng có 44 triệu 700 ngàn đồng, nghĩa là chỉ sai 372 500 đồng/1 tháng. Trong số tất cả các giám đốc, hiệu trưởng, chánh văn phòng huyện, tỉnh, bộ… bạn có thể chỉ ra một ai đó có sai phạm ít hơn không? Thực lòng, với hiện trạng xã hội như bây giờ, thì đó có lẽ là trường hợp đáng khen hơn là chê. Không tin, mỗi người hãy tự so sánh với vị trí của chính mình.

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Trường hợp của bà Lê Thị Dung là xử phạt hành chính và thu hồi các khoản chi sai. Đừng cố gắng quy tội cho bà Lê Thị Dung để hợp thức hoá thời gian tạm giam từ ngày 28/3/2022. Sai lầm thì phải dũng cảm thừa nhận.

Bà Lê Thị Dung không phải là tội phạm nguy hiểm, số tiền thất thoát rất nhỏ, quá lắm thì ngăn chặn không cho rời địa phương, chứ không phải bắt bỏ tù hơn một năm mới đưa ra xét xử. Trong khi chờ đợi phúc thẩm, hãy để bà Lê Thị Dung tại ngoại.

Luật pháp nghiêm minh không đồng nghĩa với hà khắc, càng xa lạ với bất công. Sống ở nơi nào có chế độ cai trị hà khắc, thì ở xứ đó khó mưu cầu hạnh phúc.

Tuyên bố phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông

 

Tuyên bố phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông

2-5-2023

Dân tộc Việt Nam sống trên một bờ biển dài 3260 km, với truyền thống đánh bắt hải sản ngoài biển khơi có từ lâu đời; quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã từ lâu là môi trường đánh bắt thủy hải sản của Việt Nam. Những tài liệu lịch sử của Việt Nam cũng như thế giới đã xác minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đã có từ lâu đời, ít ra từ thời các Chúa Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, và không hề bị tranh chấp. Cho đến khi Pháp chiếm Việt Nam, việc quản lý hai quần đảo này do Pháp thực hiện diễn ra trong hòa bình không bị tranh chấp, sau đó Pháp bàn giao lại cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam, Chính phủ Quốc gia Việt Nam chuyển giao cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Tại Hội nghị Hòa bình  San Francisco với 51 quốc gia tham dự thảo luận vấn đề chấm dứt tình trạng chiến tranh và tái lập bang giao với Nhật Bản, ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã long trọng lên tiếng tái xác nhận chủ quyền Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với tuyên bố như sau: “Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội để dập tắt mọi mầm mống bất hòa, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam”. Lời tuyên bố được ghi vào biên bản và được 46/51 quốc gia đồng ý.

Bất chấp mọi căn cứ pháp lý nêu trên, ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã đem lực lượng bắn giết các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng hoà, cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra công hàm phản đối. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc đưa quân tàn sát công binh Hải quân Việt Nam, chiếm 7 đảo (Châu Viên, Chữ Thập, Đá Gaven, Tư Nghĩa, Gạc ma, Vành Khăn, Subi) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cũng đã ra công hàm phản đối.

Tiếp theo đó Trung Quốc thường xuyên dùng lực lượng vũ trang bắn giết, cưỡng bức, đánh chìm tàu, tịch thu tàu, ngư cụ, sản phẩm của ngư dân Việt Nam trên hai ngư trường truyền thống của Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa, phá hoại cuộc sống của ngư dân Việt Nam, đồng thời cưỡng bức phá hoại các hoạt động dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngày 12 tháng 7 năm 2016, theo đơn kiện của Philippines, Tòa Trọng tài Thường trực được thành lập theo Phụ lục Vll của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS 1982) ra phán quyết phủ nhận cái gọi là Đường Lưỡi Bò của Trung Quốc tự vẽ. Với phán quyết này, Trung Quốc không có quyền lợi nào ở Biển Đông ngoại trừ việc lưu thông hàng hải theo luật pháp quốc tế.

Hiện nay Trung Quốc tiếp tục bất chấp, giẫm đạp mọi luật pháp quốc tế, tiếp tục ngang nhiên ra lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông, xem Biển Đông trong đó có vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là ao nhà của Trung Quốc, gây khó khăn cho cuộc sống của ngư dân Việt Nam, đồng thời phá hoại hoạt động dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Cho đến nay, qua thực tế diễn biến lịch sử kéo dài, mọi người yêu chuộng hòa bình công lý trên thế giới đều nhận thức được rằng: duy nhất Trung Quốc là kẻ luôn luôn gây hấn, không ngừng đe dọa không gian sinh tồn của người Việt.

Chúng tôi, các tổ chức xã hội dân sự và các cá nhân luôn luôn mong muốn có cuộc sống hòa bình với nhân dân Trung Quốc, nhưng không thể chấp nhận những hành vi giẫm đạp lên luật pháp quốc tế của nhà cầm quyền Trung Quốc, phá hoại cuộc sống yên bình của đất nước và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi tuyên bố:

1. Trung Quốc phải chấm dứt mọi sự gây hấn, phá hoại việc đánh bắt thủy hải sản của ngư dân Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Trung Quốc phải bồi thường các thiệt hại của ngư dân Việt Nam mà Trung Quốc đã gây ra từ trước đến nay.

3. Trung Quốc phải chấm dứt các hành vi cản trở phá hoại các hoạt động dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

4. Trung Quốc phải chấm dứt mọi việc xây dựng trái phép, phá hoại môi trường biển tại các đảo của Việt Nam bị cưỡng chiếm.

5.Cực lực phản đối hành vi đơn phương áp đặt chủ quyền bất hợp pháp của Trung Quốc thông qua lệnh CẤM BIỂN trước nhân dân trong nước và nhân dân toàn thế giới.

Ngày 2 tháng 5 năm 2023

(Tham gia ký tên hưởng ứng xin vui lòng gởi về paracelle19011974@gmail.com)

Các tổ chức xã hội dân sự

  1. Lập Quyền Dân. Đại diện: ông Nguyễn Khắc Mai
  2. Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: TS Nguyễn Quang A
  3. Ban Vận động Văn đoàn Độc lập. Đại diện: PGS TS Hoàng Dũng
  4. Bauxite Việt Nam. Đại diện: GS Nguyễn Huệ Chi
  5. Câu lạc bộ Nguyễn Trọng Vĩnh. Đại diện: GS Nguyễn Đình Cống
  6. Câu lạc bộ Phan Tây Hồ. Đại diện: TS Hà Sĩ Phu
  7. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng. Đại diện:  ông Võ Văn Thôn
  8. Câu lạc bộ Hoàng Quý. Đại diện: Hoàng Đức Kiên, kỹ sư chế tạo máy, cựu chiến binh , Hải Phòng.

Cá nhân

  1. Ông Nguyễn Khắc Mai, Hà Nội
  2. TS Nguyễn Quang A, Hà Nội
  3. Nguyễn Huệ Chi, GS Hà Nội
  4. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, Hà Nội
  5. Nguyễn Đình Cống, GS Xây dựng, Hà Nội
  6. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư Pháp, CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
  7. Hoàng Hưng, nhà văn, TP HCM
  8. Hoàng Dũng , phó Giáo Sư Tiến sĩ , tp HCM
  9. Andre Menras ( Hồ Cương Quyết) đạo diễn phim, CLB Lê Hiếu Đằng, Cộng Hòa Pháp
  10. Nguyễn Thị Kim Chi, nghệ sĩ, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  11. Mạc Văn Trang, PGS Tâm lý học, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  12. Lê Phú Khải, nhà báo, nhà văn, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  13. Vũ Trọng Khải, PGS TS chính sách nông nghiệp, TP HCM
  14. Đỗ Như Ly, nhà báo, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  15. Daniele Thiều Thị Tân, cựu tù Côn Đảo, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  16. Lê Thân, nhà hoạt động xã hội, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.
  17. Bùi Nghệ, kỹ sư, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  18. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  19. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  20. Huỳnh Sơn Phước, nguyên Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, TP HCM
  21. Trần Minh Quốc, GS Trung học trước 1975, CLB Lê Hiếu Đằng Saigon.
  22. Cao Ngọc Lâm, cựu chiến binh, CLB Hoàng Quý, Hải Phòng
  23. Đỗ Thanh Cương, cựu chiến binh, CLB Hoàng Quý, Hải Phòng
  24. Lê Anh Tuấn, cựu chiến binh, CLB Hoàng Quý, Hải Phòng
  25. Lê Thanh Giang, cựu chiến binh, CLB Hoàng Quý, Hải Phòng
  26. Trần Hữu Quang, phó giáo sư xã hội học, Saigon

Vẫn ‘chậm chễ’ trong xin lỗi, đính chính

 

Vẫn ‘chậm chễ’ trong xin lỗi, đính chính

Trích xuất từ chương trình Vua Tiếng Việt trên kênh YouTube của Gameshow Truyền Hình Việt Nam.

Ở phút 16:37 trong Clip giới thiệu “Vua tiếng Việt – Mùa 2, Tập 28, phát sóng vào ngày 14/4/2023 đặt trên YouTube, “chậm chễ” vẫn còn nguyên…

Tính đến thời điểm này, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) vẫn chưa thèm đả động gì đến những khiếm khuyết không những không thể tưởng tượng mà còn không thể chấp nhận trong chương trình “Vua tiếng Việt”.

***

“Vua tiếng Việt là trò chơi truyền hình do VTV sản xuất, phát định kỳ trên kênh VTV3 từ trung tuần tháng 9/2019 đến nay và được quảng bá là nhằm giúp khán giả tìm hiểu, khám phá sự phong phú, thâm thúy của tiếng Việt qua từ vựng, ngữ pháp, ca dao,… trong đời sống, đồng thời còn nhằm gìn giữ sự trong sáng vốn có của tiếng Việt….

Gần đây, sau khi một số người phát giác “Vua tiếng Việt” sai nghiêm trọng, chẳng hạn buộc thí sinh phải xác định như thế nào là viết đúng hai từ “chậm trễ” và khẳng định “chậm… chễ” mới… đúng. Một số người am tường tiếg Việt, trong đó có ông Hoàng Tuấn Công (1) bắt đầu quan tâm đến “Vua tiếng Việt” và chỉ ra thêm nhiều sai sót khác. Ví dụ “chuyên gia tiếng Việt” do VTV mời làm cố vấn đã giải thích “đá đưa đầu lưỡi” (nói năng giảo hoạt, xảo trá) là… “đặt viên đá vào đầu lưỡi thì đá sẽ rơi” và không phân biệt được thế nào là thành ngữ, thế nào là tục ngữ… “Vua tiếng Việt” còn chọn sai ngữ liệu và giải thích sai về “Ông tha mà bà chẳng tha, còn sợ cái lụt 23 tháng mười”…

Khó mà kể hết sự thất vọng và những ý kiến phản hồi của công chúng. Có người như ông Chu Mộng Long kháy: Chiên da Vịt ngữ học hiểu thành ngữ “đá đưa đầu lưỡi” là đặt viên đá vào đầu lưỡi! Tôi đảm bảo cả vạn giáo sư tiến sĩ ngôn ngữ học không nhận ra đó là cách giải thích thô bỉ… (2)!

Có người như Song Hà dựa vào đó viết hẳn một chuyện hài với các tình tiết rất đáng cười nhưng đọc xong lại không thể… cười: Đang hì hục sửa xe đạp ngoài sân, chợt con gái chạy ra hỏi: Bố ơi, tại sao người ta lại bỏ viên đá vào đầu lưỡi?. Mình ngơ ngác hỏi lại: Ai? Ai bỏ đá đầu lưỡi? Con gái bảo: Con vừa xem trên tivi, có bác nhà thơ hẳn hoi nói viên đá nó nặng nên đặt đầu lưỡi thì nó rơi. Thế đá ở đây là đá lạnh hay đá cuội hả bố? Nghe câu được, câu mất, với lại đang mải sửa xe nên mình đoán mò: Chắc là đá lạnh con ạ! Có thể trong lúc các bác ấy ngồi uống bia với nem chua ở vỉa hè, có bác phê quá gắp cục đá bỏ vào lưỡi để xem trụ được bao lâu. Không ngờ đá nặng quá nên… rơi … mất! Bố đừng nói linh tinh, nãy con xem chương trình Vua tiếng Việt thì có câu “Đá đưa đầu lưỡi”. Bác nhà thơ giải thích như này này: “Cái viên đá nó nặng mà, nên đặt đầu lưỡi nó hay rơi…”. Con có nghe nhầm không đấy, chứ bố là bố không tin có nhà thơ nào lại giải thích tào lao như thế cả, nhất lại là nói trên tivi cho hàng triệu người xem?! Để lát con mở lại cho bố nghe. Giải thích xong, bác nhà thơ còn gửi lời chúc mừn.g đến người chơi vì “Anh đã biết thêm một câu tục ngữ mới” nữa kia.

Nghe đến đây mình đành phải vứt con xe đạp ghẻ đấy, chạy vào để xem liệu có phải con gái đang coi một chương trình tấu hài trên truyền hình không. Nhiều khi xem hài mà không biết người ta diễn hài lại hóa ra con người nghiêm túc quá. Nhưng xem xong, biết chắc chắn đây là chương trình “Vua tiếng Việt” vẫn chiếu trên tivi thì bất ngờ thực sự. Đầu tiên là bất ngờ với trình độ tiếng Việt của một nhà thơ nổi tiếng, khi không thể hiểu được ý nghĩa đơn giản của từ “đá đưa” trong câu thành ngữ “Đá đưa đầu lưỡi” (chưa kể nhà thơ còn nhầm lẫn thành ngữ trên là tục ngữ). Tiếp theo, bất ngờ với sự hiểu biết của người dẫn chương trình, vốn nghĩ mình rất thâm thúy qua status đứa con giai bé bỏng U50 dám chê mẹ nấu bánh chưng hồi đầu năm. Cố vấn chương trình sai thì người dẫn cũng phải nhận ra để can thiệp ngay, hoặc ít ra là hỏi lại nếu thấy chưa chính xác. Tuy nhiên mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường như không có gì xảy ra. Và cuối cùng, bất ngờ khi ban biên tập một chương trình – vốn được đặt cái tên đao to, búa lớn “Vua tiếng Việt” (nghe nhang nhác mấy anh tự nhận “Ông hoàng nhạc Việt”, hay “Nữ hoàng nội y” trong showbiz) lại để lọt lưới một lỗi ngớ ngẩn trong một chương trình vẫn “dạy” cho người khác về tiếng Việt.

Song Hà kết luận: Trước khi trở thành “Vua tiếng Việt”, các anh nên đúng tiếng Việt đi đã, cho bọn trẻ con chúng nó noi theo. Chứ cả một ê kíp trăm con người mà cứ “chậm chễ” với “trậm trễ” noạn cả nên như này thì chả trách các cháu bây giờ hay cãi lại bố, mẹ (chứ chẳng lẽ dám cãi lại đài).

***

Tuy những sai sót của “Vua tiếng Việt” là hết sức rõ ràng và những sai sót này đã trở thành một trong những chủ đề nóng trên mạng xã hội suốt tuần vừa qua nhưng VTV không những không thèm xin lỗi và cũng chẳng thiết sửa sai. Ở phút 16:37 trong Clip giới thiệu “Vua tiếng Việt – Mùa 2, Tập 28, phát sóng vào ngày 14/4/2023 đặt trên YouTube, “chậm chễ” vẫn còn nguyên (4) để người Việt nhìn vào đó mà… tìm hiểu, khám phá sự phong phú, thâm thúy của tiếng Việt qua từ vựng, ngữ pháp, ca dao,… trong đời sống, đồng thời còn nhằm gìn giữ sự trong sáng vốn có của tiếng Việt… như VTV từng tuyên bố. Xứ này, đã dính tới “vua” thì đều có quyền như thế?

Chú thích

(1) https://www.facebook.com/TuancongThuphong

(2)https://www.facebook.com/Chumonglong/posts/pfbid0tsZ1G1eP4mh99nT4gpZsnBMyjzzum77EtELEGgdbePnWgNxZdgTFWm3yX5kTgmG6l

(3)https://www.facebook.com/songhass/posts/pfbid0RyNo5TrxY5ZBXDmS1DU9yy7g9PBgsQLuF7baM33Mkw8MWQrTQgbPSd4PDXYBWN6Xl

(4) https://www.youtube.com/watch?v=X9qcgVY39BI

Nhà nước CSVN có chủ trương hòa giải và hòa hợp dân tộc hay không?

 

Nhà nước CSVN có chủ trương hòa giải và hòa hợp dân tộc hay không?

Trương Nhân Tuấn

1-5-2023

Đọc một số bài viết trên các trang mạng BBC, VOA, RFA… nhân nói về biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ta thấy một số bài có nội dung phê bình việc nhà nước CSVN “nói mà không làm” về chủ trương “hòa giải dân tộc”. Năm nào cũng cũng có những bài viết tương tự như vậy chớ không phải đặc biệt năm nay.

Chuyện này không mới. Trong cộng đồng người Việt tị nạn thì mỗi khi có ai nói về “hòa giải hòa hợp dân tộc” tức khắc người đó bị chụp cho cái mũ “thằng đó Việt cộng”.

Điều này có thể thông cảm vì không thiếu tình trạng những người VNCH cũ quay đầu phục vụ cho CSVN. Những người này tuyên truyền trong cộng đồng người Việt nước ngoài về “chủ trương hòa giảỉ hòa hợp dân tộc” của đảng và nhà nước CSVN.

Sự thật ra sao? Sự thật theo tôi là nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương “hòa giải” (hay hòa giải hòa hợp dân tộc) với bất kỳ một đối tượng nào.

Cá nhân tôi nhiều lần rà tới rà lui, “đỏ mắt” đọc toàn bộ 70 năm “văn kiện đảng” cùng với “cả đống” các nghị định, các bộ luật của nhà nước CSVN mà không hề thấy bất cứ một văn kiện nào dính dáng, hay nói về vấn đề “hòa giải”.

Ngoại trừ diễn văn 15-5-1975 của Lê Duẩn – đăng trên báo Nhân Dân ngày 16-5-1975 có nói về “tinh thần” hòa giải hòa hợp dân tộc, nguyên văn như sau:

Với tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhân dân đã tỏ rõ lượng khoan hồng đối với tất cả những ai đã lầm đường lối, bất kể quá khứ của họ như thế nào, nay trở về với dân tộc. Miễn là họ thành tâm hối cải, thành tâm mang hết tài năng ra phục vụ Tổ quốc thì vị trí của họ trong lòng dân tộc sẽ được bảo đảm, mọi sự ô nhục mà kẻ tội phạm gây ra là đế quốc Mỹ sẽ được rửa sạch“.

Tôi nhấn mạnh chữ “tinh thần” trong câu “tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc”. “Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc” khác với “chủ trương” HG&HHDT.

Những gì thuộc “chủ trương của nhà nước” (thí dụ chủ trương của nhà nước về HG&HHDT) thì chủ trương này luôn đi kèm với một hệ thống văn bản, hay một bộ luật (như Luật về Hòa giải quốc gia), để việc thi hành “có giá trị pháp lý ràng buộc”.

Còn “tinh thần” thì diễn giải sao cũng được, không có gì bó buộc hết cả.Tinh thần HG&HHDT của Lê Duẩn là sự khoan hồng đối với những người phục tùng đảng CSVN.

Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT).

“Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh.

Những động tác tuyên truyền của ban kiều vận, thông qua các cá nhân VNCH cũ, có mục đích khoác lên chủ trương “chiêu dụ” của CSVN bộ áo nhân văn mang tên “hòa giải và hòa hợp dân tộc”.

Cá nhân tôi có đặt câu hỏi đến một số tác giả các bài viết liên quan. Không một ai đưa được bằng chứng về sự hiện hữu “chủ trương” hòa giải dân tộc của đảng, hay của nhà nước CSVN.

Một số người đưa bằng chứng là Nghị quyết 36. Theo tôi thấy có sự ngộ nhận.

Nghị quyền 36 về “Công tác đối với người Việt ở nước ngoài”, toàn bộ văn bản không hề có có chữ “hòa giải”. Ngay cả nội dung của nghị quyết 36 cũng không có đoạn nào có nội dung mang ý nghĩa “hòa giải” hết cả.

Bởi vì nội dung Nghị quyết 36 nói về chủ trương “Đại đoàn kết dân tộc”, hiện hữu từ thời Hồ Chí Minh.

Phần II, đoạn 1 Nghị quyết 36: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc“.

Truyền thống “đại đoàn kết dân tộc” được áp dụng trong thời kỳ mới là gì? Đó là: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc“.

Vô số người miền Nam bị mất nhà, mất tài sản, thân bị tù tội hàng chục năm … Người bị qui vào tội “ngụy quân ngụy quyền”, người bị qui vào “tư sản”… Họ bị tước đoạt mọi của cải, tài sản mà không thông qua môt bản án nào.

Bây giờ thì nhà nước có chủ trương “kinh tế thị trường”, cho phép dân làm ăn như thời VNCH. “Làm chủ tài sản” ngày trước là môt trọng tội. Nay lại là một “quyền”. Chính sách của nhà nước phải nhứt quán. Không thể “lúc này lúc khác” được.

Vấn đề là những nạn nhân bị mất tài sản, mất đất đai, nhà cửa trước kia… không được nhà nước bồi thường thiệt hại.

Làm sao người ta có thể “xóa bỏ mặc cảm, định kiến để hướng tới tương lai”?

Không hòa giải, tức nhà nước CSVN không nhìn nhận sai lầm và sửa sai qua hình thức trả lại tài sản, hay đền bồi cho nạn nhân, thì làm sao người ta có thể “xóa bỏ định kiến”? Mà sự thật không phải là “định kiến”.

Chuyện “đánh tư sản” chỉ là một hạt cát trong sa mạc sai lầm của đảng và nhà nước CSVN.

Câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà báo, các sử gia, học giả v.v… lại luôn nói rằng “chủ trương hòa giải hòa hợp dân tộc” là của nhà nước CSVN?

Còn trong “quần chúng nhân dân”, phe “cờ vàng” luôn qui kết những người bàn về “hòa giải hòa hợp dân tộc” là cộng sản.

Cá nhân tôi nhiều năm trước có chủ trương yêu cầu nhà nước CSVN phải ra một bộ luật về Hòa giải quốc gia. Mục đích “kế thừa danh nghĩa VNCH” để củng cố hồ sơ chủ quyền Hoàng sa và Trường Sa.

Ý kiến này đến với tôi sau khi tôi tham khảo tài liệu (La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées) của học giả Joele Duy Tân Nguyen, một giáo sư về Luật quốc tế ở Pháp. Những dòng cuối tập tài liệu, bà đặt câu hỏi (đại ý): Nhà nước CSVN hôm nay lấy tư cách nào để kế thừa di sản VNCH trong khi họ vẫn luôn gọi thực thể này là “ngụy”?

Không lẽ tôi cũng là VC?

Tôi không nghĩ tác giả các bài báo (nói chủ trương HG&HHDT là của nhà nước CSVN) có nhiệm vụ sơn son thiếp vàng chính sách “đại đoàn kết dân tộc” của CSVN.

Vấn đề là các tác giả, cũng như phe “cờ vàng”, có cùng mục đích với đảng và nhà nước CSVN.

Ngày Quốc tế Lao động: Bàn chuyện án oan của bà Lê Thị Dung

 

Ngày Quốc tế Lao động: Bàn chuyện án oan của bà Lê Thị Dung

Chu Mộng Long

1-5-2023

Bà Lê Thị Dung không là thường dân. Trước khi bị kỉ luật khiển trách và tiếp theo là lãnh án tù 5 năm, bà là đảng viên, Bí thư chi bộ, Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên. Chức vụ ấy, dù nhỏ, nhưng không phải do dân bầu mà đảng cử, quan trên cử. Lẽ ra Đảng và cấp trên phải yêu bà như máu thịt, nhưng thật nghịch lý là bà bị chính đồng chí và hệ thống quan quyền cấp trên của bà trừng phạt khốc liệt!

Theo thông tin báo chí thì sự trừng phạt nặng nề này chỉ vì bà chống lệnh cấp trên. Cụ thể, bà chống lệnh cấp trên nhét chui biên chế nhân sự vào cơ quan của bà một cách bất hợp pháp, bắt bà và cả cơ quan phải nuôi loại nhân sự thừa như vậy. Nhân sự này chắc chắn thuộc diện, không con ông cháu cha thì cũng diện đưa hối lộ. Bởi vô tư trong sáng thì chẳng quan nhớn nào nhét chui như vậy.

Chuyện cấp trên nhét chui nhân sự xuống cơ quan cấp dưới như vậy không hiếm ở nhiều cơ quan nhà nước. Thường là trót lọt, vì cấp dưới nào cũng phải ngoan ngoãn chấp thuận. Riêng bà Dung chống đối mới phải chịu án trừng phạt. Việc cấp trên mượn con dao pháp luật bới lông tìm vết để trừng phạt: tạm giam cả năm trời để bới cho ra 45 triệu “chi sai nhiều lần” trong 5 năm, rồi kết án tù cũng 5 năm, cho thấy sự truy cùng diệt tận của thế lực đen tối hơn là ánh sáng của công lý.

Tôi đảm bảo, việc chi theo cách của bà Dung mà tòa phán xét là “chi sai” thì mọi cơ quan nhà nước đều sai. Không cần bới lông tìm vết, chỉ nhìn vào bất cứ Quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan nào cũng có thể phát hiện ra: cán bộ quản lý, ngoài ăn phụ cấp chức vụ từ ngân sách đều có hưởng thêm tiền quản lý phí, không chỉ ăn đúp mà ăn thêm ở nhiều hoạt động khác nhau.

Nhưng vì sao mọi lãnh đạo cơ quan nhà nước đều “chi sai” nhưng không ai bị trừng phạt? Còn nhớ nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Quy Nhơn Trần Tín Kiệt cấu kết với Chủ tịch công đoàn tự làm Quy chế chi tiêu nội bộ, không cần góp ý, không cần thỏa thuận công khai trước đại hội theo luật định, chi tiêu rất tùy tiện để cả đám quan chức chia nhau tiền tỉ, mặc dù bị tố cáo mạnh mẽ, nhưng Thanh tra Bộ và cả Cơ quan điều tra đều cho qua.

Bây giờ không chỉ nguyên Hiệu trưởng Trần Tín Kiệt mà mọi hiệu trưởng đều hợp thức hóa việc chi đúp qua Quy chế chi tiêu nội bộ. Hợp thức hóa vì đã qua sự chấp thuận và quản lý của Kho bạc Nhà nước. Khác nhau là bản Quy chế chi tiêu nội bộ có được thỏa thuận tập thể và công khai hay không. Theo báo chí thì Quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan bà Dung được góp ý, thông qua Công đoàn và công khai đúng quy định.

Vì sao lãnh đạo nào cũng “chi sai”, theo cách hiểu của cơ quan điều tra Hưng Nguyên, mà không bị điều tra và bị bắt như bà Dung thì ai cũng hiểu!

Xem ra, huyện ủy Hưng Nguyên của quê Bác trừng phạt khốc liệt bà Lê Thị Dung không phải chỉ là trừng phạt cá nhân bà Dung. Họ muốn răn đe tất cả các quan cấp dưới với phương châm: ngoan ngoãn thì sống, cứng đầu thì chết!

Đó là việc làm nguy hiểm lũng đoạn cả hệ thống chính quyền: vừa tạo ra sự ươn hèn của quan dưới, vừa nuôi thói lộng quyền của quan trên.

Tôi chỉ băn khoăn, rằng đây là chuyện nội bộ của Đảng, của quan quyền, nhưng tại sao không thấy đảng viên và hệ thống quan quyền lên tiếng cho đồng chí của họ? Khi tuyên thệ trước cờ Đảng, lẽ nào các đảng viên chỉ có lời thề “tuyệt đối trung thành với Đảng” mà quên những lời thề sau đó là đấu tranh bảo vệ giai cấp, bảo vệ đồng chí của mình? Ngay cả lời thề “tuyệt đối trung thành với Đảng” cũng đâu đồng nghĩa với “trung thành với một nhóm lợi ích” đi ngược với tuyên ngôn đấu tranh giai cấp của Đảng Cộng sản?

Nhớ chuyện đảng viên 50 năm tuổi Đảng Trần Văn Nhiệm, chỉ vì đấu tranh với bè lũ quan tham Trần Tín Kiệt mà bị chính các đồng chí của ông hùa nhau đày đọa ông suốt cuộc đời mà đau. Và đến lúc cũng chính dân ngoài Đảng đấu tranh bảo vệ ông, minh oan cho ông, mới thấy hết thế thái nhân tình!

Bây giờ trên cõi mạng, chuyện Bí thư chi bộ kiêm Giám đốc Lê Thị Dung bị án oan cũng lại chỉ có những người ngoài Đảng lên tiếng bảo vệ cho một đảng viên, một quan chức trong hệ thống quan quyền. Xem ra dân không cần Đảng giáo dục đủ loại đạo đức như Đảng giáo dục đảng viên, họ vẫn có tấm lòng nhân ái cao cả. Các đảng viên chỉ biết ngoan ngoãn và ngậm miệng chỉ vì tiền, vì quyền, có thấy mình ươn hèn không?

Đời Tống, quan thái úy Cao Cầu từng mượn con dao pháp luật trả thù Lâm Xung, Dương Chí và nhiều trung thần khác, lịch sử Trung Hoa xem là thời đại thối nát và chính nó đã sinh ra cuộc khởi nghĩa Lương Sơn Bạc. Lẽ nào cỡ chức quan huyện bé nhỏ như Hưng Nguyên đã là những tên Cao Cầu mới trên đất Việt?

Một bản án gây phẫn nộ cho toàn dân là bản án vu cáo kiểu gian thần Cao Cầu!

Để tránh mối họa về sau, họa lộng quyền của những tên Cao Cầu, kể cả họa phản kháng kiểu Lương Sơn Bạc, căn cứ ngay trên hồ sơ của vụ án, tôi đề nghị trả tự do vô điều kiện cho bà Lê Thị Dung và khởi tố điều tra các quan chức ở huyện Hưng Nguyên. Chỉ có cách đó mới vãn hồi trật tự và xác lập lại niềm tin ở dân!