Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 66)

 

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 66)

Hồ Bạch Thảo

3-1-2022

Xem lại phần 1-65

66. Triều đại Hồ sụp đổ, nhà Minh đặt ách cai trị

Sau khi thua bại tại Hàm Tử, cha con Hồ Quí Ly chạy về Tây Đô vùng Lỗi Giang (1), huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá; quân Minh truy kích bén gót, bấy giờ lòng người suy sụp, dựa vào thành hiểm cũng vô ích, không đánh mà tan.

Ngày 23 tháng 4 [30/5/1407], quân Minh đánh vào Lỗi Giang, quân Hồ không đánh mà tan”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 9.

Mấy hôm sau quân Minh chiếm cửa biển Điển Canh tại huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa; quân nhà Hồ phải bỏ thuyền chạy bộ; định đến đóng tại Thâm Giang tức Ngàn Sâu, Hà Tĩnh, nhưng việc không thành.

Ngày 29 [5/6/1407], quân Minh đánh vào cửa biển Điển Canh (2), quân Hồ bỏ thuyền tự tan vỡ. Hai cha con họ Hồ định lánh đến Thâm Giang (3) nhưng không thành. Nguỵ Thức xin hai cha con họ Hồ tự thiêu. Ông nói: Nước đã sắp mất, bậc vương giả không chết bởi tay kẻ khác. Quý Ly giận, chém chết”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 9.

Quân Minh thủy bộ tiếp tục truy kích đến huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh; trước sau trong vòng 7 ngày, cha con Hồ Quí Ly đều bị bắt.

Tháng 5, ngày mồng 5[16/6/1407], quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La (4), châu Nhật Nam. Nguyễn Đại trước thờ họ Hồ, sau phản lại đầu hàng quân Minh, đến đây dẫn người Minh sang xâm lược bắt được Hữu tướng quốc Quý Tỳ và con ông là Phán trung đô Nguyễn Cửu.

 Ngày 11 [22/6/1407], quân Minh xâm phạm; bọn Vương Sài Hồ 7 người thuộc vệ Vĩnh Định (5), bắt được Quý Ly ở bãi Chỉ Chỉ; Giao Châu hữu vệ quân là bọn Quý Bảo 10 người bắt được Tả tướng quốc Trừng ở cửa biển Kỳ La.

 Ngày 12 [23/6/1407], đầu mục bộ hạ của Mạc Thúy là bọn Nguyễn Như Khanh bắt được Hán Thương và thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng (6)”.Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 9.

Minh Thực Lục cũng xác nhận sự kiện tương tự, qua 2 văn bản dưới đây:

Ngày 11 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [16/6/1407]Ngày hôm nay quan quân chinh thảo An Nam bắt được đầu sỏ Lê Quý Ly cùng con là Trừng. Trước hết bọn quan Tổng binh Tân thành hầu Trương Phụ truy kích giặc tới cửa biển Điển Canh, gặp chỗ nước trong mà cạn, nên giặc phải bỏ thuyền chạy trốn. Khi quan quân đến, nhân lúc trời mưa to, nước dâng lên mấy thước, thuyền đi lại dễ dàng; quân lính đều mừng nói rằng trời phù hộ Vương sư. Khi Trương Phụ điều quân kỵ đến Long Trà, thì thủy quân cũng tới nơi. Viên Tứ phụ Đại duẫn ngụy là Nguyễn Cẩn đến xin hàng, nói rằng giặc họ Lê đã vào Nghệ An; bèn điều Đô đốc Thiêm sự Liễu Thăng mang thủy quân tiến trước. Quân Trương Phụ cùng Tây bình hầu Mộc Thạnh vượt qua Quyết Giang, tiến đến cửa biển Kỳ La thuộc châu Nhật Nam. Thăng đánh giết, bắt được 300 chiếc thuyền, số còn lại trốn. Trương Phụ thừa thắng truy kích. Thăng lại mang quân ra cửa biển Kỳ La, bọn quân thuộc vệ Vĩnh Định Vương Sài Hồ,gồm 7 người, gặp giặc đánh nhau, giặc bỏ chạy, bắt sống đầu sỏ là Lê Quý Ly; bọn Lý Bảo Bảo mười người, lại bắt được Trừng trong rừng, nơi gần cửa biển”. (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 253).

Ngày 12 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [17/6/1407 ]Dân bản xứ An Nam là bọn Vũ Như Khanh bắt được ngụy Quốc vương Lê Thương, ngụy Thái tử Lê Nhuế, con cháu giặc họ Lê, ngụy Lương quốc vương Lê Kích, cùng tướng ngụy Trụ quốc Đông Sơn Hương hầu Hồ Đỗ tại núi Vọng Cao [Cao Vọng], cửa biển Vĩnh Áng. An Nam được bình định(Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 254)

Bọn quan lại nhà Hồ như Hồ Đỗ, Phạm Lục Tài đều bị bắt; còn Trần Nhật Chiêu, Nguyễn Phi Khanh ra đầu hàng từ trước. Duy có Hành khiển tham tri chính sự Ngô Miễn, trực trưởng Kiều Biểu nhảy xuống nước chết, vợ Miễn cũng chết theo.

Khi Miễn chết, vợ là Nguyễn thị ngửa mặt lên trời than rằng: ‘Chồng ta thờ chúa, một đời ăn lộc, ngày nay giữ tiết nghĩa mà chết, thế là chết xứng đáng, còn oán hận gì nữa? Nếu thiếp muốn sống cho qua ngày, chẳng lẽ lại không còn chỗ đến nữa hay sao? Nhưng đạo chồng, ơn vua, một chốc mà phụ bạc thì thiếp không nỡ nào! Chi bằng, xin theo nhau!”.Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 9.

Sự việc tại châu Thăng Hoa [Quảng Nam] và Hóa Châu [Thừa Thiên], Toàn Thư chép nội dung như sau: Trước đây Hoàng Hối Khanh nhận lệnh cai trị; dùng thổ quan là Đặng Tất và Phạm Thế Căng làm tâm phúc. Tất và Tả châu phán Nguyễn Rổ vốn ghen ghét nhau vì công trạng. Gặp lúc họ Hồ bị quân Minh đánh gấp, viết thư báo Hối Khanh lấy một phần ba số dân di cư khi trước, gộp với quân lính địa phương giao cho Rỗ chỉ huy để làm quân cần vương, lại sắc phong cho Cổ Lũy huyện thượng hầu Chế Ma Nô Đà Nan làm Thăng Hoa quận vương, để vỗ yên dân Chiêm Thành. Hối Khanh đều giấu đi không cho mọi người biết. Đến khi Chiêm Thành cất quân định thu lại đất cũ, dân Việt di cư sợ chạy tan cã, bọn Hối Khanh trở về Hóa Châu, chỉ một mình Ma Nô Đà Nan ở lại chống nhau với Chiêm Thành; nhưng thế cô sức yếu, bị người Chiêm giết chết.

Hối Khanh trở về Hóa Châu, Rỗ đưa dân di cư đi đường bộ đến chậm, Tất đi đường thủy đến trước, Trấn phủ sứ lộ Thuận Hóa là Nguyễn Phong ngăn không cho vào. Tất cố sức đánh, giết Phong, vào được thành, lại đánh nhau với Rỗ hơn một tháng. Rỗ không có viện binh, bèn đem gia quyến sang Chiêm Thành; Hối Khanh bèn giết mẹ và gia thuộc của Rỗ. Chiêm Thành cho Rỗ làm quan to. Sau nhà Minh đòi Rỗ đến Kim Lăng, giả cách cho làm Hồ Quảng chỉ huy sứ, rồi giết đi.

Sau khi họ Hồ đã thất bại, Thế Căng trở về Tân Bình, đón hàng người Minh ở Nghệ An và nhận chức Tri phủ của Trương Phụ. Chiêm Thành lại chiếm cứ Thăng Hoa, rồi sang cướp Hóa Châu. Tất xin với Phụ cho làm quan để cai quản Hóa Châu, Chiêm Thành dẫn quân rút về. Đến đây, Tất sai người đưa Hồi Khanh về, đến cửa biển Đan Thai [cửa Hội, Hà Tĩnh] thì Hối Khanh tự vẫn; Phụ đem đầu Khanh ra bêu ở chợ Đông Đô.

Sau khi chiếm nước Đại Việt, Minh Thái Tông theo kế hoạch đã định sẵn, đặt nước ta vào ách đô hộ. Y dựa vào biểu văn trước đó của bọn Mạc Thúy xưng rằng con cháu nhà Trần đã bị giặc họ Lê sát hại, không còn người kế thừa; xin theo chế độ xưa, lập quận huyện. Bèn ra lệnh thiết lập tam ty tức Đô chỉ huy sứ ty, Bố chánh ty, Án sát ty, để cai trịĐô chỉ huy sứ ty do Lữ Nghị quản lãnh; Bố chánh, Án sát ty, cử Hoàng Phúc kiêm nhiệm.

Minh Thái Tông lập guồng máy cai trị mới nghiệt ngã tàn bạo, với những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đổi 38 tên đất dưới thời Trần, Hồ mang ý nghĩa tự cường tự chủ thành tên mới với ý nghĩa lệ thuộc; như đổi phủ Long Hưng thành phủ Trấn Man.

Thứ hai, chia nước ta ra 15 phủ, 5 châu, cùng hàng trăm huyện.

Thứ ba, lập kho tàng, ty chuyên môn như y dược, các ty, cục thuế khoá tại phủ, châu, huyện và địa điểm quan trọng.

Thứ tư, đặt 21 bến thuyền bè, để tiện việc chuyên chở giao thông.

Thứ năm, thiết lập 67 ty tuần kiểm các nơi, chuyên trách kiểm soát và trấn áp.

Thứ sáu, hoàn thành hệ thống giao thông đường bộ từ thành Đông Đô đến ải Nam Quan, với 7 dịch trạm ngựa, và 5 sở vận chuyển.

Thứ bảy, thiết lập ty Tăng Hội, ty Đề Cử diêm khóa (7); đổi Kê Lăng quan tức ải Chi Lăng, thành Trấn Di quan. Chi tiết, xin xem văn bản dưới đây:

Ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [5/7/1407 ]Sắc dụ quan Tổng binh Chinh Di Tướng quân Tân thành hầu Trương Phụ, Tả Phó Tướng quân Tây bình hầu Mộc Thạnh, Tả Tham tướng Phong thành hầu Lý Bân, Hữu Tham tướng Vân dương bá Trần Húc, cùng các tiểu tướng hiệu:

Giặc họ Lê giết vua cướp nước, tiếm hiệu xưng kỷ nguyên, tàn bạo bất nhân, làm đau khổ cả một nước; lại xâm phạm lân bang, kháng cự triều mệnh, không làm tròn chức cống. Trẫm bất đắc dĩ sai các ngươi mang quân phạt tội. Nhờ trời đất tổ tông phù hộ, tướng sĩ hết sức liều mình, binh uy tới mọi nơi đều được tiễu bình; bắt sống cha con nghịch tặc Lê Quý Ly cùng bọn ngụy quan; chiêu tập dân lương thiện, dung nạp kẻ hàng; không mảy may xâm phạm của dân, chợ búa vẫn bình yên hội họp. Tin chiến thắng đưa về, hết sức mừng vui khen thưởng. Trước đây dưới thời Tống, Nguyên; An Nam nghịch mệnh, mang quân đi đánh đều không lập được thành tích. Việc làm hôm nay thực hơn hẳn người xưa, danh thơm vĩ đại truyền mãi trăm đời. Nay đặc sai sứ mang sắc văn ủy lạo, nhân trời viêm nhiệt hãy chọn nơi cao ráo thoáng mát đóng quân để dưỡng người và ngựa, đợi lúc thời tiết trong mát sẽ cho ban sư trở về nước.’

Lại ban sắc dụ bọn Phụ:

Ngươi trước đây đã gửi trình biểu văn của bọn kỳ lão Mạc Thúy. Biểu văn xưng rằng con cháu nhà Trần bị giặc họ Lê sát hại, không còn người kế thừa; xin theo chế độ xưa, lập quận huyện để cai trị. Bèn ra lệnh các ngươi lưu ý tìm thêm, lại nhận được lời tâu họ Trần quả đã tuyệt tự, quận huyện không thể không lập, vậy xin thiết lập tam ty để cai trị quân dân. 

Nay chấp nhận theo lời xin, cho lập Giao Chỉ Đô Chỉ huy Sứ Ty, sai Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị cai quản, Hoàng Trung giữ chức Phó, tuyển thêm 2 Đô Chỉ huy có năng lực cùng lãnh chức Phó. Cử Thượng thư Hoàng Phúc kiêm nhiệm chức Bố chánh ty và Án sát ty. Nguyên Thị lang bộ Công Trương Hiển Tông, Bố chính ty Phúc Kiến Tả Tham chính Vương Bình lãnh chức Tả, Hữu Bố chánh sứ. Nguyên Bố chánh ty Hà Nam Tả Tham Chính Lưu Bản, Hữu Tham chính Lưu Dục giữ chức Tả, Hữu Tham chính. Nguyên Án sát sứ Giang Tây Chu Quan Chính, người An Nam qui phụ tên Bùi Bá Kỳ giữ chức Tả, Hữu Tham chính. Nguyên Án sát sứ Hà Nam Nguyễn Hữu Chương, Án Sát Phó sứ Dương Trực giữ chức Án Sát Phó sứ. Nguyên Tri phủ Thái Bình Lưu Hữu Niên giữchức Án sát Thiêm sự. Lại riêng tuyển các quan cho điều đi, lãnh nguyên chức vụ tại các phủ, châu, huyện; nếu danh sách không đủ số sẽ ra lệnh bộ Lại thuyên chuyển đến . Nay gửi ấn tín ban cấp cho các ngươi.

Đổi tên các địa danh sau đây của Giao Chỉ:

–  Đổi phủ Long Hưng thành phủ Trấn Man.

– Đổi phủ Kiến Hưng thành phủ Kiến Bình.

– Đổi phủ Thiên Trường thành phủ Phụng Hóa.

– Đổi phủ Tân Hưng thành phủ Tân An.

– Đổi châu Quốc Oai thành châu Oai Man.

– Đổi châu Tuyên Quang thành châu Tuyên Hóa.

– Đổi châu Thượng Phúc thành châu Phúc Yên.

– Đổi châu An Bang thành châu Tĩnh An.

– Đổi châu Nhật Nam thành châu Nam Tĩnh.

– Đổi châu Bố Chính thành châu Chính Bình.

– Đổi châu Minh Linh thành châu Nam Linh.

– Đổi huyện Long Nhãn thành huyện Thanh Viễn.

– Đổi huyện Yên Thế thành huyện Thanh An.

– Đổi huyện Ứng Thiên thành huyện Ứng Bình.

– Đổi huyện Sơn Minh thành huyện Sơn Định.

– Đổi huyện Thượng Phúc thành huyện Bảo Phúc.

– Đổi huyện Long Đàm thành huyện Thanh Đàm.

– Đổi huyện Đan Phượng thành huyện Đan Sơn.

– Đổi huyện Long Bạt thành huyện Lũng Bạt.

– Đổi huyện Thiên Thi thành huyện Thi Hóa.

– Đổi huyện Cổ Chiến thành huyện Cổ Bình.

– Đổi huyện Thống Binh thành huyện Thống Ninh.

– Đổi huyện Phật Thệ thành huyện Thiện Thệ.

– Đổi huyện Thiên Bản thành huyện An Bản.

– Đổi huyện Độc Lập thành huyện Bình Lập.

– Đổi huyện Lê Gia thành huyện Lê Bình.

– Đổi huyện Ngự Thiên thành huyện Tân Hóa.

– Đổi huyện Phí Gia thành huyện Cổ Phí.

– Đổi huyện An Bang thành huyện Đồng An.

– Đổi huyện An Hưng thành huyện An Hòa.

– Đổi huyện Trà Long thành huyện Trà Thanh.

– Đổi huyện Đỗ Gia thành huyện Cổ Đỗ.

– Đổi huyện Thượng Lộ thành huyện Lộ Bình.

– Đổi huyện Thượng Phúc thành huyện Phúc Khang.

– Đổi huyện Bố Chính thành huyện Chính Hòa.

– Đổi huyện Đặng Gia thành huyện Cổ Đặng.

– Đổi huyện Tả Bố thành huyện Tả Bình.

– Đổi huyện Thế Vinh thành huyện Sĩ Vinh.

Những địa danh còn lại, được giữ y như cũ. 

Đặt các phủ, châu, huyện thuộc Giao Chỉ. 

Tất cả gồm 15 phủ: Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân An, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hóa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa.

1. Phủ Giao Châu [Hà Nội] gồm 5 châu: Oai Man, Phúc An, Tam Đái, Từ Liêm, Lợi Nhân. Bản phủ trực tiếp lãnh 2 huyện: Đông Quan, và Từ Quảng. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:

– Châu Oai Man lãnh 4 huyện: Sơn Định, Thanh Oai, Ứng Bình, Đại Đường.

– Châu Phúc An lãnh 3 huyện: Bảo Phúc, Phù Lưu, Thanh Đàm.

– Châu Tam Đái lãnh 6 huyện: Phù Long, An Lãng, Phù Ninh, An Lạc, Lập Thạch, Nguyên Tức.

– Châu Từ Liêm lãnh 2 huyện: Đan Sơn, Thạch Thất.

– Châu Lợi Nhân lãnh 6 huyện: Thanh Liêm, Bình Lục, Cổ Bảng, Cổ Lễ, Lợi Nhân, Cổ Giả 

2. Phủ Bắc Giang [Bắc Ninh, Bắc Giang] gồm 3 châu: Gia Lâm, Vũ Ninh, Bắc Giang. Bản phủ trực tiếp lãnh 2 huyện: Siêu Loại, và Gia Lâm. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:

– Châu Gia Lâm lãnh 3 huyện: An Định, Tế Giang, Thiện Tài.

– Châu Vũ Ninh lãnh 5 huyện: Tiên Du, Vũ Ninh, Đông Ngàn, Từ Sơn, An Phong.

– Châu Bắc Giang lãnh Tân Phúc, Thiện Thệ, An Việt.

3. Phủ Lạng Giang [Quảng Ninh, Hải Dương] gồm 3 châu: Lạng Giang, Nam Sách, Thượng Hồng. Bản phủ trực tiếp lãnh 5 huyện: Thanh Viễn, Cổ Dõng, Phượng Sơn, Na Ngạn, Lục Na. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:

– Châu Lạng Giang lãnh 4 huyện: Thanh An, An Ninh, Cổ Lũng, Bảo Lộc.

– Châu Nam Sách lãnh 3 huyện: Thanh Lâm, Chí Linh, Bình Hà.

– Châu Thượng Hồng lãnh 3 huyện: Đường Hào, Đường An, Đa Cẩm.

4. Phủ Tam Giang [Phú Thọ, Sơn Tây, Vĩnh Phúc] gồm 3 châu: Thao Giang, Tuyên Giang, Đà Giang.

– Châu Thao Giang lãnh 4 huyện: Sơn Vi, Ma Khê, Thanh Ba, Hạ Hoa.

– Châu Tuyên Giang lãnh 3 huyện: Đông Lan, Tây Lan, Hổ Nham.

– Châu Đà Giang lãnh 2 huyện: Lũng Bản, Cổ Nông.

5. Phủ Kiến Bình [Ninh Bình] gồm 1 châu: Trường Yên. Bản phủ thân lãnh 5 huyện: Ý Yên, Yên Bản, Bình Lập, Đại Loan, Vọng Doanh. 

– Châu Trường Yên lãnh 4 huyện: Uy Viễn, Yên Mô, An Ninh, Lê Bình.

6. Phủ Tân An [Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương] gồm 3 châu: Đông Triều, Tĩnh An, Hạ Hồng. Bản phủ thân lãnh 5 huyện: Hiệp Sơn, Thái Bình, Đa Dực, A Khôi, Tây Quan. Các châu dưới quyền gồm các huyện liệt kê như sau:

– Châu Đông Triều lãnh 4 huyện: Đông Triều, An Lão, Cổ Phí, Thủy Đường.

– Châu Tĩnh An lãnh 8 huyện: Đồng An, Chi Phong, An Lập, An Hòa, An Đại, Độc, Vạn Ninh, Vân Đồn.

– Châu Hạ Hồng lãnh 4 huyện: Trường Tân, Tứ Kỳ, Đồng Lợi, Thanh Miện. 

7. Phủ Kiến Xương [Hưng Yên] gồm Khoái Châu. Bản phủ trực tiếp lãnh 4 huyện: Bổng Điền, Kiến Xương, Bố, Chân Lợi.

– Châu Khoái lãnh 5 huyện: Tiên Lữ,Thi Hóa, Đông Kết, Phù Dung, Vĩnh Cô.

8. Phủ Phụng Hóa [Nam Định] gồm 4 huyện: Mỹ Lộc, Giao Thủy, Tây Chân, Thuận Vi.

9. Phủ Thanh Hóa [tỉnh Thanh Hoá] gồm 3 châu: Thanh Hóa, Ái, Cửu Chân. Bản phủ lãnh 7 huyện: Cổ Đằng, Cổ Hoằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, An Định, Lương Giang.

– Châu Thanh Hóa lãnh 4 huyện: Nga Lạc, Tế Giang, An Lạc, Lỗi Giang.

– Châu Ái lãnh 4 huyện: Hà Trung, Thống Ninh, Tống Giang, Chi Nga.

– Châu Cửu Chân lãnh 4 huyện: Cổ Bình, Kết Duyệt, Duyên Giác, Nông Cống.

10. Phủ Trấn Man [Thái Bình] gồm 4 huyện: Tân Hóa, Đình Hà, Cổ Lan, Thần Khê.

11. Phủ Lạng Sơn [Cao Bằng, Lạng Sơn] gồm 7 châu: Thất Nguyên, Thượng Văn, Hạ Văn, Vạn Nhai, Quảng Nguyên, Thượng Tư, Hạ Tư Lang. Bản phủ trực tiếp lãnh 7 huyện: Tân An, Như Ngao, Đan Ba, Khâu Ôn, Trấn Di, Uyên, Đổng.

– Châu Thất Nguyên gồm 6 huyện: Thủy Lãng, Cầm, Thóat, Dung, Pha, Bình.

– Thượng Văn lãnh 3 huyện: Bôi Lan, Khánh Viễn, Khố.

12. Phủ Tân Bình [Quảng Bình] gồm 2 châu: Chính Bình, Nam Linh. Bản phủ trực tiếp lãnh 3 huyện: Phúc Khang, Nha Nghi, Tri Kiến.

– Châu Chính Bình lãnh 3 huyện: Chính Hòa, Cổ Đặng, Tòng Chí.

– Châu Nam Linh lãnh 3 huyện: Đan Duệ, Tả Bình, Dạ Độ.

13. Phủ Diễn Châu [Bắc Nghệ An] gồm 1 châu: Diễn Châu. Diễn Châu lãnh 4 huyện: Thiên Đông, Phù Dung, Phù Lưu, Quỳnh Lâm.

14. Phủ Nghệ An [Nghệ An, Hà Tĩnh] gồm 2 châu: Nam Tĩnh, Hoan. Bản phủ lãnh 8 huyện: Nha Nghi, Phi Lộc, Cổ Đỗ, Chi La, Chân Phúc, Thổ Do, Kệ Giang, Thổ Hoàng

– Châu Nam Tĩnh lãnh 4 huyện: Hà Hoàng, Nham Thạch, Hà Hoa, Kỳ La.

– Châu Hoan lãnh 4 huyện: Thạch Đường, Đông Ngạn, Lộ Bình, Sa Nam.

15. Phủ Thuận Hóa [Thừa Thiên, Quảng Trị]gồm 2 châu: Thuận, Hóa.

– Châu Thuận lãnh 3 huyện: Ba Lãng, Lợi Điều, An Nhân.

– Châu Hóa lãnh 7 huyện: Lợi Bồng, Sĩ Vinh, Sạ Lệnh, Trà Kệ, Tư Dung, Bồ Đài, Bồ Lãng.

Đổi 5 trấn thành 5 châu:

Riêng 5 trấn cũ như Thái Nguyên được đổi thành 5 châu: Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Qui Hóa, Quảng Oai; tất cả trực thuộc vào ty Bố Chính.

– Châu Thái Nguyên [Thái Nguyên, Bắc Kạn] lãnh 11 huyện: Phú Lương, Ty Nông, Vũ Lễ, Động Hỷ, Vĩnh Thông, Tuyên Hóa, Lộng Thạch, Đại Từ, An Định, Cảm Hóa, Thái Nguyên.

– Châu Tuyên Hóa [Tuyên Quang, Hà Giang] lãnh 9 huyện: Khoáng, Đương Đạo, Văn Yên, Bình Nguyên, Để Giang, Thu Vật, Đại Man, Dương, Ất.

– Châu Gia Hưng [Sơn La, Phú Thọ] lãnh 3 huyện: Lung, Mông, Tứ Mang.

– Châu Qui Hóa [Yên Bái, Lao Kay] lãnh 4 huyện: An Lập, Văn Bàn, Văn Chấn, Thủy Vĩ.

– Châu Quảng Oai [Sơn Tây] lãnh 2 huyện: Ma Lung, Mỹ Lương.

Lập các kho tàng; ty, cục thuế khóa:

Lập kho Vĩnh Doanh tại ty Bố chính Giao Chỉ.

Lập ty đặc trách về y học và tăng cang tại phủ Giao Châu.

Xây trại nuôi ngựa trạm Phong Doanh và kho lúa Vĩnh Phong tại sông Lô.

Lập kho Vĩnh Doanh, cùng kho lúa Thường Phong tại phủ Kiến Bình.

Lập kho lúa Phong Tế tại phủ Tam Giang.

Xây trường Nho học tại châu Gia Lâm.

Lập ty thuế khóa tại 4 phủ: Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Kiến Bình.

Lập cục thuế khóa tại 8 châu: Phúc An, Tam Đái, Từ Liêm, Lợi Nhân, Gia Lâm, Vũ Ninh, Bắc Giang. Tuyên Hóa.

Lập cục thuế khóa tại 20 huyện: Ứng Bình, Đại Đường, Sơn Định, Thanh Oai, Ninh, Tế Giang, Thiện Tài, Vũ Ninh, Đông Ngàn, Thanh Lâm, Chí Linh, Bình Hà, Cổ Dõng, Thanh An, Thái Bình, Đa Dực, A Côi, Tây Quan, Trường Tân, Đồng Lợi.

Lập cục thuế khóa tại 5 địa phương: xứ Ma Lãng huyện Đa Cẩm, xứ Hạ Xương huyện Bảo Lộc, xứ Kim Lũ huyện Đường Hào, xứ Tư Vương huyện Đường An, xứ Giáp Sơn huyện Giáp Sơn.

Bến thuyền bè đậu gồm 21 nơi:

1. Dọc trường giang từ phủ Bắc Giang cho đến châu Tam Đái.

2. Tại Thượng Cổ, châu Từ Liêm.

3. Tại Dưỡng Ngoạn, châu Lợi Nhân

5. Vùng trường giang thuộc châu Tuyên Hóa.

6. Tại Binh Thần, huyện Từ Liêm.

7. Tại Giang Đàm thuộc huyện Đại Đường.

8. Tại Sơn Định, huyện Sơn Định.

9. Tại Thanh Oai, huyện Thanh Oai.

10. Tại Kinh Thai, huyện Đường An.

11. Tại Ông La, huyện Thanh Viễn.

12. Cửa biển Yên Mô, huyện Yên Mô.

13. Tại Xa Lật, huyện Đông Kết.

14. Tại Viên Quang, huyện Giao Thủy.

15. Tại Phần Trì, huyện Cổ Dõng.

16. Tại Đống Mỹ, huyện Bình Hà.

17. Tại Cổ Trai Trường, huyện An Lão.

18. Xã A Niếp, huyện Chi Phong.

19- 20- 21. Xã Tứ Kỳ, xã vực Cá Lũ, xã An Định thuộc huyện Tứ Kỳ.

Đặt 67 ty tuần kiểm:

1. Bà Gia, thuộc huyện Từ Liêm.

2. Sông Tam Nghị, huyện Ứng Bình.

3- 4. Cửa sông Tam Giang, cầu Trường Tân, thuộc huyện Đại Đường

5- 6. Cửa sông Hà Lỗ, cầu Đường Giang, thuộc huyện Phù Dung.

7. Trấn tại cửa sông, huyện Phù Long.

8. Trấn Viên Sơn, huyện Phù Ninh.

9. Trấn Xa Lang, huyện Lập Thạch.

10. Cửa sông Hát Giang, huyện Đan Sơn.

11. Kinh Thừ, huyện Thanh Liêm.

12. Sông Ninh Giang, huyện Bình Lục.

13- 14. Cầu Pháo, cửa sông Vĩnh Giang, thuộc huyện Cổ Bảng.

15- 17.Cửa sông Tam Giang, Xá Thượng, Cứu Lan, thuộc huyện Gia Lâm.

18. Cửa sông Bình Than, huyện Thanh Lâm.

19. Bến đò Cổ Pháp, huyện Chí Linh.

20- 22. Cửa biển Đa Ngư, cửa Đôi, cửa sông An Phố, thuộc huyện Bình Hà.

23. Cửa sông A Lao, huyện Đa Cẩm.

24. Trần Xá, huyện Sơn Vi.

25. Núi Hoa Nguyên, huyện Ma Khê.

26. Đãng Hôi, huyện Hạ Hoa.

27. Cửa sông Cổ Lưu, huyện Đông Lan.

28. Hiên Quan, huyện Tây Lan.

29. Cửa sông Tam Kỳ, huyện Hổ Nham.

30. Phí Xá, huyện Lũng Bản.

31. Sái Xá, huyện Cổ Nông.

32. Sông Lộ Bái huyện Ý Yên.

33. Cửa bể Đại An, huyện Đại Loan.

34. Sông Sơn Thủy, huyện An Ninh.

35. Núi Sinh Dược, huyện Lê Bình.

36. Cửa biển Thần Đầu, huyện Yên Mô.

37- 38. Sông Liêu, cửa kênh Đa Các, thuộc huyện Thái Bình.

39. Lật Giang, huyện Đa Dực.

40. Bến Chi Long, huyện A Khôi.

41. Xã Chi Lai, huyện Tây Quan.

42. Sông Thiên Liêu, Đồn Sơn thuộc châu Đông Triều.

43. Cửa biển xã Phù Đái, huyện Cổ Phí,

44. Cửa Lão, cửa biển Đa Hỗn, thuộc huyện An Lão.

45. Cửa biển Đồng An, huyện Đồng An.

46. Cửa biển xã Đa Lý, huyện Chi Phong.

47. Cửa biển Tiểu Bạch Đằng, huyện An Hòa.

48. Xã Ba Liễu, huyện Trường Tân.

49. Đội Vực Cá Lâu, đội Du Giang, đội Chúc Thủy; huyện Tứ Kỳ.

50. Đa Dặc, huyện Đồng Lợi.

51. Bổng Điền, huyện Bổng Điền.

52. Cửa sông Hoàng Giang, huyện Kiến Xương.

53. Cửa Hải Môn, huyện Chân Lợi.

54. Cửa khẩu Xa Lật, huyện Đông Kết.

55. Cửa khẩu sông Ninh Giang, huyện Mỹ Lộc.

56. Cửa khẩu Đái Giang, huyện Tây Chân.

57- 58. Cửa sông A Giang, Hội Giang, thuộc huyện Thuận Vi.

59- 60. Cửa biển Thiêm Phúc, cửa Giao, thuộc huyện Giao Thủy.

61. Hương Thạch Tư, thuộc huyện Thu Vật.

62. Cầu Bắc Quả, huyện Đại Man.

63. Xã Chi Lan, huyện Đương Đạo.

64. Cửa sông Vị Long, huyện Văn An.

66. Bắc Cù, huyện Bình Nguyên.

67. Trấn Tích Sơn, huyện Để Giang.

Lập 7 trạm dịch dùng ngựa, gồm:

  1. Trạm Khương Kiều, huyện Thanh Liêm.
  2. Trạm Bảo Phúc, huyện Bảo Phúc.
  3. Trạm Gia Lâm, huyện Gia Lâm.
  4. Trạm Thị Cầu, huyện Vũ Ninh.
  5. Trạm Vĩnh An, huyện Bình Lục.
  6. Trạm Sinh Dược, huyện Lê Bình.
  7. Trạm Cần Trạm, huyện Bảo Lộc.

Lập 5 sở chuyển vận, gồm:

  1. Sông Lô, tại phủ Giao Châu.
  2. Thị Cu, tại huyện Vũ Ninh.
  3. Cần Trạm, tại huyện Bảo Lộc.
  4. Kê Lăng.
  5. Khâu Ôn.

Thiết lập ty Tăng Hội tại huyện Thạch Thất, ty Đề Cử diêm khóa (7) Giao Chỉ, hai công trường diêm khóa Quảng Từ và Đại Hoàng. Cải Kê Lăng quan thành Trấn Di quan. (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 259).

______

Chú thích:

1. Lỗi Giang: một nhánh của sông Mã ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, hạ lưu thông với sông Đại Lại.

2. Điển Canh: sau là cửa Ghép hay cửa Mom thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

3. Thâm Giang: Tức cửa sông Ngàn Sâu ở tỉnh Hà Tĩnh.

4. Cửa Kỳ La: ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

5. Vệ Vĩnh Định: Thời Minh Kiến Văn [1399- 1402] đổi vệ Đại Dung thành vệ Vĩnh Định, thuộc Đô ty Hồ Quảng.

6. Núi Cao Vọng: ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

  1. Ty đề cử diêm khoá: Ty quản lý về muối.

Biết thêm từ “Chính đề Việt Nam” (Phần 5)

 

Biết thêm từ “Chính đề Việt Nam” (Phần 5)

Nguyễn Đình Cống

3-1-2022

Tiếp theo phần 1 — phần 2 — phần 3 — phần 4

9- Phần III (B): Cơ sở hạ tầng vô tổ chức

Đó là sự kém tổ chức ở nông thôn dưới Triều Nguyễn, đặc biệt là các làng xã ở phía Nam, từ Thừa Thiên trở vào dân cư sống rải rác. Đúng ra dân cư phải sống tập trung. Sự tản mát của làng gây tai hại về quốc phòng, nhân sinh, xã hội, văn hóa, kinh tế (ý mới).

Sự đô hộ của Pháp đã gây ra ba thảm họa. Một là Tây phương hóa bắt buộc. Bị bắt buộc vì dân chúng không muốn, không có kế hoạch, không được hướng dẫn. Vì bị bắt buộc nên lợi ít, hại nhiều. Hai là xã hội bị tan rã, giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất mà giá trị tiêu chuẩn mới không có, xã hội không còn biết tin váo cái gì, tin vào ai. Ba là sự gián đoạn trong lãnh đạo quốc gia.

Tùng Phong viết: “Quan niệm quét sạch tàn tích trước để xây dựng tương lai là rất ấu trĩ của quần chúng không được huấn luyện về văn hóa. Không người lãnh đạo có lương tri nào, kể cả những người cách mạng cuồng nhiệt nhất có quyền nuôi một ý tưởng như vậy. Bởi vì không có hành động nào có hại cho một dân tộc bằng hành động quét sạch tàn tích trước để xây dựng tương lai (trùng ý, ngưng bình luận).

Rồi chuyện phân chia lãnh thổ. Đó là một trở lực lớn của phát triển. Dân cả hai miền đều cảm nhận sự phân chia này như là một phần của tổ tiên bị cưỡng đoạt. Họ đều có mong ước được thống nhất. Phân chia lần này khác với phân chia Trịnh Nguyễn về mục đích cũng như đường lối về quản trị và phát triển xã hội. Tùng Phông nhận đinh: “Một sự thống nhất không thể nào thực hiện được mà không mang đến những trạng huống đau khổ cho toàn dân, bởi vì một sự thống nhất như vậy sẽ tạo ra một số người thất cước là phân nửa dân tộc trong một thế hệ”. (Thất cước: mất chân).

Về nguyên nhân của sự phân chia, Tùng Phong viết: “Từ chính sách thuộc địa thiển cận của Pháp và sự không thấu triệt vấn đề của một số nhà lãnh đạo của chúng ta, chẳng những tạo ra một cuộc tranh giành độc lập vô cùng tiêu hao, lại còn dẫn đến tình trạng phân chia ngày nay, một trở lực vô cùng tai hại cho công cuộc phát triển dân tộc”.

Sự không thấu triệt ở chỗ không biết lợi dụng mâu thuẫn của khối Cộng sản và Tây phương để đưa VN ra khỏi vòng ảnh hưởng của hai khối – (Trùng ý).

Vấn đề quan trọng là phát triển. Vậy phải thống nhất trước rồi phát triển sau hay là hai miền cứ phát triển rồi thống nhất sau.

Để thống nhất trước thì sẽ tiêu hao nhiều sinh lực của dân tộc đáng lẽ để phát triển. Nếu thống nhất do Bắc Việt thực hiện thì không tránh khỏi sự chi phối của Trung Cộng và rồi họ sẽ thực hiện được dã tâm. Nếu thống nhất do Nam Việt thực hiện thì cũng bị Tây phương chi phối.

Khi hai miền đều phát triển trong hòa bình, đến lúc phát triển đủ cao thì sẽ thống nhất. Phương án này cũng gặp trở ngại là hai miền sẽ phát triển theo ý thức hệ khác nhau. Tuy vậy có nhiều khả năng khắc phục được vì VN theo sát Nga Xô mà khi Nga Xô phát triển cao thì quan niệm về CS của họ sẽ thay đổi để gần với văn minh nhân loại.

10- Phần III (C): Vai trò của Miền Nam

Tuy đầu đề như thế nhưng nội dung chỉ có một đoạn đầu nói về vai trò của Miền Nam. Đó là trong khi Miền Bắc chịu áp lực của Trung Cộng thì còn có Miền Nam.

Tùng Phong viết: “Các nhà lãnh đạo miền Bắc khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi phát triển của chúng ta mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc… Giả sử Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính thì sự Trung Cộng thôn tính VN chỉ là một vấn đề thời gian. Trong hoàn cảnh hiện nay, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa đảm bảo một lối thoát cho các nhà lãnh đạo CS, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Xô”.

Tiếp theo, Tùng Phong trình bày vài ý kiến về vốn nhân lực, về khuôn khổ chính trị của miền Nam. Rồi ông đi sâu phân tích về phương pháp độc tài đảng trị của CS. Sau khi trình bày, đánh giá phương pháp, ông nhận xét về Nga Xô, nước này đã TPH theo phương pháp độc tài đảng trị, tuy có đạt một số thành tích, nhưng không thể bảo đảm được sự thành công của việc phát triển dân tộc toàn diện.

Tùng Phong trình bày tiếp về vấn đề “Thăng bằng động tiến” (Giữ cân bằng trong phát triển, trong hoạt động). Đây là vấn đề nặng về lý thuyết. Rồi ông phân tích các nhược điểm của miền Nam ảnh hưởng đến sự phát triển như là dân số ít, người dân thiếu tính khí (ý chí, bản lĩnh), vô tổ chức. Ông trình bày tiếp về tổ chức quần chúng và tổ chức chính trị, cách tổ chức và sự hoạt động, vai trò của các tổ chức đó trong xã hội. Đoạn cuối ông trình bày về vốn tài nguyên, về nhu cầu dài hạn của tập thể, về đóng góp trang bị kỹ nghệ.

Bình luận: Phần này Tùng Phong viết quá lan man.

11- Phần III (D): Đường lối phát triển

Mỗi quốc gia có đường lối phát triển riêng, không giống nhau. Tùng Phong viết: “Nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo là tìm cho được các yếu tố quy định đường lối phát triển thích nghi với dân tộc… Chủ trương một đường lối phát triển riêng cho dân tộc không có nghĩa là phủ nhận những kinh nghiệm của các quốc gia đã đi trước và phủ nhận những điều tương đồng trong công cuộc phát triển của các quốc gia. Trái lại chỉ có sự nghiên cứu các kinh nghiệm phát triển, ở mọi nơi, mới tạo đủ điều kiện cho các nhà lãnh đạo…”

Đầu tiên, ông đưa ra mục tiêu về kinh tế, cho rằng: “Mục tiêu càng cao sự đóng góp của nhân dân càng nặng, thời gian càng ngắn sự gian nan của nhân dân càng sâu đậm”. Rồi ông dẫn ra trường hợp Trung Cộng. Họ đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa phương Tây và Nga Xô để phát triển, nhưng vì mộng xâm lăng và những sai lầm mà họ đã đẩy nhân dân vào những thảm họa.

Trường hợp Việt Nam, Tùng Phong cho rằng VN không gặp những khắc nghiệt như Trung Quốc, nếu biết lợi dụng mâu thuẫn giữa Nga Xô và phương Tây thì trong 20 năm vừa qua đã có được sự phát triển đáng kể.

Lãnh đạo VN vẫn không thoát khỏi tâm lý thuộc quốc. Đã có điều kiện thuận lợi để thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa, đặc biệt là văn hóa, nhưng, theo Tùng Phong thì “Các nhà lãnh đạo CS Bắc Việt không tỏ ra ý thức tính cách quan trọng của cơ hội này… Từ hai mươi năm nay cơ hội phát triển đã đến với chúng ta, nhưng chúng ta chưa nắm được. Từ mười năm nay Bắc Việt chưa thực hiện được những mục tiêu phát triển đáng kể. Các thực hiện phát triển của Nam Việt đều bị du kích quân của Bắc Việt phá hoại… Như thế thì, các nhà lãnh đạo của chúng ta có phải đã đi đúng hướng hay không”.

Bình luận: Tùng Phong cho rằng VN không gặp những khắc nghiệt như Trung Quốc. Không gặp khắc nghiệt này thì lại gặp thứ khác khắc nghiệt hơn. Đó là trong khi Nga Xô và Trung Cộng xem CS chỉ là lý thuyết để đấu tranh thì lãnh đạo CS Bắc Việt xem nó là chân lý và tôn thờ như một Giáo lý.

(Còn tiếp)

Myanmar, Daw Aung Suu Kyi và cuộc cách mạng: Những năm đầu tiên (Phần 1)

 

Myanmar, Daw Aung Suu Kyi và cuộc cách mạng: Những năm đầu tiên (Phần 1)

NachDenkSeiten

Tác giả: Marco Wenzel

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

2-1-2022

Aung San, cha của bà Aung San Suu Kyi. Nguồn: AFP

Vào ngày 19 tháng 7 năm 1947, sáu tháng trước khi Myanmar được trao trả độc lập, Aung San, phó chủ tịch hội đồng điều hành của thống đốc Anh và do đó trên thực tế là người đứng đầu chính phủ, đang chủ trì một cuộc họp tại Rangoon, thủ đô của Miến Điện. Lính nổi dậy xông vào phòng họp và bắn chết 9 thành viên nội các, trong đó có Aung San, chồng của Khin Kyi.

Ông đã để lại ba người con, bao gồm một ủy viên hội đồng nhà nước và là người đứng đầu chính phủ Myanmar sau này, Aung Suu Kyi, khi đó mới hai tuổi. Đảng viên đảng xã hội chủ nghĩa U Nu lên, thế Aung San làm thủ tướng. Thủ lĩnh của đội cảm tử đã bị bắt và bị treo cổ.

Bức ảnh chụp gia đình, Aung San Suu Kyi (mặc đồ trắng) còn chập chững, được chụp năm 1947, ngay trước khi vụ ám sát cha của bà diễn ra. Nguồn: Reuters

Trong thời kỳ hỗn loạn chiến tranh, Aung San đã tập hợp một nhóm nhỏ những người chống đối quyền lực thuộc địa Anh với mục đích đánh đuổi người Anh ra khỏi Miến Điện và thành lập một quốc gia độc lập. Nhóm người này đã trở thành huyền thoại với cái tên “Ba mươi đồng chí“. Ba mươi đồng chí đã trở thành cha đẻ của nền độc lập Miến Điện và những người thành lập quân đội, sau này biến thành quân đội Tatmadaw bất hạnh và thành lập một nhà nước riêng trong nước Miến Điện. Sẽ nói thêm về điều này bên dưới.

Đầu tiên, ba mươi đồng chí quay sang Nhật Bản, nước dùng khẩu hiệu “Châu Á của người châu Á”, dường như đang theo đuổi mục tiêu giống như những người yêu nước Miến Điện, đó là đánh đuổi thực dân Anh khỏi châu Á. Người Nhật nhìn thấy cơ hội của họ, huấn luyện đồng đội của họ ở Nhật Bản và hỗ trợ họ bằng vũ khí. Cùng với quân Nhật, ba mươi đồng đội dưới quyền của Aung San đã tiến vào Miến Điện với một đội quân nhỏ vào đầu năm 1942 và đánh đuổi quân Anh ra khỏi Miến Điện.

Nhưng khi phát hiện ra rằng Nhật Bản muốn thiết lập một chế độ bù nhìn phát xít ở Miến Điện và sau khi người Anh bị trục xuất, họ hoàn toàn không sẵn sàng để lại Miến Điện cho người Miến, Aung San và các đồng chí của ông đã quay về phía đồng minh, tuyên chiến với Nhật Bản và cùng nhau thành công đuổi Nhật Bản ra khỏi Miến Điện.

Vụ sát hại Aung San sáu tháng trước khi Miến Điện độc lập là một trở ngại lớn đối với Miến Điện vì Aung San là nhân vật quan trọng nhất trong quá trình hội nhập. Vào tháng 2 năm 1947, năm tháng trước khi ông qua đời, tại một hội nghị ở Panlong, thuộc bang Shan, nay là Myanmar, ông đã ký một thỏa thuận với các dân tộc thiểu số Shan, Kachin và Chin, nhằm đảm bảo quyền của họ trong một nhà nước liên bang tương lai. Một bước quan trọng đầu tiên cho sự hòa nhập của khoảng 135 nhóm sắc tộc khác nhau trong một nước Miến Điện liên bang sau này. Aung San là một trong số ít người, được những người thiểu số tin tưởng. Nhà nước liên bang chưa bao giờ trở thành hiện thực và các cuộc đụng độ vũ trang thường xảy ra giữa các nhóm sắc tộc và chính quyền trung ương do Bamar kiểm soát, nhóm dân tộc lớn nhất ở Miến Điện, bắt đầu vào cuối năm 1949 và tiếp tục cho đến ngày nay.

Vào ngày 4 tháng 1 năm 1948, Miến Điện được trao trả độc lập và tiếp theo là một giai đoạn dân chủ với các khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và Phật giáo cho đến cuộc đảo chính quân sự năm 1962, nhưng luôn nằm dưới sự cai trị của dân tộc Bamar, mà bà Aung Suu Kyi cũng thuộc về dân tộc này.

Chúng tôi bỏ qua 40 năm ở đây. Chúng tôi chỉ muốn đề cập rằng Aung San Suu Kyi, tên đầy đủ của bà, lớn lên ở Ấn Độ, nơi mẹ bà là đại sứ, và sau đó bà học ở Oxford. Từ năm 1969 đến năm 1971, bà làm việc trong Ban Thư ký Liên Hiệp quốc tại New York. Năm 1972, bà kết hôn với nhà nghiên cứu Tây Tạng người Anh, Michael Aris và cùng ông chuyển về Oxford. Hai người có hai con trai. Từ năm 1985 đến 1986 Aung Suu Kyi học ở Kyoto, Nhật Bản, và sau đó cùng chồng chuyển đến miền Bắc Ấn Độ, nơi Aris nhận được một công việc tại Đại học Simla. Michael Aris qua đời ở Anh năm 1999.

Miến Điện thập niên 1980

Đảng Cộng sản Miến Điện (CPB), cùng với “Đảng chống chủ nghĩa phát xít“ (AFPPL) của Aung San đã chiến đấu đầu tiên chống lại người Anh và sau đó chống lại người Nhật để giành độc lập, đã bị cấm vào năm 1948. Họ phải hoạt động ngầm và từ đó đã lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang chống lại chính phủ ở Rangoon.

Aung San từng là thành viên sáng lập của CPB. CPB chủ yếu thành lập ở đông bắc Miến Điện, nơi được đảng CSTQ hỗ trợ và cung cấp vũ khí. Theo chiến lược của Maoist, mục tiêu trước tiên là giành lấy đất nước và sau đó chinh phục các thành phố, một ngày nào đó sẽ tiến từ đó qua miền trung Miến Điện đến Rangoon, chiếm Rangoon và lật đổ chính phủ. Mãi đến năm 1989, CPB mới tan rã thành các nhóm riêng lẻ sau một cuộc đảo chính chống lại nhóm lãnh đạo của đảng.

Các nhóm dân tộc được cam kết cho tự trị, một lời hứa không được giữ sau cái chết của Aung San, cũng đã cầm vũ khí nổi dậy vào năm 1949. Các yêu cầu của họ, tùy từng trường hợp, hoặc là quyền tự chủ hoặc nền độc lập lớn hơn. Tùy thuộc vào tình hình hiện tại, họ thành lập liên minh với nhau hoặc chiến đấu chống lại nhau, một số cũng ký kết các thỏa thuận tạm thời với quân đội. Tuy nhiên, trên hết, họ mở rộng việc trồng cây thuốc phiện và sau đó là sản xuất heroin để tài trợ cho việc mua vũ khí và các chiến dịch du kích. Ranh giới giữa những người đấu tranh cho tự do và những ông trùm ma túy, những người chỉ kiếm tiền để bỏ vào túi riêng của mình và không liên quan gì đến cuộc đấu tranh tự do ngày càng trở nên không rõ rệt và CPB cũng kiếm được tiền từ việc buôn bán ma túy.

Miến Điện đã trở thành nước xuất khẩu heroin lớn nhất thế giới kể từ những năm 1960. Các nhà máy sản xuất heroin ở biên giới với Thái Lan và Trung Quốc được tổ chức chặt chẽ và được bảo vệ bởi quân đội của họ. Chẳng hạn, trùm ma túy Khun Sa đã có một đội quân hơn 20 ngàn binh sĩ để bảo vệ lãnh thổ và các nhà máy sản xuất heroin của hắn vào những năm 1980. Khun Sa không phải là người duy nhất, nhưng có lẽ là trùm ma túy nổi tiếng nhất với quân đội của riêng mình trong khu vực.

“Tam giác vàng” nằm trong khu biên giới 3 nước Lào, Thái Lan và Miến Điện đã trở thành huyền thoại, nơi có các xưởng sản xuất heroin trên đất Miến Điện, đường xuất khẩu qua Thái Lan sang Bangkok hoặc qua Lào, Trung Quốc đến Sài Gòn, Hồng Kông và từ đó hàng tấn ma túy lần lượt được vận chuyển khắp nơi trên thế giới. Bangkok, Hong Kong và Sài Gòn, tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, trở thành những điểm trung chuyển heroin lớn nhất thế giới; ma túy được vận chuyển theo đoàn xe, được bảo vệ bởi các quan chức tham nhũng, hàng tấn qua đường bộ đến các cảng.

Trong chiến tranh Việt Nam, người ta ước tính rằng, một phần tư tổng số lính Mỹ nghiện heroin, và heroin thậm chí còn được các thương nhân chuyển thẳng đến doanh trại. Ở quê nhà, cuộc chiến chống Cộng sản Việt Nam đã kết thúc, nhưng nạn nghiện heroin vẫn còn và heroin tiếp tục từ tam giác vàng đến New York và Chicago.

Ngày nay việc sản xuất ma túy ở Myanmar vẫn hoạt động mạnh, nhưng nó đã được chuyển sang sử dụng thuốc viên amphetamine (Ya Ba) và hiện chủ yếu cung cấp cho thị trường châu Á. Và số tiền thu được không còn chỉ được dùng để mua vũ khí giành độc lập, mà để tài trợ cho toàn bộ các công ty trong lĩnh vực bất động sản, khai thác mỏ, xây dựng dân dụng, v.v…

Các tổ chức xã hội đen đã chiếm lĩnh thị trường từ lâu. Và, làm thế nào nó có thể khác được, Tatmadaw cũng có phần trong đó. Nếu Tatmadaw không bị lật đổ và các nhóm sắc tộc hợp nhất thành một nước cộng hòa liên bang Myanmar, vấn đề ma túy ở tam giác vàng và trong các khu vực do quân nổi dậy kiểm soát sẽ không bao giờ được giải quyết. Tất cả các quốc gia trong khu vực ngày nay đều có vấn đề lớn về ma túy, và họ cũng sẽ có lợi nếu Myanmar thống nhất và có được một chính phủ dân sự.

Năm 1962, quân đội nắm quyền trong một cuộc đảo chính, và cho đến năm 2016 Miến Điện không có chính phủ dân sự. (Người ta có thể nói về một “chính phủ dân sự“ ở mức độ nào, sẽ tìm hiểu thêm về vấn đề này trong Phần 2 & 3). Quân đội đã cai trị Myanmar, trước đó là Miến Điện, không gián đoạn trong 60 năm. Quân đội giả vờ xây dựng một “nhà nước xã hội chủ nghĩa”, nhưng trên thực tế, quân đội theo đuổi lợi ích kinh tế của riêng mình và tăng cường quyền lực của mình. Nó phong tỏa đất nước với thế giới bên ngoài và biến nơi từng là quốc gia giàu có nhất Đông Nam Á thành một ngôi nhà nghèo.

Quân đội phát triển thành một quốc gia trong một quốc gia, giống như một đội quân chiếm đóng trên chính quốc gia của mình. Nó tách mình ra khỏi quần chúng và hiện đang sống trong một thế giới của riêng nó với những đặc quyền chỉ áp dụng cho họ. Một nền dân chủ ở Miến Điện có nghĩa là sự kết thúc của Tatmadaw và đế chế của họ mà người dân phải trả giá. Nội chiến đã bùng phát ở Miến Điện mà không bị gián đoạn kể từ năm 1949. Người dân Miến Điện phản đối chế độ quân sự vô số lần và liên tục bị đánh gục bằng bạo lực tàn bạo.

Trở lại Miến Điện

Sự nghiệp chính trị của Suu Kyi bắt đầu từ năm 1988 khi bà trở về Miến Điện vào tháng 4 để chăm sóc mẹ sau một cơn đột quỵ. Năm 1988, Miến Điện rơi vào một giai đoạn hỗn loạn. Sự phẫn nộ của người dân chống lại Tatmadaw đang sôi sục.

Vào tháng 9 năm 1987, chính quyền quân đội chỉ qua một đêm bằng sắc lệnh đã tuyên bố các loại tiền giấy 25, 35 và 75 kyat không còn có giá trị và thay thế chúng bằng các loại tiền mới 45 và 90 kyat. Không có quyền đổi tiền. Điều này có nghĩa là hơn một nửa số tiền giấy đang lưu hành trở thành vô giá trị trong một đêm. Những người nghèo bị ảnh hưởng nhiều nhất, bao gồm cả những sinh viên đang đóng học phí vào thời điểm đó và giờ có những khoản tiền không còn giá trị trong túi.

Ngay cả những tờ tiền 35 và 75 kyat khác thường cũng là kết quả của sự mê tín của Ne Win, nhà lãnh đạo cuộc đảo chính năm 1962, là người vẫn là chủ tịch của BSPP (Đảng Chương trình Xã hội Chủ nghĩa Miến Điện) cầm quyền và là người đã bãi bỏ tờ 100 kyat. Việc giới thiệu các tờ tiền bất thường 45 và 90 kyat đã được thực hiện, tin hay không, bởi vì thầy bói và “nhà chiêm tinh của triều đình“ đã nói với ông ta rằng chín là con số may mắn của cá nhân ông ta và rằng cả 45 và 90 đều chia chẵn cho chín.

Nhà độc tài quân phiệt Ne Win (1911-2002). Nguồn: Alchetron

Vào ngày 12 tháng 3 năm 1988, các sinh viên đã đụng độ với những vị khách say xỉn trong một cuộc ẩu đả tại một phòng trà ở Rangoon mà không có lý do. Một đơn tố cáo tội phạm đã được đệ trình và cảnh sát đã bắt giữ những kẻ côn đồ. Hóa ra một trong những nghi phạm gây ra vụ ẩu đả là con trai của chủ tịch “Hội đồng Nhân dân“ do chính phủ bổ nhiệm. Sau đó các sinh viên kéo đến trụ sở chính thức của Hội đồng Nhân dân. Quân đội được đưa đến và bắn vào sinh viên. Một số sinh viên bị thương và ít nhất một sinh viên thiệt mạng. Đó là giọt nước làm tràn ly. Vào ngày 18 tháng 3, hàng ngàn người đã phản đối chính quyền trên các đường phố ở Yangon.

Những người biểu tình xuống đường tại một đường phố ở trung tâm thành phố Rangoon hồi tháng 8/1988. Sinh viên, công chức, nhà sư và những người khác đã tham gia các cuộc biểu tình vào mùa hè năm đó. Nguồn: Gaye Paterson/ NPR

Chính quyền đã đáp trả bằng bạo lực tàn khốc và đập tan cuộc biểu tình. Ít nhất 42 thanh niên thiệt mạng. Nhưng các cuộc biểu tình vẫn tiếp tục. Vào ngày 23 tháng 7, Ne Win tuyên bố từ chức lãnh đạo đảng BSPP. Ngày 1 tháng 8, sinh viên kêu gọi một cuộc tổng đình công, bắt đầu vào ngày 8 tháng 8 năm 1988 lúc 8 giờ sáng (8-8-88). Và một lần nữa hàng ngàn người xuống đường đòi khôi phục nền dân chủ từ trước năm 1962. Các cuộc biểu tình lan rộng khắp đất nước. Một lần nữa quân đội lại bắn vào đám đông và giết chết vô số người biểu tình. Vụ giết người không kết thúc cho đến ngày 13 tháng 8. Người dân đã không nhụt chí và kêu gọi một cuộc tổng đình công mới vào ngày 25 tháng 8. Lần này, hàng triệu người tham gia biểu tình.

Cuộc biểu tình lớn nhất được tổ chức vào ngày 26 tháng 8, và chính tại đây, bà Aung Suu Kyi đã có bài phát biểu đầu tiên. Bà phải đi bộ qua đám đông. Trên bục diễn giả có treo một bức chân dung lớn của cha bà, anh hùng dân tộc Aung San, hiện thân của mọi thứ mà Miến Điện có thể trở thành nếu không có cuộc đảo chính năm 1962. Cho đến lúc đó, không ai biết bà Suu Kyi, họ chỉ biết bà là con gái của ai đó. Suu Kyi bắt đầu phát biểu và chiếm được cảm tình của những người có mặt trong chớp mắt. Từ ngày đó, phong trào dân chủ ở Miến Điện đã có một cơ quan ngôn luận mạnh mẽ và một nhà lãnh đạo mới.

Bà Aung San Suu Kyi phát biểu trước đám đông những người biểu tình ngày 26/8/1988. Nguồn: BBC

Phong trào đình công và phản đối bắt đầu vào ngày 8 tháng 8 đã kết thúc trong một cuộc tắm máu khác vào ngày 18 tháng 9. Chính quyền đã thay đổi một số người, tự gọi mình là SLORC (Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật Nhà nước) và tiếp tục cai trị theo chế độ thiết quân luật. Phần còn lại của thế giới phản ứng kinh hoàng, lên án vụ thảm sát và nhiều nước cắt đứt quan hệ với Miến Điện. Nhưng ngoài những lời nói suông, không có sự giúp đỡ cụ thể nào từ nước ngoài cho phong trào biểu tình non trẻ. Trung Quốc và Nga đã ngăn chặn việc lên án Miến Điện tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.

Các nhà sư cũng tham dự vào các cuộc biểu tình 8888. Ảnh: AFP

Cả Đảng Cộng sản và các nhóm sắc tộc đều ít nghe nói về cuộc bạo loạn ở Rangoon và đã không can thiệp. Họ quá bận rộn với những cuộc đấu tranh giữa chính họ và với những giao dịch mua bán (ma túy) của họ. Họ hầu như không quan tâm đến những sự kiện ở Rangoon xa xôi. Ngay chính trong những tuần diễn ra các cuộc biểu tình ở Rangoon, họ đã ngừng chiến đấu với chính quyền, và sự can thiệp của họ có thể góp phần đáng kể vào việc lật đổ chính quyền. Năm 1988, chế độ phải đối mặt với thách thức lớn nhất kể từ khi đảo chính để nắm quyền vào năm 1962.

Ngay sau đó, ngày 24 tháng 9 năm 1988, NLD được thành lập và bà Suu Kyi trở thành Tổng Thư ký. Bà đã đi khắp Miến Điện từ tháng 10 năm 1988 đến tháng 7 năm 1989 và có những bài phát biểu trước đám đông nhiệt tình ở mọi thị trấn và làng mạc trên đường đi. Điều này khiến chính quyền lo lắng, vì vậy vào ngày 20 tháng 7 năm 1989, Suu Kyi bị bắt và quản thúc tại gia. Đồng thời, nhiều thủ lĩnh NLD cũng bị bắt và bị tống vào tù.

Sau chiến dịch đàn áp các cuộc biểu tình vào ngày 18 tháng 9, chế độ tuyên bố bầu cử tự do và hứa sẽ giao lại quyền hành cho đảng nào giành chiến thắng. Bây giờ, với việc NLD bị đánh bại và lãnh đạo của nó bị quản thúc tại gia, SLORC bắt đầu chuẩn bị cho cuộc bầu cử, mà nó hy vọng sẽ giành chiến thắng mà không có sự phản đối đáng kể.

Chính quyền thống trị các phương tiện truyền thông, báo chí, đài phát thanh và truyền hình. Cuộc bầu cử tự do đầu tiên kể từ năm 1962 diễn ra vào tháng 5/1990. Tuy nhiên, SLORC đã đánh giá thấp sự căm ghét của quân đội trong dân chúng và người dân đã bỏ phiếu áp đảo cho NLD và các đảng đồng minh khác trong các khu vực dân tộc thiểu số. Cuộc bầu cử là một cuộc trưng cầu dân ý chống lại chế độ độc tài quân phiệt.

Dĩ nhiên, SLORC không muốn chuyển giao quyền hành cho một chính phủ dân sự như họ đã hứa. Thay vào đó, họ tuyên bố rằng hiến pháp phải được soạn thảo trước và cho đến lúc đó SLORC sẽ tiếp tục điều hành chính phủ. Các ứng cử viên của NLD đã bị bỏ tù và kết quả bầu cử bị bỏ qua. Phản ứng của NLD đối với điều này tương đối yếu do chính sách phản đối bất bạo động của nó. Họ vừa thông qua một nghị quyết kêu gọi SLORC từ chức, tham gia đối thoại và giao lại quyền hành cho một chính phủ dân sự. Tuy nhiên, SLORC không nghĩ đến một cuộc đối thoại và khẳng định sức mạnh của mình theo cách đã được áp dụng thành công bằng nòng súng.

Vào ngày 8 tháng 8 [năm 1990], kỷ niệm hai năm của cuộc nổi dậy năm 1988, các nhà sư đã xuống đường. Quân đội đánh đập họ và các nhà sư từ chối nhận bố thí của thân nhân quân đội. Ở Miến Điện một nước sùng bái đạo Phật, điều này tương đương với việc bị vạ tuyệt thông. Bởi theo quan niệm của đạo Phật, không phải người nhận là người được bố thí mà là người cho có cơ hội làm việc thiện để cải thiện nghiệp chướng của mình và đến một lúc nào đó sẽ thoát khỏi vòng luân hồi và lên cõi niết bàn. Đó là lý do tại sao ở các quốc gia Phật giáo, các nhà sư đi bộ trên đường vào mỗi buổi sáng sớm với chiếc bát khất thực của họ. Các Phật tử thuần thành bỏ một thứ gì đó có thể ăn được, thường là vài thìa gạo, vào trong bát ăn xin và do đó cải thiện nghiệp của họ. Cho nên không phải người nhận, mà là người cho, được làm cho hạnh phúc. Một nhà sư không trừng phạt ai nặng hơn bằng cách từ chối nhận của bố thí.

Khó ai có thể tưởng tượng được rằng quân đội sẽ có hành động chống lại các nhà sư, nhưng vào tháng 10 năm 1990, quân đội đã ập vào tất cả các tu viện chống lại quân đội và bắt giữ các nhà sư. Nhiều người bị bỏ tù, những người khác bị sát hại. Các nghị sĩ NLD của Nghị viện, vốn không bao giờ có thể gặp nhau, cũng bị bắt và bỏ tù. Sự kiện này đánh dấu sự kết thúc của phong trào dân chủ vào cuối tháng 10 năm 1990. Phải mãi đến năm 2007 các cuộc biểu tình hàng loạt xuất hiện trở lại [ở Miến Điện].

Ngày 18 tháng 6 năm 1989, Miến Điện được đổi tên thành Myanmar và thủ đô Rangoon được đổi tên thành Yangon. Suu Kyi bị quản thúc tại gia tổng cộng 15 năm, trong 21 năm, từ tháng 7 năm 1989 đến tháng 11 năm 2010. Cộng đồng quốc tế muốn ra dấu hiệu và năm 1991, bà Aung Suu Kyi đã được trao giải Nobel Hòa bình. Chính quyền quân phiệt bị phương Tây phản đối, xích lại gần Trung Quốc hơn, đất nước này vẫn bị cô lập dưới chế độ độc tài quân sự.

Tại sao Việt Á hối lộ bằng chuyển khoản?

 

Tại sao Việt Á hối lộ bằng chuyển khoản?

Đặc biệt là lời khai của ông Dương Chí Dũng về các lần đưa hối lộ cho môt số người, trong đó có Thượng tướng Phạm Quý Ngọ – thứ trưởng Bộ Công an. Tất cả đều dùng tiền mặt, không có lần nào chuyển khoản, dù số tiền rất lớn, phải đựng trong những chiếc va li và vận chuyển bằng ô tô. Vì thế, các cơ quan bảo vệ pháp luật không có chứng cứ trực tiếp để buộc tội. Tại tòa, các bị cáo chối tội hoặc nhận tội. Tòa kết tội các bị cáo là dựa trên những chứng cứ gián tiếp.

Không một tên tội phạm nào dại dột đến mức chuyển khoản một số tiền lớn như Phan Quốc Việt đã làm trong vụ thổi giá Kít xét nghiệm Covid-19. Theo lời khai của ông Vũ Đình Hiệp, Phó Tổng giám đốc Công ty Việt Á, tại cơ quan điều tra, “để đảm bảo việc chi tiền ngoài hợp đồng không bị cơ quan chức năng phát hiện, Phan Quốc Việt, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Việt Á, đã lập nhiều tài khoản đứng tên nhiều cá nhân là hộ kinh doanh cá thể để chuyển tiền qua các số tài khoản này, dưới hình thức là mua trang thiết bị, nguyên vật liệu phòng dịch”. Như vậy, lần này, những kẻ đưa và nhận hối lộ không thể chối tội. Làm rõ số tiền 4.000 tỉ đồng chuyển khoản từ ngân sách nhà nước vào tài khoản công ty Việt Á, để rồi từ đó Việt Á chi cho ai, ở đâu thì sẽ lôi ra tất cả những tên nhận hối lộ trong vụ án này.

Ảnh chụp báo NLĐ

Một câu hỏi đặt ra là tại sao Phan Quốc Việt lại chuyển khoản và để lại dấu vết? Sao không đưa tiền mặt như Phan Văn Anh Vũ, Phạm Nhật Vũ hoặc Dương Chí Dũng đã làm? Những câu hỏi như thế này sẽ là chủ đề nghiên cứu của môn tội phạm học. Chỉ có Phan Quốc Việt và những người trong cuộc mới trả lời chính xác là vì sao họ đưa và nhận như thế.

Có thể Phan Quốc Việt đã từng chuyển khoản như thế này trong các thương vụ trước, với số tiền nhỏ và đã an toàn nên sinh ra chủ quan, làm tiếp theo cách này. Cũng có thể, một phần nguyên nhân là do lúc dịch bệnh, phong tỏa, đi lại khó khăn, không thể tiếp xúc trực tiếp nên chỉ có thể chuyển khoản tiền hối lộ. Phan Quốc Việt “đã lập nhiều tài khoản đứng tên nhiều cá nhân là hộ kinh doanh cá thể để chuyển tiền qua các số tài khoản này, dưới hình thức là mua trang thiết bị, nguyên vật liệu phòng dịch” là đã có sự tính toán đối phó từ trước. Nhưng với cách làm này cho thấy, ông Phan Quốc Việt và một số giám đốc CDC rất chủ quan, coi thường nghiệp vụ điều tra của cơ quan công an Việt Nam.

Dịch Covid-19 cũng là dịp để nhân dân nhận mặt những kẻ trục lợi trên khổ đau và chết chóc của đồng loại. Dịch bệnh diễn ra quá gấp, quá sỡ hãi, đến mức người dân và chính phủ phải “đi từ ngõ, gõ từng nhà, rà từng người” để kít test. Nhưng thời gian cũng quá nhanh để bọn tội phạm không kịp tiêu hóa, không kịp rửa 4.000 tỉ đồng của ngân sách nhà nước. Covid 19 đem lại cho bọn này tiền bạc nhưng cũng chính Covid 19 hại bọn này. Đúng là “Thiên bất dung gian”.

Bộ Công an đã vào cuộc kịp thời. Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cũng đã và đang theo sát vụ Kít này. Vụ án đang điều tra với nhiều dấu hiệu thuận lợi. Mới đây, ông giám đốc CDC tỉnh Bình Phước xin trả lại 40 tỉ đồng tiền quà cho Công ty Việt Á. Vụ án có nhiều tình tiết sự kiện lạ lùng. Người dân đang chờ các cơ quan bảo vệ pháp luật lôi ra ánh sáng tất cả những tên nhận hối lộ tiền Kít lỗ mũi của họ.

Tài tử Myanmar được bình chọn là người đẹp trai nhất, khi trong lao tù

 

Tài tử Myanmar được bình chọn là người đẹp trai nhất, khi trong lao tù

Tuấn Khanh

2-1-2022

Nam tài tử người Miến Điện, Paing Takhon (25 tuổi). Ảnh: TC Candler

Nam tài tử người Miến Điện, Paing Takhon (25 tuổi) vừa được TC Candler bình chọn là gương mặt điện đẹp nhất trong danh sách 100 người được bình chọn của năm 2021. Điều đáng nói, là tổ chức này còn đặc biệt vinh Paing Takhon về việc anh đứng lên đấu tranh cho nhân dân mình, trước cuộc cướp chính quyền bằng bạo lực của quân đội. Tháng 4 năm 2021, Paing Takhon đã bị quân đội bắt giam vì ảnh hưởng quá lớn của mình trong phòng trào đòi dân chủ cho đất nước.

TC Candler, một trang web phê bình phim nổi tiếng, nơi vẫn luôn tổ chức cuộc thi thường niên về danh sách để xếp hạng những gương mặt điện ảnh. Đây là một trong những nơi được người hâm mộ điện ảnh tìm kiếm hàng đầu thế giới, kể từ năm 1990.

Theo bình chọn tổng kết 2021 của TC Candler, hai gương mặt Châu Á đang đứng đầu sự yêu thích của giới mộ điệu.

Ca sĩ Thái Lan Lisa của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Blackpink được bình chọn là Gương mặt đẹp nhất thế giới, theo danh sách 100 cái tên của Nữ giới năm nay do TC Candler tổng hợp và công bố vào thứ Ba (28-12). Người mẫu Israel Yael Shelbia, người đứng đầu danh sách năm ngoái, tụt xuống thứ sáu, trong khi Lisa 24 tuổi, người đứng thứ hai năm ngoái, nay đã vượt lên đứng ở vị trí số 1.

Trong danh sách Gương mặt đẹp trai nhất, người chiến thắng năm ngoái, ngôi sao YouTube Felix Kjellberg, cũng đã bị truất ngôi. Người Thụy Điển 32 tuổi, được biết đến với cái tên PewDiePie, tụt xuống thứ 9, trong đó người mẫu kiêm diễn viên người Myanmar Paing Takhon vượt lên đứng đầu danh sách năm nay. Chàng trai 25 tuổi này đã gây xôn xao mạng xã hội hồi tháng 1 năm nay, khi đăng ảnh cạo trọc đầu và mặc áo cà sa khi đón năm mới bằng cách đi tu trong 10 ngày.

Paing Takhon được thế giới biết đến qua các bộ phim mà anh tham gia như Bad Boy 2, The Clock: Red Wall, Midnight Traveller and Thaman Kyar.

Chính quyền Myanmar cũng có danh sách 100 của mình, nhưng đó là tên của những người bị đưa vào danh sách tuyên truyền chống chế độ, âm mưu lật đổ chế độ hay lợi dụng quyền tự do dân chủ… mà nam diễn viên Paing Takhon đứng đầu danh sách này. Anh đã bị kết án và bị bỏ tù trong ba năm. Tin này được nhóm pháp lý của diễn viên cho biết hôm thứ Hai (27-12-2021).

Paing Takhon, 25 tuổi – ngôi sao điện ảnh và thời trang ở cả Myanmar và Thái Lan – đã tích cực tham gia các cuộc biểu tình quần chúng làm rung chuyển đất nước sau cuộc đợt quân đội cướp chính quyền hồi tháng Hai. Chính quyền quân đội Myanmar đã tập hợp các hình ảnh của anh trong các cuộc biểu tình thông qua mạng xã hội có hơn một triệu người theo dõi của anh ấy. Paing Takhon bị bắt trong một cuộc đột kích rạng sáng tại nhà mẹ của anh ta ở Yangon vào tháng Tư, chị gái Paing đã kể lại chuyện này, khi quân đội mở chiến dịch săn lùng 100 người nổi tiếng ủng hộ phong trào phản kháng.

Paing Takhon bị án ba năm lao động khổ sai, tại một tòa án ở Yangon. Người cố vấn pháp lý Khin Maung Myint nói với AFP. Gia đình của Paing Takhon đang cân nhắc chuyện có kháng cáo hay không.

Nhiều người trong danh sách lùng bắt của quân đội Myanmar đã đào thoát hoặc vào chiến khu. Một trong những người đó nữ hoàng sắc đẹp nổi tiếng Myanmar, cô Htar Htar Htet đã đăng một bức ảnh trên Facebook và tháng ăm 5-2021, cho thấy cô mặc trang phục chiến đấu màu đen và mang theo một khẩu súng trường tấn công. Htar Htar Htet, người còn được biết đến như là huấn luyện viên thể dục dụng cụ viết: ‘Đã đến lúc phải chiến đấu trở lại’.

Htar Htar Htet. Ảnh trên mạng

Một trong những thứ được coi là chứng cứ để khép tội nam diễn viên Paing Takhon, mà tòa án đưa ra, là status của anh trên Facebook: ‘Họ có bị điên không? Người trúng cử là do người dân chọn’. Đây là phản ứng tức thì của Paing Takhon trước cuộc đảo chính quân sự ngày 1 tháng 2 lật đổ chính phủ dân sự, do cố vấn nhà nước Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Hai tháng sau, người mẫu, ca sĩ và diễn viên 25 tuổi này sẽ bị bắt trong chiến dịch trấn áp các cuộc biểu tình phản đối quy định của quân đội chính phủ. Và cuối cùng, anh bị kết án ba năm tù lao động khổ sai.

Giống như nhiều nhân vật nổi tiếng khác nhận thức được âm mưu của những kẻ cầm quyền độc tài đang lũng đoạn đất nước, Paing Takhon sử dụng quyền lực ngôi sao của mình để kích động sự phản đối cuộc đảo chính, thường xuyên đăng tải những lời lên án trực tuyến cho đến khi chính quyền bắt đầu hạ bệ những nhà phê bình nổi tiếng như vậy.

Nam diễn viên đến từ vùng Tanintharyi ở miền nam Myanmar. Paing thường giới thiệu thân hình cân đối và thu hút của mình được xăm nghệ thuật, và mái tóc dài quyến rũ đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của phụ nữ Châu Á. Tình yêu của anh ấy đối với động vật – bao gồm cả mèo và chó mà anh ấy thường được chụp cùng – đã cộng thêm vào sự hấp dẫn. Năm 2019, Paing được bổ nhiệm làm đại sứ du lịch của Myanmar tại Thái Lan.

Biết thêm từ “Chính đề Việt Nam” (Phần 4)

 

Biết thêm từ “Chính đề Việt Nam” (Phần 4)

Nguyễn Đình Cống

2-1-2022

Tiếp theo phần 1 — phần 2 — phần 3

5- Phần II (B): Một ví dụ lịch sử

Ngày xưa các nước nằm trong đế quốc La Mã đều bị La Mã hóa trên mọi lĩnh vực, trừ tôn giáo và những phần văn hóa sáng tạo. Ngày nay các dân tộc ở châu Âu đều sống trong một nền văn minh kỹ thuật chung nhưng tất cả sáng tạo trong mọi ngành của mỗi dân tộc đều khác, văn hóa Nga Xô vẫn mang tính dân tộc Nga. Sau hơn một trăm năm TPH dân tộc Nhật vẫn giữ nguyên văn hóa của họ.

Để làm chủ được TPH phải chế ngự được khả năng sáng tạo, nó bắt nguồn từ nền văn minh với hai trụ cột cơ bản là chính xác về lý trí, ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức. Tùng Phong đề lên rất cao hoạt động của lý trí, nó được khởi sắc từ thời kỳ Phục Hưng. Phải dựa trên lý trí mới có thể suy luận chính xác. Ông phê phán các suy nghĩ của người phương Đông có phần dựa vào trực giác nên dễ bị mơ hồ.

Chính xác về lý trí, ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức không phải chỉ trong khoa học kỹ thuật mà phải là từ mọi việc nhỏ nhặt của đời sống. TPH không phải chỉ của một nhóm người mà phải là của toàn dân tộc, do đó phải chú ý đến nông thôn, dồn vào đó sức lực cần thiết.

Mục đích của TPH là để phát triển dân tộc. Tôn giáo ảnh hưởng lớn đến phát triển dân tộc nhưng không ảnh hưởng đến TPH.

Tùng Phong viết: “Ít hay nhiều, công cuộc phát triển dân tộc sẽ diễn ra trong không khí khổ hạnh cho mọi người… Trong trường hợp như vậy cố nhiên là tín đồ của các giáo lý, thuộc loại thứ nhất, sẵn sàng tham gia một công cuộc phát triển dân tộc”. Ông đã dẫn ra và phân tích những trường hợp khác nhau của nước Nhật, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Trung Hoa để nói lên những thuận lợi và khó khăn giữa tôn giáo và TPH.

6- Phần II (C): Phát triển dân tộc và tôn giáo ở VN

Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Hoa với Tam Giáo: Nho, Lão, Phật. Đạo Phật tuy có quan tâm đến “Nhập Thế” nhằm giúp chúng sinh, nhưng chủ yếu là “Xuất Thế” để tìm sự cứu rỗi cho bản thân. Tùng Phong cho rằng: “Nhưng rồi thiểu số tín đồ Thiên Chúa Giáo sẽ đóng góp một tham gia tích cực vào công cuộc phát triển dân tộc”.

Tùng Phong nêu ra hai cơ hội phát triển dân tộc (và đã dài dòng thuyết minh thế nào là cơ hội và điều kiện).

Cơ hội thứ nhất là vào khoảng những năm 30 thế kỷ 19, lúc mà giữa các cường quốc Phương tây có mâu thuẫn lớn. Nhật Bản lợi dụng được cơ hội này, còn VN, vì các lãnh đạo đất nước tự xem là thuộc quốc của Trung Hoa nên đã bỏ lỡ và đẩy dân tộc vào đường nô lệ.

Cơ hội thứ hai là sau sự xuất hiện của Nga Xô theo chủ nghĩa Mác. Ban đầu Mác cũng hấp dẫn được các đảng CS châu Âu, họ tưởng rằng CS là một phương thuốc chữa được căn bệnh xã hội. Nhưng rồi nhiều nước châu Âu tìm ra phương thuốc khác, hữu hiệu hơn. Cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Nga Xô và phương Tây tác động đến các nước thuộc địa. Nga giúp họ đấu tranh còn phương Tây tìm cách trả độc lập cho họ và giúp họ phát triển. Ấn Độ đã không theo Nga. Trung Quốc, tuy bề ngoài là CS nhưng có phần chống lại Nga. Việt Nam đã không lợi dụng được mâu thuẫn giữa Nga và Tây phương để phát triển mà lại lọt vào vòng mâu thuẫn đó.

Tùng Phong cho rằng, lãnh đạo Nga Xô (và kể cả Mao Trạch Đông) chỉ xem lý thuyết CS như là một lợi khí để chiến đấu với Tây phương. Ông dẫn câu của Mao: “Sở dĩ chúng ta nghiên cứu thuyết của Các Mác không phải vì nó tốt đẹp gì, cũng không phải nó chứa đựng một phép thần diệu để trừ ma quỷ. Nó không đẹp, cũng không thần diệu. Nó chỉ ích lợi” – (ý mới). Thế mà lãnh đạo CS Bắc Việt lại tôn lên thành giáo lý, họ say mê thuyết CS, cho rằng nó là chân lý tuyệt đối (trùng ý).

Tùng Phong nhận xét: “Đưa một phương tiện chiến đấu của người ta làm chân lý của mình là mặc nhiên hạ mình xuống thấp hơn một bậc đối với các lãnh tụ CS quốc tế và tự biến mình thành nô lệ tri thức cho người sử dụng. Vì vậy cho nên trong những hành động chính trị của các nhà lãnh đạo phía Bắc lý thuyết CS được để lên trên quyền lợi của dân tộc… Do các lý lẽ trên đây có thể quả quyết rằng các nhà lãnh đạo phương Bắc vẫn chưa nhận thức nguy cơ đang đe dọa dân tộc, và những ngày đen tối của chúng ta vẫn còn tiếp tục”.

Và rồi cơ hội thứ hai cũng sẽ bị bỏ qua.

Bình luận: Kết thúc đại chiến 2 là một cơ hội lớn. Hồ Chí Minh và Việt Minh đã lợi dụng được cơ hội này, nhưng chủ yếu là để giành chính quyền cho CS chứ không phải vì lợi ích cho sự phát triển lâu dài của dân tộc. Liên Xô sụp đổ cũng là một cơ hội, nhưng Trần Độ, Trần Xuân Bách, những người muốn từ bỏ CS đã bị Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười nhanh chóng loại bỏ. Phải chăng số mệnh của dân tộc xui ra như thế, vận nước còn trong thời bỉ cực.

7- Phần II (D): Chỉnh đốn nội bộ

Đó là nội bộ của hai bên kình địch nhau là phương Tây và Nga Xô. Với phương Tây, họ phát hiện ra rằng mâu thuẫn giữa các nước làm họ bị suy yếu trong việc chống CS, vì thế họ đã tìm cách thỏa hiệp để tạo ra Liên minh châu Âu. Nga Xô phải đồng thời xử lý hai mối quan hệ, với Tây phương và với các nước theo CS. Dân chúng càng ngày càng tỏ ra thích Tây phương, lãnh đạo đề ra đường lối “Chung sống hòa bình” để ve vãn.

Bình luận: Vào năm 1962 Tùng Phong chưa có được dự đoán việc Liên Xô sẽ tan rã, chỉ mãi sau này Brzezinski mới dự đoán được chuyện đó.

8- Phần III (A): Điều kiện nội bộ 

Phần này trình bày về nội bộ của Việt Nam và quan hệ với các nước Đông Á.

Với Trung Quốc và các nước, Tùng Phong nhận định (trích từng đoạn ghép lại): “Suốt gần một ngàn năm lịch sử, Trung Hoa lúc nào cũng muốn xâm chiếm VN, lấy lại phần đất mà họ coi như bị tạm mất… Ngay bây giờ ý định của Trung Cộng vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải toàn bộ VN thì ít ra cũng là Bắc phần… Họa xâm lăng đe dọa chúng ta đến nỗi, trong suốt ngàn năm lịch sử từ ngày lập quốc, trở thành một ám ảnh cho tất cả lãnh đạo của chúng ta. Và do đó mà lịch sử ngoại giao của chúng ta lúc nào cũng bị chi phối bởi tâm lý thuộc quốc… Vì vậy cho nên chống ngoại xâm là một yếu tố quan trọng trong chính trị của VN… Để chống xâm lăng chúng ta có những biện pháp quân sự và ngoại giao. Nhưng hơn cả, về phương diện hữu hiệu và chủ động là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, phát huy ý thức quốc gia và dân tộc, mở rộng khuôn khổ giới lãnh đạo để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt… Đương nhiên một chính thể chuyên chế và độc tài không làm sao đủ điều kiện bảo vệ Quốc gia chống ngoại xâm được. Bởi vì bản chất của nó là tiêu diệt tận gốc rễ tinh thần tự do và độc lập trong tâm não của mọi người, để biến mỗi người thành một cái máy hoàn toàn không có ý chí, dễ điều khiển, dễ đặt để và dễ sử dụng. Bản chất của một chính thể chuyên chế và độc tài là giữ độc quyền lãnh đạo quốc gia cho một hay một số rất ít người, để cho sự thấu triệt các vấn đề căn bản của Quốc gia trở thành, trong tay họ, những lợi khí sắc bén, để củng cố địa vị của người cầm quyền… Một chính thể chuyên chế hay độc tài là một lợi khí cho kẻ ngọai xâm”.

Bình luận: Nhiều người Việt rất lo ngại hiểm họa bị Trung Cộng xâm chiếm. Tùng Phong thấy rõ hiểm họa đó và nhiều lần viết trong sách này. Thế nhưng nhiều lãnh đạo CS không thấy mà còn đàn áp những người con ưu tú của dân tộc khi thể hiện thái độ chống dã tâm của Trung Cộng. Về chuyên chế và độc tài, ông phản đối nó, nhưng có nhiều thông tin cho rằng chính thể của ông là “gia đình trị”, chuyên chế, độc tài. Không biết sự thật đến đâu. Về tự do, ông quan tâm đến tự do của nhân dân, tự do cho mọi người. Hồ Chí Minh nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhưng chủ yếu là cho Quốc gia. Mà tự do cho Quốc gia phải chăng là tự do cho những người lãnh đạo. Câu “Một chính thể chuyên chế hay độc tài là một lợi khí cho kẻ ngoại xâm” là một ý mới (ngưng bình luận).

VN có lịch sử Nam tiến, ngoài ý đồ mở mang bờ cõi thì cũng vì áp lực của Trung Hoa. Tùng Phong viết: “Nếu, đối với Trung Hoa chúng ta là thuộc quốc thì đối với các nước chung quanh, chúng ta lại muốn họ là thuộc quốc….”Rồi ông kể lại tương đối chi tiết các giai đoạn của việc Nam tiến và kể ra các hậu quả (mà nhiều người đã biết).