Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

Luận về cụm từ Việt Cộng

Luận về cụm từ Việt Cộng

Nguyễn Quang Duy
30-4-2019
Ai cũng biết Việt Cộng là cộng sản Việt Nam, nhưng theo sách sử cụm từ lại mang nhiều ý nghĩa khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vào đầu năm 2018, nghiên cứu sinh sử Viện Đại Học Wisconsin-Madison, Brett Reilly công bố trên trang The Diplomat bài “Cội nguồn đích thực của cụm từ Việt Cộng”.
Brett Reilly cho biết đã phát hiện hai điều (1) cụm từ Việt Cộng và (2) cuộc nội chiến Quốc-Cộng đã khởi đầu từ những năm 1920 tại miền Nam Trung Hoa, hơn ba thập niên trước khi người Mỹ tham chiến tại Việt Nam.
Như vậy cuộc chiến Quốc-Cộng đã kéo dài gần trăm năm, vẫn còn tiếp diễn, thách thức phải viết lại lịch sử chiến tranh Việt Nam
Cứ mỗi tháng 4, cụm từ Việt cộng lại thường xuyên được nhắc đến trong cộng đồng người Việt hải ngoại, nhân 44 năm Sài Gòn thất thủ, xin được tóm tắt công trình nghiên cứu của Brett Reilly và giải thích lý do vì sao đảng Cộng sản Việt Nam luôn dị ứng khi được gọi chính danh là Việt Cộng.
Cảnh sát Đà Nẵng bắt được một nữ du kích Việt Cộng ngày 26/10/1972, với 15 quả bom đeo đầy người. Ảnh: AP
Sách sử chính thống
Tự điển, sách sử, báo chí ngoại ngữ đều định nghĩa Việt Cộng là những du kích quân cộng sản chống lại quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn 1954-75.
Tác giả quyển “Victory at any cost” (Chiến thắng bằng mọi giá) Cecil B. Currey còn quả quyết rằng cụm từ do Thiếu tướng tình báo Mỹ Edward Lansdale cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nghĩ ra từ tiếng Anh Vietnamese Communists – Vietcong.
Lansdale nhận thấy các cán bộ Việt Minh hoạt động ở miền Nam sau 1954 là những người vừa đánh bại quân Pháp nên có uy tín với dân là mối đe dọa quyền lực của Tổng thống Ngô Đình Diệm, nên đề nghị ông Diệm đừng gọi họ là Việt Minh mà gọi bằng một tên mới là Việt Cộng, để người dân miền Nam lầm tưởng rằng đây là 2 lực lượng khác nhau.
Từ đó các sử gia Mỹ theo trường phái chính thống lập luận rằng Mỹ phạm sai lầm khi tham gia chiến tranh, biến xung đột của những người nổi dậy có tinh thần dân tộc tại miền Nam thành chiến trường chiến tranh lạnh giữa Mỹ, Nga và Tàu.
Còn các sử gia theo trường phái xét lại cho rằng Việt Cộng là cụm từ thích hợp để minh hoạ việc Nga, Tàu và Bắc Việt lãnh đạo cuộc nổi dậy tại miền Nam, Mỹ tham gia để ngăn chặn sự lan rộng của cộng sản xuống vùng Đông Nam Châu Á.
Qua nghiên cứu, Brett Reilly biết được cụm từ Việt cộng bắt nguồn từ tiếng Trung Hoa “zhonggong” phát âm tiếng Việt là “Trung cộng”.
Cụm từ này đã được những người Việt bị Pháp truy lùng phải trốn sang miền Nam Trung Hoa vào những năm 1920 sử dụng.
Việt Cộng chỉ những người Việt theo chủ nghĩa quốc tế cộng sản, còn những người Việt theo chủ nghĩa quốc gia được gọi là Việt Quốc.
Nội chiến bắt đầu…
Một cụm từ khác được Brett Reilly đề cập tới là cụm từ Việt gian cũng bắt nguồn tiếng Trung Hoa “Hanjian” phát âm là Hán gian chỉ những người Trung Hoa phản quốc.
Cuối thập niên 1920, khi Quốc Dân Đảng Trung Hoa nhận định rằng chủ nghĩa quốc tế cộng sản thực chất chỉ là chủ nghĩa thực dân kiểu mới của nước Nga Sô viết và như thế Trung Cộng những người Trung Hoa theo cộng sản là Hán gian phản quốc.
Cuộc chiến này ảnh hưởng đến Việt Cộng và Việt Quốc, một bên theo Mao còn bên kia theo Tưởng, khơi mào cuộc nội chiến ý thức hệ giữa những người Việt chống Pháp lưu vong tại miền Nam Trung Hoa.
Nhập cảng Việt Nam…
Theo Brett Reill, cuộc chiến lan sang miền Bắc Việt Nam, các bên tiến hành theo dõi lẫn nhau và thỉnh thoảng lại ám sát những kẻ mà họ nghi là người được phía bên kia trà trộn vào.
Trên Tràng An Báo, xuất bản tại Huế, năm 1938, Cụ Phan Bội Châu tuyên bố những người theo cộng sản là:
“những người lợi dụng chủ nghĩa xã hội nhằm chia rẽ đất nước, phá hoại sự thống nhất, tiêu diệt tinh thần quốc gia, dân tộc”. 
Đáp lại, ông Võ Nguyên Giáp và ông Trường Chinh, hai lý thuyết gia cộng sản, trên tờ báo Pháp thiên tả Notre Voix (Tiếng Nói của Chúng Ta), tuyên bố Cụ Phan Bội Châu là “tên phản quốc”.
Có thông tin cho biết chính lãnh tụ cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã báo cho thực dân Pháp bắt Cụ Phan Bội Châu để lãnh thưởng.
Trận chiến Quốc-Cộng không chỉ diễn ra gay gắt trên các cột báo, mà còn diễn ra bên trong hệ thống nhà tù thuộc địa.
Một bản sao cương lĩnh 12 điểm, năm 1935, của Việt Nam Quốc dân đảng, được tìm trong nhà tù ở Hà Nội, liệt kê hai mục đích đầu tiên của đảng là nâng cao nhận thức về dân tộc Việt Nam và xoá bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Ở nhà tù Côn Đảo, cuộc xung đột ý thức hệ dẫn đến những trận thanh toán gây chết người. Trần Huy Liệu, từng là Bí thư kỳ bộ Nam kỳ Việt Nam Quốc dân đảng, theo cộng sản khi bị tù tại Côn Đảo, hồi tưởng: “Gió biển lạnh lẽ ở Côn Đảo không thể xua tan được bầu không khí căm thù bao quanh hòn đảo”.
Việt Minh cướp chính quyền 19/8/1945
Sau một giai đoạn rất ngắn hợp tác, hai phía Quốc-Cộng lại sử dụng từ “Hanjian” – Hán gian cho các đối tượng được họ ghép cho là Việt gian phản quốc, khởi động cuộc nội chiến đẫm máu.
Các đơn vị Việt Minh trung thành với Võ Nguyên Giáp tấn công các đảng quốc gia, buộc những người quốc gia một lần nữa phải trốn sang Trung Hoa.
Những người theo cộng sản đệ tam giết cả những người cộng sản đệ tứ, những tổ chức yêu nước không bị ảnh hưởng của Tưởng Giới Thạch, những giáo phái yêu nước như Đạo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài, giết tất cả những ai không chấp nhận sự thống trị của cộng sản đệ tam.
Khi chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, những nhóm người Việt yêu nước không theo cộng sản liên kết với nhau, chịu sự lãnh đạo của cựu hoàng Bảo Đại và cộng tác với Pháp để từng bước giành độc lập bằng biện pháp hòa bình và hợp tác.
Khi người Mỹ cắt viện trợ và ngừng bán vũ khí cho chính phủ Tưởng Giới Thạch, các lực lượng Trung Cộng do Mao Trạch Đông lãnh đạo ngày càng tiến gần đến biên giới phía Bắc.
Theo Brett Reill đến năm 1948, những tờ báo có tinh thần dân tộc chống Pháp đã sử dụng cụm từ Việt Cộng, như trên tờ Tiếng Gọi của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã có bài báo động:
“Nếu quân đội Việt Cộng có thể bắt tay với Trung Cộng ở biên giới Trung Việt, thì cái gì ngăn cản được quá trình cộng sản hóa Việt Nam?” 
Nếu cụm từ Việt Cộng có nghĩa xấu, thì nó chỉ xấu vì các đảng quốc gia đã liên kết người cộng sản Việt Nam (Việt Cộng) với người cộng sản Trung Hoa (Trung Cộng).
Đến năm 1950, Trung cộng viện trợ cố vấn, quân sự, kinh tế, Việt Minh bắt đầu chuyển thành nhà nước toàn trị, thực hiện chỉnh huấn, chỉnh quân, cải cách ruộng đất theo đường lối Mao Trạch Đông.
Chính quyền Quốc gia dưới sự lãnh đạo của cựu hoàng Bảo Đại thường xuyên sử dụng cụm từ Việt Cộng trong các thông tin chính thức để tố cáo ban lãnh đạo Việt Minh là cộng sản.
Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do đó chỉ kế thừa việc sử dụng cụm từ Việt Cộng để gọi tất cả những người Việt theo cộng sản không kể Bắc Nam.
Công trình nghiên cứu Brett Reill chấm dứt ở đây, để lại một câu hỏi lớn là những người miền Nam thua cuộc vẫn luôn hãnh diện với danh xưng Việt Quốc hay người Việt quốc gia, còn ngược lại đảng Cộng sản Việt Nam mặc dầu thắng trận lại luôn dị ứng khi bị nêu đích danh là Việt Cộng.
Sự thật lịch sử
Nếu Hồ Chí Minh có hằng trăm tên, tuổi, bút danh, thay đổi tùy tình hình quốc tế cộng sản và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam thì đảng Cộng sản cũng thế.
Đảng Cộng sản từng bỏ cả tên cộng sản, để lấy tên Hội Truyền Bá chủ nghĩa Mác-Lênin, đảng Lao Động, đảng Nhân Dân Cách Mạng, hay lập ra hai đảng ngoại vi là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội.
Trong từng thời kỳ đảng Cộng sản còn sử dụng các tổ chức như Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, Việt Minh, Mặt trận Giải Phóng miền Nam, nhiều các tổ chức ngoại vi khác để hoạt động cộng sản.
Nếu Hồ Chí Minh phải lấy bút danh nhà báo C.B. (Của Bác) để viết bài “Địa Chủ Ác Ghê” trên báo Nhân Dân đấu tố đến chết điền chủ Nguyễn thị Năm.
Thì đảng Cộng sản cũng phải sử dụng đảng Nhân Dân Cách Mạng, Mặt trận giải phóng miền Nam, Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam Việt Nam, để đánh lừa dư luận, chiến tranh tại miền Nam là cuộc nổi dậy của người miền Nam yêu nước, không do cộng sản miền Bắc lãnh đạo.
Ở nông thôn người dân thường xuyên bị Việt Cộng đe dọa, bị khủng bố, bị xử tử hay bị bắt lên rừng giam cầm đến chết.
Ở thành thị Việt Cộng càng ngày càng gia tăng đặt bom hay pháo kích khủng bố.
Biến cố Mậu Thân 1968, Việt Cộng tấn công Thủ đô Sài Gòn và nhiều thành phố lớn tại miền Nam giết và bắt lên rừng hằng chục ngàn thường dân.
Riêng tại Huế lên đến 5,000 người bị giết hay chôn sống, nhiều ngàn người khác bị bắt lên rừng không có ngày về.
Chiến tranh càng gia tăng thì hình ảnh tội ác Việt Cộng càng được phổ biến trên Đài Truyền Hình hay qua báo chí.
Cụm từ Việt Cộng trở thành ác mộng thành nỗi kinh hoàng của người dân miền Nam.
Khi chính phủ Hoa Kỳ bỏ cuộc “cút” khỏi miền Nam, nhiều người ở thôn quê, ở thị xã hay tỉnh nhỏ sợ Việt Cộng phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn lên Sài Gòn hay các thành phố lớn.
Tháng 3/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, thì từng đoàn người Kinh bỏ nhà, bỏ cửa, đồng bào Sắc Tộc bỏ buông làng dìu dắt chạy trốn Việt Cộng.
Cuộc rút quân (và rút dân) hoàn toàn thất bại, quân đội Bắc Việt kéo vào tiếp thu Huế, Đà Nẵng, rồi cuối cùng tiếp thu Sài Gòn ngày 30/4/1975.
Sau ngày tang thương này, người miền Nam bị tù cải tạo, bị đánh tư sản, bị đi kinh tế mới, cả một guồng máy cai trị từ miền Bắc đưa vào, đến công an khu vực cũng là người miền Bắc, buộc người miền Nam phải bỏ nước ra đi.
Với người miền Nam cụm từ Việt Cộng vẫn là nỗi kinh hoàng luôn ám ảnh, như chiến tranh Quốc-Cộng gần trăm năm vẫn chưa chấm dứt.
Đảng Cộng sản sợ sự thật về mối liên hệ gắn bó từ tư tưởng đến hành động với đảng Cộng sản Trung Hoa – “zhonggong” – Trung Cộng, sợ sự thật về chiến tranh Việt Nam và tội ác họ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.
Họ sợ sự thật lịch sử bởi thế họ rất dị ứng khi được nêu chính danh là Việt Cộng.

Không hề thẹn với những người đã nằm xuống!

Không hề thẹn với những người đã nằm xuống!

Trân Văn
30-4-2019
Tấm bảng đậu xe có nội dung: Dành cho thân nhân tử sĩ. Vui lòng tôn trọng nơi đậu xe này và những hy sinh của các tử sĩ. Tôn vinh gia đình của người quá cố. Ảnh: VOA
Nếu có dịp vào bất kỳ căn cứ nào của quân đội Mỹ, bất kể chúng tọa lạc ở đâu, trên nước Mỹ hay đất khách quê người, bạn cũng sẽ thấy một hoặc hàng loạt tấm bảng như trong ảnh. Những tấm bảng đó luôn giống hệt nhau về kích thước, màu sắc, kèm các hàng chữ: Reserved for Surviving Families. Please respect this spot and their sacrifice. Honor our Families of the Fallen (Dành riêng cho gia đình tử sĩ. Xin chừa khoảng trống này như sự tôn trọng hy sinh của họ. Vinh danh gia đình các tử sĩ của chúng ta) và vị trí mà người ta cắm chúng luôn là những chỗ tiện lợi nhất để đậu xe.
Trong các căn cứ của quân đội Mỹ có rất nhiều nơi thiếu chỗ đậu xe, chỉ có vài khoảng trống để đậu một, hai chiếc xe và chắc chắn những khoảng trống đó sẽ chỉ dành riêng cho xe của thành viên các gia đình tử sĩ, người tàn tật. Ưu tiên cho sĩ quan cao cấp, kể cả những người trên vai có vài ngôi sao, bao gồm cả tư lệnh, luôn được đặt bên dưới hai đối tượng vừa kể, cho nên nếu cần ra vào những nơi mà chỗ đậu xe ngặt nghèo như vậy, các ông tướng cũng đành phải lái xe lòng vòng, tìm chỗ trống khác để đậu xe của mình rồi cuốc bộ. Không có ngoại lệ và hình như cũng chẳng có ai muốn tạo ra ngoại lệ.
Do gia đình tử sĩ không có nhiều việc để ra vào các căn cứ quân đội của Mỹ nên những chỗ đậu xe được dành riêng cho họ thường để trống. Ngay cả những cá nhân ngổ ngáo nhất trong quân đội cũng không bao giờ cho xe của họ đậu ở những khoảng trống ấy. Người ta không sợ bị phạt mà vì đó là một trong những thứ tự nhiên được kính trọng. Người Mỹ gọi những gia đình tử sĩ là Gold Star Families. Gold Star Families có vị trí đặc biệt vì mất mát của họ, sự hy sinh của họ giữ cho nước Mỹ luôn luôn là nước Mỹ. Tất cả các thế hệ người Mỹ luôn nhắc nhau: Freedom is not free (Tự do không phải là miễn phí) và họ tôn trọng Gold Star Families vì đây là đối tượng trả giá đắt nhất…
Thỉnh thoảng, vào một số dịp, người ta có thể nghe các thành viên của Gold Star Families tâm sự về những hụt hẫng do mất mát thân nhân nhưng có cố gắng đến mấy, bạn cũng sẽ không bao giờ tìm thấy bất kỳ thành viên nào của Gold Star Families cho rằng, thân nhân của họ đã hi sinh vô ích, thậm chí vô lý!
***
Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam đang rầm rộ kỷ niệm “44 năm ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước” (30/4/1975 – 30/4/2019). Dịp kỷ niệm sự kiện vốn vẫn được xem là bằng chứng rõ ràng nhất về khả năng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng CSVN, giờ chỉ khiến các viên chức hữu trách thêm lo âu, căng thẳng.
Không phải tự nhiên, khi gặp những ông tướng đã nghỉ hưu, nhân dịp kỷ niệm “44 năm ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước”, ông Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành ủy TP.HCM, tiết lộ: TP.HCM đã hứa với Bộ Chính trị, chính phủ là không để xảy ra biểu tình và sẽ có những biện pháp chống biểu tình. Theo tờ Thanh Niên, ông Nhân khoe thêm, từ giữa năm ngoái đến nay, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở TP.HCM đã tổ chức giám sát chặt chẽ 600 người có khả năng dẫn dắt biểu tình, nhờ vậy, không có biểu tình ở thành phố này nữa.
Thật khôi hài khi một hệ thống luôn khẳng định “của dân, do dân, vì dân”, luôn được dân “tin yêu, tín nhiệm”, “đồng lòng đi theo” nhưng lại đinh ninh rằng, chỉ cần 600 người ở TP.HCM là có thể bứt hàng triệu người ở TP.HCM ra khỏi vòng tay của đảng, cho nên đảng phải chủ động chuẩn bị các “phương án ứng phó”, kể cả yêu cầu công an, quân đội phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch cùng chống biểu tình ở TP.HCM, “không để ảnh hưởng đến… cả nước”. Tại sao hệ thống vốn hết sức tự hào vì đã “Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước” lại sợ thời điểm cuối tháng 4 đến vậy?
Cho dù tờ Thanh Niên đã “tự ý đục bỏ” bài tường thuật có nội dung vừa kể nhưng tâm sự của ông Nhân vẫn được giới thiệu tràn lan (1), bình luận rôm rả trên mạng xã hội. Nhiều người thắc mắc: Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước làm gì để rồi sau 44 năm, biểu tình, một quyền vốn căn bản, thậm chí được hiến định hẳn hoi, vẫn không có chỗ?
Đã tròn 44 năm nhưng con số để kỷ niệm càng lớn, đảng càng thêm vất vả trong việc chống đỡ dư luận cả về mục tiêu lẫn ý nghĩa của công cuộc “Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước”. Tình thế buộc những cơ quan truyền thông như Quân đội nhân dân phải chạy những bài như “Xuyên tạc lịch sử chính là phá hoại tương lai” (2), kêu gọi công chúng “phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của tổ quốc”, đồng thời “phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ phải”.
Trong “Xuyên tạc lịch sử chính là phá hoại tương lai”, tờ Quân đội nhân dân chỉ trích: “Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc”.
Có “sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn” nào lớn hơn thực trạng u ám, bế tắc của Việt Nam hiện nay: Chủ quyền lãnh thổ bị xâm hại, luôn trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc vì vô số dấu hiệu cho thấy ma vẫn còn đưa lối, quỷ vẫn còn dẫn dường. Tham nhũng, lạm quyền càng ngày càng trầm trọng. Kinh tế suy thoái. Tài nguyên cạn kiệt. Môi sinh, môi trường ô nhiễm không có điểm dùng. Phân hóa giàu – nghèo càng ngày càng sâu sắc. Xã hội hỗn loạn với đủ loại vấn nạn?..
Có “hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất, phá hoại tương lai của dân tộc” nào trầm trọng hơn thực trạng ấy? Tại sao càng ngày càng nhiều thân nhân liệt sĩ, thương binh, cựu chiến binh, gia đình có công với cách mạng, công khai bày tỏ sự hối tiếc vì trót đóng góp thân nhân, máu xương, công sức để tạo ra sự kiện “Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước”?
Nếu những liệt sĩ như con bà Lê Thị Tích (ngụ tại xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bị người mượn đất trồng cấy mang đất đi bán, khiếu nại thì ính quyền không thèm bận tâm mà vẫn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác, kêu oan thì một chuyên viên trong lực lượng Thanh tra của chính phủ đòi 400 triệu, vay mượn – chung đủ 400 triệu nhưng cuối cùng, vẫn bị Tòa án buộc dỡ nhà, giao đất) có thể lên tiếng, họ sẽ xác định đối tượng nào “hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất, phá hoại tương lai của dân tộc” (3)?
Bà Lê Thị Tích chỉ là trường hợp mới nhất và hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đang công kích những người đòi xem xét lại mục tiêu, ý nghĩa của sự kiện “Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước” không hề hứa xem lại toàn bộ sự việc. Chuyện bà Tích chỉ ngừng ở chỗ buộc gã đã nhận 400 triệu trả lại tiền, buộc thôi việc.
***
Một trong những khía cạnh để có thể nhận chân mục đích, ý nghĩa của “Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước” là nghe xem các thân nhân liệt sĩ, thương binh, cựu chiến binh, gia đình có công với cách mạng nói gì, sống ra sao và được đối xử thế nào. Cứ nhìn thực trạng Việt Nam hiện nay, chắc chắn sẽ rất dễ dàng để nhận ra, những kẻ nào thật sự “dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn” và “hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất, phá hoại tương lai của dân tộc”!
Chú thích

Có còn ngày vui

Có còn ngày vui

30-4-2019
Bức tượng Lòng Mẹ của điêu khắc gia Trần Thanh Phong. Ảnh: FB Lê Đức Dục
Tôi đang ngồi uống cafe một mình trong một buổi chiều 30/4 se lạnh. Những cơn mưa xối xả từ đêm qua làm Hà Nội những ngày nghỉ lễ vắng người càng buồn hơn. Nhắc đến ngày này không ai là người Việt Nam lại không nhớ đến câu nói nổi tiếng của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt: “…một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại theo các lối cũ vẫn làm, sẽ “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn”…”. Chính vì lẽ đó, hôm nay trong bài viết này tôi muốn trải lòng với các bạn về những suy nghĩ của mình trong ngày cuối cùng của tháng tư buồn đau.
Là thế hệ sinh năm 1975 ở miền Bắc, khi tôi lớn lên thì cuộc chiến giữa 2 miền Nam Bắc đã hoàn toàn chấm dứt. Tôi còn nhớ như in ký ức đầu tiên về miền Nam của mình là hình ảnh chiếc máy bay C130 to lớn. Ngày đó bố tôi là lính mặt đất trong các sân bay quân sự miền Bắc. Sau năm 1975, hàng loạt các khí tài quân sự của miền Nam chưa hỏng hóc vì chiến tranh được miền Bắc đem về sử dụng. Và như để là sự tưởng thưởng công lao, hồi đó lính không quân miền Bắc được đem cha mẹ, vợ con đi chơi bằng máy bay quân sự vào miền Nam, mỗi năm một lần.
Chính vì thế năm 1977, khi miền Bắc còn nghèo nàn lạc hậu, khi tôi mới 2 tuổi đã được bước lên chiếc máy bay C130 sơn cờ đỏ sao vàng để bay vào Sài Gòn. Đó là một trải nghiệm cực kỳ mạnh mẽ, nên dù chỉ mới 2 tuổi nhưng tôi vẫn còn nhớ như in màu thép đen và hình dáng khổng lồ của chiếc máy bay đó. Rồi suốt trong khoảng 10 năm sau đó, hè năm nào tôi, trong niềm tự hào với bạn bè cùng trang lứa, cũng được đi máy bay vào Nam chơi ở nhiều nơi, từ Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt.
Thế nên dù chưa hiểu gì về chính trị hay lịch sử, nhưng những hình ảnh trong tôi về miền Nam là những hình ảnh chân thực nhất của một miền đất mới được “giải phóng”, chưa hề thay đổi gì nhiều so với ngày nay. Những chiếc xe xích lô cao vút, những góc phố chợ trời bày biện đủ thứ linh tinh, những ngôi biệt thự nguy nga cắm cờ đỏ, mùi khói của những chiếc xe lam hối hả trên đường… tất cả những điều ấy ghi sâu trong ký ức non nớt của tôi, và mãi sau này chính nó là chất xúc tác làm tôi tỉnh ra và hiểu được câu chuyện thực về Sài Gòn nhanh hơn so với rất nhiều bạn bè khác.
Không chỉ hình ảnh miền Nam ở miền Nam, trong ký ức của tôi còn có cả hình ảnh của miền Nam ở Hà Nội. Khoảng những năm 1982 – 1983, gia đình tôi sống cùng ông bà nội ở khu tập thể Kim Liên. Hồi đó đây là một trong những khu chung cư đầu tiên của miền Bắc dành cho gia đình cán bộ cấp cao trong các ban ngành đoàn thể. Hàng xóm nhà tôi toàn kỹ sư, bác sỹ, giáo viên… thậm chí còn có nhiều vị bộ trưởng, thứ trưởng oai phong lắm. Trong bối cảnh đó, có một điều rất kỳ lạ là gia đình tôi lại đón tiếp những người họ hàng rất lạ lẫm từ miền Nam ra, và ở lại rất lâu. Họ có trang phục khác hẳn người miền Bắc, rất chỉn chu, kiểu cách. Nhưng thái độ của họ là sự dè chừng, thu mình, nhẫn nhịn hết sức để tránh làm phiền đến xung quanh. Mãi sau này, tôi mới biết một điều rất đau lòng là họ ra Hà Nội tá túc ở gia đình nhà tôi để làm thủ tục đi thăm chồng, thăm cha là lính VNCH đang đi cải tạo trong các trại tù miền Bắc. Chính vì thế, tôi đã có những trải nghiệm tiền đề rất căn bản, để thay đổi hẳn những suy nghĩ của mình so với những điều được giáo dục, được nhồi sọ về miền Nam từ rất sớm.
Thế rồi theo thời gian, khi sự thật lịch sử được phơi bày, khi những tiếng nói của “bên thua cuộc” được cất lên, rất nhiều người miền Bắc đã thay đổi. Trong bao nhiêu năm qua, cho đến tận bây giờ những ngày tháng tư đau buồn dù được hệ thống tuyên truyền nhà nước cố sức quảng bá cho cái gọi là: “giải phóng miền Nam”, “Thống nhất tổ quốc”, “đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai Nguỵ quyền Sài Gòn”… có ngày càng nhiều người được giải ảo, được mở mắt thông não về thực chất của sự kiện 30/4… Và người ta sụp đổ niềm tin không phải chỉ do những tài liệu, bài viết hay những lời nói của “bên thua cuộc” được cất lên. Thực trạng yếu kém, sự tụt hậu của đất nước, sự lăm le thôn tính của Trung Quốc, sự ngu dốt và ươn hèn của lãnh đạo trong các vấn đề tầm vóc quốc gia… chính là những tác động lớn nhất để người dân mất hết niềm tin, quay ra đi hỏi tại sao, và đồng thời có suy nghĩ rất khác về ngày 30/4 so với trước kia.
Tuy nhiên ý kiến bảo vệ những lập luận về ngày này của chế độ vẫn còn không phải là ít. Sự hung hăng và hiếu chiến đó bạn có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên Facebook trong những ngày cuối tháng tư. Và những lời nói đó không phải chỉ có ở dân miền Bắc mà còn từ các bạn trẻ miền Nam nói ra rất nhiều. Tôi vốn rất khó chịu với những lập luận đầy thù hận và ngu ngốc này nhưng không muốn tranh cãi nhiều, vì tôi biết những bạn trẻ đó vẫn đang bị nhồi sọ giống như tôi ngày xưa thôi.
Tôi vẫn tin là thời gian và những trải nghiệm cuộc sống sẽ cho các bạn trẻ cơ hội để tỉnh ngộ. Và điều cuối cùng tôi muốn nói là: chỉ có kẻ nào sống bằng xương máu người khác mới vui được thôi, nói triệu người vui bây giờ không còn đúng nữa rồi, ông Kiệt ạ!

Nhà thờ chánh tòa Bùi Chu – Nam Định: Thực hiện công ước quốc tế, không được phá di sản

Nhà thờ chánh tòa Bùi Chu – Nam Định: Thực hiện công ước quốc tế, không được phá di sản

30-4-2019
Nhà thờ Bùi Chu nhìn phía sau. Ảnh: internet
Nhà thờ Bùi Chu được xây dựng vào năm 1885 bởi Đức Giám mục Wenceslao Onate Thuận với lối kiến trúc tuyệt đẹp: Vừa theo chất Ba rốc kiểu Tây Ban Nha, vừa có nét Phương Đông rất gần gũi. Công trình đồ sộ này có chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m, tháp cao 35m và ẩn chứa trong đó nhiều câu chuyện lịch sử giá trị, nhiều chi tiết kiến trúc, nội thất đặc biệt. Tuy nhiên mấy ngày qua, nhiều người không khỏi bàng hoàng khi nghe tin công trình sắp bị tháo dỡ để “thay thế bằng một tòa đồ sộ hơn, hiện đại hơn, đủ chỗ cho Giáo dân Bùi Chu”.
NHỮNG THẮC MẮC CỦA GIỚI CHUYÊN MÔN
Khoan hãy bàn đến việc nhà thờ mới có giá trị hơn công trình cũ hay không, chỉ riêng việc đập bỏ một công trình được xây dựng từ cuối thế kỷ 19 (năm 1885) mà công chúng chỉ được biết đến khi cách thời điểm phá dỡ chỉ còn 15 ngày. Di sản là tài sản của Cộng đồng, tài sản Quốc gia, không phải của một địa phương hay cá nhân nào. Trong khi Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế về bảo vệ di sản mà những di sản đặc biệt như nhà thờ Chánh Tòa Bùi Chu lại bị phá dỡ?. Đây là điều không thể xảy ra.
Khi muốn, người ta đi tìm giải pháp; không muốn, người ta tìm lý do. Và lý do này nghe có vẻ chính đáng: “…Một khi các nhà thờ chưa được xếp hạng di tích các cấp thì sẽ không được bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa và việc bảo vệ hay phá bỏ các nhà thờ sẽ hoàn toàn thuộc quyền của giáo dân và các cha xứ.” (Bài: “Nhà thờ Bùi Chu 134 năm tuổi sẽ bị đập bỏ, Báo motthegioi.vn ngày 29/04/2019)
Nhìn lại Công ước Quốc tế về bảo vệ di sản thế giới mà Việt Nam là thành viên:
“Mỗi Quốc gia thành viên của Công ước này tự nhận trách nhiệm đảm bảo việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản… nằm trên lãnh thổ của mình”
Tại Việt nam, Luật Di sản cũng khẳng định: “Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Các cơ quan văn hoá, thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trong nhân dân”. (Trích điều 10 và điều 11 Luật Di sản Văn hóa)
Thắc mắc của nhóm những người yêu di sản về việc tại sao một Nhà thờ đẹp nổi tiếng như Nhà Thờ Chánh Tòa Bùi Chu mà lại bị tháo dỡ; chính quyền tỉnh có biết kế hoạch “hạ giải”, tháo dỡ Nhà Thờ không? đã được chúng tôi tìm hiểu và giải đáp sau khi cử người ra Giáo xứ Bùi Chu và điện thoại liên lạc với Phó Chủ tịch Tỉnh Nam Định
Phó chủ tịch tỉnh, ông Bạch Ngọc Chiến, trả lời: “Tỉnh đã gọi cho chủ tịch Huyện Xuân Trường – ông Đặng Ngọc Cường cho biết: Chính quyền không can thiệp vào việc này, do bên Giáo Xứ đã làm thủ tục xin trùng tu nhà thờ. Họ làm đơn theo đúng trình tự (trong đó có nêu: sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về kinh phí, hình thức và cách thức trùng tu, nên Uỷ Ban Huyện chấp nhận cho trùng tu nhà thờ theo nguyên tắc).
Nếu nhà thờ này bị phá, sẽ là điều chấn động thế giới nên ông Chiến khẳng định “Không có chuyện phá dỡ, xây mới nhà thờ. Nam Định là nơi nhiều di sản Tôn giáo. Nếu có chủ trương phá dỡ thì Tỉnh phải có quyết định và cho phép phá dỡ mới thực hiện được”.
Tuy nhiên, tại Giáo xứ, tất cả giáo dân đều được biết chỉ còn chưa đầy 2 tuần nữa, ngày 13.5.2019 Chính tòa Bùi Chu sẽ bị tháo dỡ (theo nghĩa “Hạ giải” như họ được giải thích, và từ năm 2017 trong các văn bản, Giáo xứ vẫn ghi là “Đại tu nhà thờ Chính tòa Bùi Chu”). Thông tin này cũng đã được đăng tải trên trang của Tòa Giám Mục Bùi Chu. Tại Bùi Chu, công việc triển khai xây mới đã được thực hiện rất rõ ràng, nhanh và bài bản. Các khung gỗ đang được thi công. Tuy nhiên theo đánh giá của chúng tôi thì bản vẽ Nhà thờ mới không lớn hơn nhiều so với tòa cũ?
Kích thước bước cột tòa cũ: 4.8 – 6.8 – 4.8
Kích thước bước cột tòa mới: 4.45 – 8.20 – 4.45
KHẢO SÁT CỦA ĐẠI DIỆN NHÓM DI SẢN
Kết quả khảo sát công trình di tích, nhóm đánh giá sơ bộ như sau:
– PHẦN HẠ TẦNG THOÁT NƯỚC: công trình nằm trong trung tâm của khu dân cư, cũng như quần thể mục vụ của địa phận. Cote nền công trình nằm khá thấp so với hạ tầng xung quanh. Đây là vấn đề có thể khắc phục bằng cách cho vành đai thoát nước nằm ngoài phạm vi móng công trình (khi khảo sát kỹ sẽ có phương án cụ thể sau).
– PHẦN KIẾN TRÚC: Công trình có 2 hệ chịu lực chính, phần thân bằng gạch, và phần mái bằng hệ gỗ.
+ Phần thân 2 tháp chuông kết cấu còn đảm bảo, thân tường có một số bị nứt tương đối nghiêm trọng (vết nứt khoảng 5cm) và có dấu hiệu bị xâm thực (một phần do sắp tháo dỡ nên công trình không còn được chăm sóc thường xuyên nữa).
+ Phần sàn chưa thấy dấu hiệu lún ở các vị trí có tải trọng lớn như tháp chuông, các vị trí cột
+ Các chi tiết bậc cấp, bằng đá thanh bị chèn, lấp do thay đổi cao độ sân
– PHẦN NỘI THẤT:
+ Trần cuốn vòm bằng rơm, mật mía, có dấu hiệu bong, rộp và rơi rớt. Phần cửa không còn cửa nguyên gốc, thay vào đó là cửa bản gỗ đơn giản.
+ Tường trong: Xuất hiện nhiều mảng rêu mốc có diện tích lớn ở nội thất (nứt tường). Sàn còn rất đẹp, gần như còn nguyên gạch lát sàn, chưa bị ảnh hưởng
+ Cột gỗ lim và bệ đá chân cột: khả năng chịu lực còn tốt, các cột gỗ lim kích thước lớn, còn nguyên vẹn và có giá trị thẩm mỹ cao. Ngôi thánh đường đứng vững là nhờ những cột gỗ lim vững chắc đặt trên những bệ đá với những đường nét hoa văn mang dấu ấn theo lối kiến trúc Ba rốc đậm chất Tây Ban Nha. Những hình hoa ovan với nhiều chi tiết cầu kỳ là dấu ấn nhận biết ngôi thánh đường này. Nó xuất hiện từ những góc nhỏ của ô cửa sổ đến góc cao của trần thánh đường. Hình ảnh kết hối ba hình ovan vừa thể hiện đường nét ba rốc cổ kính vừa thể hiện nét Phương Đông tạo ra không gian đa dạng phù hợp với nơi chốn mà nó tồn tại. Trần thờ chủ yếu làm bằng vật liệu địa phương trong đó có dùng vôi rơm tạo những vòm cong thoáng nhẹ, phù hợp với khí hậu nhiệt đới miền Bắc (KTS. Cao Thành Nghiệp)
Tạm kết luận sơ bộ về hiện trạng Di sản: Không có dấu hiệu cho thấy công trình xuống cấp nghiêm trọng và không có khả năng chịu lực như thông tin mà Tòa Giám Mục đưa ra.
Công trình có kiến trúc rất đẹp, hoàn toàn có khả năng sửa chữa, trùng tu. Nhóm nghiên cứu hiện trạng đề nghị cho dừng ý định hạ giải công trình để đợi các chuyên gia di sản xem xét. Ngoài ra, biện pháp thi công phần trùng tu phải được công bố về phương pháp trùng tu.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRƯỚC MẮT:
– Nhà Thờ Chánh tòa Bùi Chu chưa được xếp hạng di tích, đề nghị Tỉnh Nam Định ra quyết định khẳng định đây là công trình có giá trị kiến trúc/lịch sử, văn hóa và đưa vào danh mục kiểm kê để được bảo vệ bằng Luật Di sản. Như vậy có thể tạm thời hoãn lại ngày khởi công phá dỡ.
– Các nhà báo có thể xin gặp UBND Huyện Xuân Trường yêu cầu cung cấp thông tin về việc xin trùng tu của Giáo Xứ (vì hiện nay Nhà Thờ mới chỉ công bố trên trang thông tin của Giáo phận Bùi Chu và cũng không công khai giấy tờ liên quan như giấy phép xây dựng, quyết định cho trùng tu… )
– Nhà thờ chưa hề công bố ý định thi công dự án mới? Trùng tu như thế nào? Đại tu là ở mức độ nào?…Vì vậy đề nghị Tòa Giám mục Bùi Chu cung cấp công khai những nội dung này.
THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC- KHÔNG PHÁ DI SẢN
Khi Việt Nam đã tham gia ký công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản, việc Di sản Nhà Thờ Chánh tòa Bùi Chu bị phá dỡ sẽ tạo nên “tiếng vang lớn”. Cả Thế giới sẽ nhìn cách chúng ta ứng xử với Di sản ở Bùi Chu giống như họ đã nhìn người Pháp ứng xử ngày 15.4 với Notre Dame De Paris để mà so sánh. Liệu Giáo xứ, Tòa Giám mục và cả chính quyền huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định có chịu được trách nhiệm này?
Di sản là tài sản Quốc gia cho dù đã nằm trong danh sách di sản hay chưa cũng không ai được động đến nếu không có những quyết định, cân nhắc từ phía các nhà chuyên môn. Di sản Nhà Thờ Chánh tòa Bùi Chu không còn là tài sản riêng của Giáo xứ hay của Tỉnh Nam Định mà chúng ta cần nhận thức rằng đó là tài sản của cộng đồng. Sẽ là tổn thất lớn, là sự mất mát không chỉ với tỉnh Nam Định mà với tất cả chúng ta nếu chúng ta cho đập bỏ di sản. Thời điểm này còn quá ít thời gian, rất cần một quyết định khẩn cấp, kịp thời của UBND Tỉnh, của cơ quan Bộ Văn Hóa để tạm thời hoãn hoạt động khởi công ngày 13.5 sắp tới. Chờ có những phân tích chuyên môn và đưa ra giải pháp bảo tồn Di sản này, cho dù có phải mất thêm thời gian. Mọi sự vội vàng sẽ có thể dẫn đến những sai lầm không thể sửa chữa được.
Mô hình nhà thờ mới. Ảnh: internet

Kỳ quặc, người đồng hương Lê Đức Anh của tôi

Kỳ quặc, người đồng hương Lê Đức Anh của tôi

Nguyễn Khắc Mai
30-4-2019
Ông quê ở Truồi, huyên Phú lộc, Thừa thiên. Tôi người huyện Hương Trà cùng tỉnh, thành đồng hương của nhau. Hơn nữa ở Truồi, tôi có người anh rể, lấy người chị con Bác ruột của tôi. Trong nhà tôi, mọi người gọi anh ấy là anh Khóa Truồi (Khóa sinh).
Người đồng hương của tôi có số phận rất kỳ lạ, tôi nghĩ là kỳ quặc. Ông học đến tiểu học, rồi đi làm “Cọp rằng” (caporal) cho một đồn điền cao su. Nhờ đó, ông biết cai quản, chỉ huy. Sau ngày 23-9, khi “Mùa thu rồi, ngày 23, ta ra đi theo tiếng sơn hà xao xuyến”, ông đưa cả đội công nhân của mình theo kháng chiến.
Ông đánh giặc, lập công rồi được cử làm tỉnh đội trưởng, mà ai cũng nghĩ là tỉnh đội trưởng nhất định phải là đảng viên. Mặc nhiên ông vào cấp ủy làm tư lệnh Khu IX (Trần Bạch Đằng kể cho tôi), chưa bao giờ được kết nạp đảng. Nhưng Tổng bí thư Đỗ Mười đã ký quyết định đặc cách, hợp thức hóa tư cách đảng viên của ông.
Tôi cũng có một người bạn, hồi kháng chiến hoạt động rất hăng hái, kể cả khi ở tù, anh được coi như đảng viên. Đi dạy, rồi về Đại học Sư phạm, anh được bầu vào đảng ủy. Sau anh bị xóa tên, anh không hưởng được ân huệ như ông Mười đối với 6 Nam (bí danh của ông Anh). Đó là điều kỳ thứ nhất, không cần kết nạp vẫn vào Bộ Chính trị.
Điều kỳ thứ hai mà tôi được biết, ông rất hăng hái đánh đuổi Pôn Pốt ở Campuchia, mà đó là sự chống Tàu rất tích cực! Vì Khơ me đỏ chính là con nuôi của Tàu Cộng. Chống Tàu hăng hái ông được thăng vượt cấp lên trung tướng, rồi đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Nhưng điều kỳ thứ 3, mới thật kỳ quặc. Khi ông ta trở cờ, quay lại thân Tàu Cộng, làm kẻ liên lạc giữa Nguyễn Văn Linh với đại sứ Tàu, dàn xếp để có cuộc “quy hàng Bắc thuộc Thành Đô”, ông được thăng chức, làm Chủ tịch Nhà nước.
Không ly kỳ sao được. Cứ mỗi lần ông bẻ quặt, thì leo lên một bậc thang danh vọng mới. Chống Tàu, được thăng tướng. O bế Tàu, đi đêm với Tàu, đẩy đảng Cộng sản và Nhà nước VN vào vòng nô dịch của Tàu, ông leo cao ngất ngưỡng. Nói ngất ngưỡng là nói ngôi vị của ông. Chứ về nhân phẩm, ông làm sao sánh được cái “ngất ngưỡng” của cụ Nguyễn Công Trứ!
Tôi viết vài lời ai điếu, tiễn người đồng hương của tôi về cửu tuyền.

Nên quy định thời gian… sống thực vật

Nên quy định thời gian… sống thực vật

Bá Tân
30-4-2019
Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của tự nhiên. Kẻ hành khất cũng như tỷ phú giàu nhất thế giới, vua ngự trị trên ngai vàng cũng như lính quèn đều “chơi chung” quy luật nghiệt ngã ấy.
Sống và chết là hai thế giới, cách nhau chưa đến một sợi tóc. Chỉ trong tích tắc, khi đã tận số, sự sống sẽ chuyển hóa thành cái chết, từ thế giới sống tạm chuyển sang thế giới vĩnh hằng. Mọi người đều có thời khắc đặc biệt ấy, hãy thanh thản đón nhận, hãy vui vẻ lên đường về với đất mẹ.
Dằng dặc chiều dài lịch sử nhân loại trước đây, kể cả trong sách viễn tưởng, chưa từng nghe chuyện sống thực vật. Lịch sử nhân loại luôn sòng phẳng và chuẩn mực, sống là sống, chết là chết, đúng với nguyên nghĩa của nó.
Sự đời, nhất là thời đoạn nhiễu nhương láo nháo, không thiếu những trớ trêu, thậm chí trái quy luật. Kể cả sống và chết cũng bị lạm dụng trắng trợn, cố tình đi ngược quy luật khách quan. Hiện tượng “sống thực vật” không chỉ là khái niệm trong tài liệu khoa học, mà trở thành sự vật phơi bày trong đời sống, gắn liền tên tuổi những thân chủ cụ thể.
Sống thực vật là cách thoi thóp cưỡng ép, trái quy luật. Dùng phương tiện y dược hiện đại cưỡng ép các bộ phận con người đã ngừng hoạt động phải “sống” như cỗ máy rệu rạo lay lắt.
Sống thực vật là kéo dài sự ngắc ngoải về thể xác, đời sống tinh thần hoàn toàn là con số không. Thiết bị y tế cho dù cực kỳ hiện đại chỉ có thể “cứu vớt” phần con, còn phần NGƯỜI thì không và không thể.
Tăng thêm một đoạn phần con, còn phần NGƯỜI là con số không, đó là “chỉ tiêu” của sống thực vật, lay lắt vô hồn như thế đáng sống hay không. Những ai bất chấp quy luật, sống theo kiểu đó, đủ biết họ là người như thế nào.
Dân chúng vừa không có nguyện vọng, vừa không có điều kiện sống thực vật. Nếu có, chỉ là cá biệt, vì lý do tế nhị (chờ thêm mấy ngày đợi người thân ở xa…). Sống thực vật chủ yếu là “sân chơi” của một số quan chức, họ vừa có quyền, vừa lắm tiền, tham sống, sợ chết. Một số bệnh viện trọng điểm, tại khu vực phục vụ sống thực vật, danh tính đều là những “thương hiệu mạnh”, ở đó đố tìm ra người dân bình thường,
Có những quan chức (dù đã nghỉ hưu) đến bệnh viện sống thực vật kéo dài dằng dặc tháng nọ sang tháng kia, thậm chí dầm dề qua nhiều năm. Phục vụ đối tượng sống thực vật không chỉ tốn kém thuốc men, điều quan trọng hơn là làm hao tổn nguồn nhân lực trình độ cao của ngành y tế. Nếu không “sa lầy” vào những ca sống thực vật, thầy thuốc trình độ cao có thêm cơ hội đem lại sự sống đúng nghĩa cho những người chưa đến lúc chết (tránh được những ca chết oan nhờ được cứu chữa kịp thời).
Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cao cấp, phải luôn gương mẫu để dân noi theo. Gương mẫu trong cuộc sống thường ngày, kể cả lúc chết (cách chết) cũng phải gương mẫu. Là quan chức, nhất là quan chức cỡ bự, kéo dài triền miên sống thực vật là nêu gương xấu, gây phản cảm, bị dư luận xã hội mỉa mai chê trách.
Tốt nhất là tự nêu gương, đó là cách phòng bệnh hữu hiệu nhất. Để ngăn chặn tình trạng lạm dụng chức quyền, trơ lỳ, không chịu nêu gương, trung ương nên đưa ra quy định về vấn đề sống thực vật.
Quan chức đương thời nên tìm đọc và cố gắng ảnh hưởng vị quan lẫy lừng Giang Văn Minh. Bị triều đình phong kiến Trung Quốc hãm hại, sau khi đưa thi hài về nước, Giang Văn Minh được vua đương thời tặng câu thơ để đời:
Ai cũng sống, sống như ngươi thật đáng sống
Ai cũng chết, chết như ngươi, chết như sống.